Nguyễn Kỳ Dzương: NHỮNG PHẦN ĐỜI CỦA ĐỊNH MỆNH (16)

PHẦN MƯỜI SÁU: PHẦN ĐỜI CÓ BÌNH MINH

Một hôm, ông chủ ghe về Cần Thơ họp với các trưởng toán, cho biết là mọi người phải nhắn khách xuống Cần Thơ để trong hai ngày nữa sẽ khởi hành. Tôi vội vàng nhắn khách của nhóm tôi, và dĩ nhiên, nhắn vợ con tôi xuống. Mặc dù chưa thanh toán tiền cho ông chủ ghe nhưng tôi cứ nhắn vợ con xuống, tìm cách năn nỉ ông chủ ghe sau. Khi vợ tôi xuống thì cũng có được ba cây vàng. Cả hai gia đình vơ vét, bán hết đồ trong nhà mới gom đủ ba cây. Tôi đưa ba cây vàng cho ông chủ ghe, trình bày hoàn cảnh. Tôi và ông làm việc với nhau đã đủ lâu để chúng tôi hiểu tâm tính của nhau. Ông cầm lấy vàng, không đòi thêm.

Từ lúc đó, mỗi khi di chuyển, tôi nhìn vợ tôi và cô nàng hiểu ý, dắt hai con đi theo, giữ khoảng cách xa xa. Chúng tôi mua đầy một con thuyền nhỏ những loại rau quả linh tinh, chất đầy khoang trước của ghe. Các ghe khác cũng trang bị xong. Chúng tôi nối đuôi nhau đi trên sông. Thỉnh thoảng, làm bộ ghé vào chợ chào hàng, thực ra để xuống chợ mua thức ăn trong ngày cho mọi người trong ghe. Ghe chạy hai ngày mới về tới Cà Mau. Ông chủ ghe xuất hiện, cho biết mọi thứ có vẻ thuận lợi, không phải lo.

Buổi tối hôm đó, ông cho lệnh xuất phát. Ông không đi trên ghe với chúng tôi, nói ông sẽ đi ghe khác. Chúng tôi được một ghe nhỏ, máy rất mạnh, chạy rất nhanh, dẫn đường ra cửa biển. Lúc đó, chúng tôi vứt hết số rau quả còn trên ghe cho nhẹ, để có thể theo kịp chiếc “taxi” kia. Chúng tôi kiểm lại số nước uống trên ghe. Cảm thấy không đủ nên thả gầu xuống múc nước lên đổ vào mấy cái “can” nhựa. Chúng tôi cứ theo nhau như vậy, len lỏi đi trong sông. Trời đã tối lắm. Lúc khoảng 2 giờ sáng thì chúng tôi ngừng lại. Anh chàng lái ghe nhỏ cho chúng tôi biết là cứ ém “quân” ở đây một lúc, chờ anh đi liên lạc với ghe lớn. Nói xong, anh phóng vụt đi.

Anh chàng này có lẽ quen việc lắm nên rất nhanh nhẹn, rành rõi đường đi trên sông. Một chút xíu sau thì anh trở lại, gọi chúng tôi theo sau. Anh dặn là phải theo đúng đuôi sóng của chiếc ghe của anh. Nếu đi trật, có thể vướng vào “đáy” (lưới) người ta cắm trên mặt biển, sẽ khó gỡ lắm. Chúng tôi cố căng mắt trong màn đêm để theo anh cho kịp. Khoảng bốn giờ sáng thì chúng tôi thấy anh taxi chạy chậm lại, anh xoẹt mấy ánh bật lửa. Ngoài kia, chắc là trên ghe lớn, cũng có mấy tia sáng xoẹt xoẹt trong màn tối mù mịt. Anh taxi lại ra hiệu cho chúng tôi theo. Khi đến gần  chiếc ghe lớn, anh ghé lại. cặp vào ghe chúng tôi nói:

– Anh chị, bà con có còn tiền Việt thì cho tôi xin, bây giờ ra cửa biển rồi, tiền Việt đâu có ý nghĩa gì nữa. Chúng tôi cũng thấy cơ hội trước mắt rồi nên cũng không tiếc anh chàng này. Tất cả mọi người moi móc trong túi, trong giỏ, còn bao nhiêu tiền, đưa hết cho anh đó. Anh chàng chỉ đợi có thế, phóng vụt đi mất. Chúng tôi cặp vào ghe lớn, đàn bà trẻ em leo lên trước. Chúng tôi leo lên sau. Khi mọi người leo lên ghe lớn rồi mới biết là anh chàng lặng lẽ lái ghe nhỏ cho chúng tôi từ trong sông đi ra, không leo lên đi với chúng tôi. Anh ta cũng không xin xỏ gì, lặng lẽ quay mũi ghe vào, trở về. Trên ghe lớn, không ai có thì giờ kiểm soát xem toán mình ra tới nơi chưa, leo lên ghe chưa. Ghe đã nổ máy, ra khơi.

Anh chàng tài công nói chúng tôi xuống hầm hết để không bị nghi ngờ. Trời đã gần sáng rồi. Anh chàng thấy tôi tần ngần không xuống hầm theo vợ con tôi. Anh hất hàm nói:

– Ê, anh này, anh có nghe tôi nói xuống hầm hết không? Tôi hơi bất bình vì thái độ của anh đối với tôi.

Có lẽ vì trời còn tối quá, anh chàng không trông rõ sự cách biệt tuổi tác với tôi. Tôi trả lời:

– Ông chủ ghe nói tôi làm thuyền trưởng, kiểm soát trật tự trên ghe. Tôi mà xuống dưới thì ai trách nhiệm trên này? Anh chàng không nói gì thêm. Tôi ngồi cạnh anh trong khoang lái, quan sát. Được một lúc, có lẽ ghe đã chạy ra khỏi cửa biển an toàn. Tôi hỏi anh:

– Ghe mình có bản đồ, địa bàn không? Anh nói “có, trong hộc đó”.

Anh chỉ tay cho tôi lấy ra. Tôi lấy ra được một cái địa bàn lớn, và một tờ bản đồ. Tôi nói anh bắt đầu dán bản đồ lên và dùng địa bàn, định hướng bản đồ. Anh này có vẻ ngạc nhiên, tại sao tôi lại “ra lệnh” cho anh ta. Anh nói:

– Anh biết thì anh làm đi. Tôi lẳng lặng đóng tấm bản đồ xuống mặt “bàn”. Để cái địa bàn vào giữa bản đồ. Quay quay để tìm hướng. Anh tài công quan sát, có vẻ hài lòng. Tôi cho bản đồ và địa bàn cùng hướng với nhau xong, tôi nói:

– Bây giờ, anh cứ ráng giữ hướng này mà đi, từ Cà Mau, lấy 250 đến 270 độ là đến Thái Lan. Anh chàng không trả lời.

Bây giờ, có lẽ ghe đã bắt đầu ra khỏi cửa biển, sóng càng ngày càng mạnh hơn. Đây là lúc tôi ngoái cổ lại, nhìn thấy một dải đất màu trắng mờ mờ trong ánh sáng chênh vênh của sương sớm. Tôi biết đây là dải đất cuối cùng của quê hương tôi. Đây có lẽ là lần cuối cùng trong cuộc đời, tôi còn nhìn thấy quê hương.

Ghe đi được một lúc nữa, trời đã có những ánh nắng nhợt nhạt và ánh bình minh bắt đầu ló dạng. Tôi nhìn mà hết hồn. Trong đêm, chưa nhìn thấy biển cả, chỉ thấy một màu đen như có ai bịt mắt. Bây giờ nhìn thấy đại dương lần đâu tiên, sao nó rộng lớn mênh mông đến như vậy? Thân phận con người trước hoàn cảnh này mới thấy mình quá bé nhỏ. Nhìn quanh, chỉ một màu nước biển xanh thẫm, không còn thấy bờ bến đâu nữa. Sóng càng xô mạnh vào mạn thuyền. Nhiều người đã tự động chui lên từ dưới khoang thuyền, ói mửa hàng loạt. Ói mửa xong thì cũng nằm sóng xoài trên khoang trước của ghe. Đuổi họ cũng không xuống nữa. Họ nói, ở dưới đó nồng nặc mùi dầu hôi và đã có nhiều nước tràn vào thuyền. Tôi nhảy xuống, thứ nhất là để xem vợ con tôi thế nào, thứ hai là để đốc thúc thanh niên trẻ tát nước dưới lòng ghe. Một ông khách có vẻ cũng lớn tuổi hơn đám trẻ, cứ ỳ ra đó, không chịu tham gia tát nước. Tôi nói với ông:

– Nếu anh không tham gia tát nước với đám trẻ, lát nữa ghe chìm thì anh cũng chết. Trước khi ghe chìm, tất cả chúng tôi đều chết, tôi sẽ là người thảy anh xuống nước trước.

Ông ta miễn cưỡng ngồi dậy, chuyền những gầu nước từ tay anh em, chung vai đổ nước ra ngoài.

Tôi thấy thuyền có vẻ chòng chành, chạy trở lên khoang lái thì thấy chính anh “tài công” cũng ói mửa, nằm vật vã dưới sàn. Tôi đẩy anh sang một bên, nhảy vào thay anh cầm lái. Cái bánh lái của chiếc thuyền này không phải là cái “vô lăng” có nhiều cái tay nắm chĩa ra ngoài như ở các thuyền lớn. Ở đây, người lái phải với tay ra sau lưng, điều khiển cái cần lái dài, chuyền ra sau, móc với bánh lái ở dưới nước.

Tôi cố giữ lại thăng bằng cho chiếc ghe xong thì nhờ chú thanh niên đứng gần (anh chàng phụ máy) giữ bánh lái cho tôi. Tôi với tay lấy cái bịch nylon tôi mang theo, trong đó đựng gạo sấy, tôm khô, và một sợi dây dù dài. Tôi nói chú phụ máy tìm cho tôi cái búa và mấy cây đinh. Tôi lấy dây dù buộc chặt chung quanh người xong, dùng búa, đinh đóng chặt hai đầu dây vào khoang thuyền. Tôi nói với chú phụ máy:

Tôi phải buộc người tôi vào thế này chứ nếu mà sóng lớn hất tôi xuống biển thì cả ghe này sẽ chết. Tôi còn sống thì mọi người sẽ sống. Chú phụ máy, chú Thảo, nghe xong nức lòng giúp tôi mọi thứ. Anh chàng xưng là “tài công”, theo ông chủ ghe quảng cáo với tôi lúc ở trên bờ là: Đã tuyển được một tài công, trước đây là một “Hải Quân Trung Úy”, thuộc lòng đường đi biển từ Cà Mau sang Thái Lan! Hóa ra ông “hải quân trung úy” giờ này nằm sóng sượt như đã chết rồi vậy!

Chiếc ghe cũng cứ “phành phạch”, nhẹ nhàng (nhưng chầm chậm) lướt sóng. Khi trời sáng bạch thì ghe chúng tôi đã đi được khá xa bờ. Không có một dấu chấm nào trên đường chân trời. Phải nói thêm là trong đời tôi chưa bao giờ cầm lái một chiếc ghe, chạy trong sông cũng chưa, nói gì chạy ngoài biển như thế này. Cũng may, tới giờ này thì biển vẫn êm, sóng cũng giảm độ mạnh, không như lúc mới ra khỏi cửa biển.

Ghe chạy một lúc nữa thì tiếng máy “ho” hù hụ. Anh chàng Thảo nói tôi tắt máy để anh lặn xuống xem chuyện gì xảy ra. Nhân lúc này, vợ tôi từ dưới khoang chui lên, đưa cho tôi mấy miếng củ đậu.

– Tìm mãi mới mò được mấy miếng củ đậu này, gọt sẵn rồi. Anh ăn lấy sức. Tôi vừa khát nước, vừa đói, cắn ngay một miếng lớn, tôi lập tức phun ra vì miếng củ đậu này “tẩm” đầy mùi dầu ghe máy. Vợ tôi nói, ở dưới đó, cái gì cũng tẩm đầy mùi dầu như vậy! Đành phải nhắm mắt mà ráng nuốt vậy.

Chú Thảo ngoi lên, cho biết là “chân vịt” bị cuốn đầy rong rêu, rác rến, lá dừa từ trong sông nên không quay được. Bây giờ thì em đã cắt hết, nó quay được rồi. Anh thử xem sao? Máy lại nổ. Con thuyền Định Mệnh vẫn chòng chành chạy được. Đêm thứ hai trên biển tương đối êm ả. Khi thấy một ngọn đèn đỏ chớp chớp ở xa, bà con trong ghe cứ đòi chạy về hướng đó, biết đâu đó là giàn khoan dầu của nước ngoài? Tôi do dự nhưng cuối cùng cũng phải chiều mọi người. Chiếc đèn đỏ đó cũng đang chạy về phía chúng tôi! Như vậy là không phải dàn khoan dầu rồi. Bây giờ có chạy cũng trễ vì chiếc thuyền kia cao, lớn, và lướt sóng nhanh vô cùng. Gần đến chúng tôi, trên ghe nổ một loạt súng, ra lệnh chúng tôi ngừng lại. Hóa ra, đây là bọn cướp biển Thái Lan. Bọn cướp này thực ra không phải là người Thái. Chúng nó người Mã Lai, sống ở một làng chài sát biên giới Thái/Mã Lai. Chúng quấn “xà rông”, đeo những chuỗi hạt quái dị trên cổ. Mặt mũi bặm trợn. Bọn cướp thả một cái thang dây xuống, bắt chúng tôi theo nhau leo lên ghe của chúng. Tôi còn kịp nói với mấy anh em trẻ:

– Nếu chúng hỏi “tài công” hay “thuyền trưởng” đâu thì đừng chỉ tôi. Chúng vứt tôi xuống biển thì không ai tiếp tục lái ghe.

Chúng tôi đã leo lên ghe của bọn cướp biển. Ghe của chúng lớn vô cùng. Chúng tập trung tôi trên boong trước. Chúng lấy một sợi dây thừng căng giữa sàn. Một tên cầm cái sô bằng tôn, một tay cầm một khẩu súng nhỏ, khoác khoác tay, bảo chúng tôi bỏ vàng, đồng hồ, dây chuyền, tiền bạc vào cái sô đó, xong đi sang bên kia sợi dây thừng.

Trước khi xuống ghe ở Cần Thơ, vợ tôi có lấy kim băng cài một nhẫn vàng một chỉ vào lưng quần thằng con trai lớn của chúng tôi. Trên ghe cướp biển, tôi làm bộ xỉu, nằm lê lết trên sàn. Tôi nhìn hai thằng con trai tôi, ra hiệu cho hai đứa lẳng lặng bò sang bên kia sợi dây thừng. Bọn cướp không để ý hai đứa trẻ nhỏ. Hai đứa con tôi bò sang bên kia an toàn. Sau khi lục soát hết mọi người trên ghe, chúng ra hiệu cho chúng tôi trở về thuyền của mình. Mọi người trở về thuyền an toàn, mới biết là đã có thằng cướp xuống ghe, lục soát hết mọi thứ. Chúng lấy đi cái máy “đuôi tôm” chúng tôi cài bên cạnh ghe, chọc thủng hết các thùng dầu dự trữ để tìm vàng có thể dấu trong đó, vứt hết địa bàn và bản đồ của chúng tôi xuống biển.

Chúng thòng xuống ghe cho chúng tôi một nồi cháo trắng lớn và một vài con cá khô, xong chúng chỉ chúng tôi đi hướng đó…Tôi liếc mắt tìm sao Bắc Đẩu thì biết ngay, hướng đó là đi ra biển, trong khi chúng tôi đang muốn đi vào bờ. Tôi đợi cho chúng chạy khuất rồi quay mũi ghe đi theo hướng định đi. Tôi nói với bà con là từ bây giờ trở đi, lái theo hướng nào là quyết định của tôi, không đuổi theo đèn đỏ nào hết. Mọi người im lặng. Cũng may một điều là bọn cướp chỉ chủ trương lục soát, lấy của cải vật chất. Chúng không làm hại ai, không bắt cóc ai theo chúng như những truyện chúng tôi được nghe. Bây giờ tôi chỉ còn lái ghe bằng kiến thức đi biển học được trong tù. Ghe vẫn đang trôi êm đềm.

Đến gần sáng thì một trận bão hay biển động vì lý do gì tôi không biết. Chiếc ghe của chúng tôi lúc thì bị đội lên đỉnh sóng, nhìn xuống hai bên thì nước sâu như trên lầu ba nhìn xuống. Lúc ở dưới chân sóng, nhìn lên thì hai bên bờ nước cao bằng năm lần chiếc ghe của chúng tôi. Tôi nghĩ bụng, nếu luồn dưới chân sóng mà đi thì may ra thoát, chứ nếu đi xuôi theo luồng sóng thì nó lật úp ngay. Chống cự với sóng như vậy trong một thoáng, chắc chỉ độ 10 phút, thì biển đêm lại êm trở lại. Không thể hiểu nổi đó là hiện tượng gì. Cứ thế mà trời sáng dần trở lại. Trời sáng thì có nỗi sợ khác: Biển mênh mông, không bờ, không bến nào. Nhân lúc trời yên gió lặng, tôi cho vợ con tôi lên trên khoang với tôi, hít thở không khí trong lành.

Nhân lúc biển êm, nhiều người đã “tranh thủ” làm những việc cần thiết! Nồi cháo của bọn cướp cũng đã được thanh toán hết. Có người tình nguyện nấu cơm cho mọi người ăn. Sờ đến bịch gạo thì hỡi ôi, nó thấm đầy nước biển lẫn với dầu máy! Từ hôm qua đến nay, tôi cũng chỉ mới “cạp” được mấy miếng củ đậu, chưa có thêm gì vào bụng.

Trời tối dần. Lại một nỗi lo sợ mới. Tuy vậy, nhờ trời, hôm ấy biển rất êm. Có một đàn cá heo, hình như gặp ghe chúng tôi, đàn cá có vẻ dzui lắm. Nó đua nhau nhảy lên mặt nước đùa với chúng tôi. Chúng húc rầm rầm vào thành ghe và như muốn “chạy đua” với chúng tôi. Cũng vui được một lúc thì đàn cá cũng tản đâu mất hết, trả lại sự yên lặng của mặt biển.

Khi tôi nói về một nỗi lo sợ mới ban ngày: đó là khó đoán phương hướng. Mặt trời thì chói chang, cứ phải lấy một cây gậy, cột cho đứng giữa khoang thuyền, nhìn theo bóng của nó mà đọc phương hướng. Cũng may là không có gió lớn, chứ nếu có, với độ dạt của gió thì lại phải biết đọc hướng và trừ hao khoảng cách dạt của gió. Tôi vẫn buộc chặt người vào khoang lái. Trời ban ngày nóng quá mà không dám cởi áo vì vết thẹo dài trên ngực, kết quả của đòn thù của thằng Dũng vệ binh. Một ngày nữa sắp tàn. Mặt trời chuẩn bị “lặn” xuống biển, hắt ra những tia nắng đỏ cuối cùng của ngày.

Anh chàng “tài công” giờ thì đã tỉnh táo nhưng tuyệt đối không có ý muốn giúp tôi cầm lái. Chú Thảo cũng khinh hắn ra mặt nhưng anh chàng tài công cũng đành phải làm mặt lỳ ra thôi. Thảo bây giờ thay tôi làm trật tự. Chú cầm can nước đi rót cho từng người theo một số lượng cố định, không phung phí. Gọi là nước “ngọt” nhưng loại nước mà chúng tôi thả gầu xuống sông múc lên, lúc sắp ra cửa biển nên thật ra là nước lợ, pha trộn giữa nước sông và nước biển. Có còn hơn không!

Đêm thứ ba lênh đênh trên biển đã bắt đầu. Thỉnh thoảng, chúng tôi thấy những ngọn đèn đỏ chớp chớp ở xa xa nhưng không ai đòi lái về hướng đó. Mấy can nước cũng vơi dần. Cũng nhờ ban đêm không nóng nên cũng không khát nước như ban ngày. Chắc lúc đó khoảng bốn giờ sáng, chúng tôi thấy một ngọn núi mờ mờ trong đêm. Ở dưới chân núi cũng có một bóng đèn đỏ chớp chớp nhưng chúng tôi vẫn chạy vào hướng đó vì có ngọn núi tức là sắp đến đất liền. Độ 5 giờ sáng thì ngọn núi hiện ra rõ thêm. Ngọn đèn cũng phát ra từ một cột ăng ten sắt cao. Chúng tôi cảm thấy như là sắp sống lại. Càng gần bờ thì chúng tôi thấy một đám người lố nhố, vẫy chúng tôi vào. Gần hơn nữa thì nghe họ gọi bằng tiếng Việt! Anh em trên ghe nói:

– Ông ơi, ông lái làm sao mà trở về Vũng Tàu rồi. Tôi nghe cũng điếng cả người, nhưng ngẫm nghĩ lại: theo góc độ mà tôi lái ba ngày nay, thì đây không thể là Vũng Tàu được, mặc dù trông ngọn núi mờ mờ trong sương sớm, cộng với cái cột đèn ăng ten cao nữa, trông giống Vũng Tàu thật. Khó hiểu quá.

Khi trời sáng hẳn thì chúng tôi nhận ra những người trên bờ đang vẫy tay gọi chúng tôi vào đều ăn mặc như người Thái, tức là đàn ông, đàn bà gì cũng mặc “xà rông”. Như vậy, đây là bờ biển Thái Lan rồi. Tôi cho ghe đâm thẳng vào bờ. Những thanh niên, trai tráng nhảy xuống trước, phụ đỡ đàn bà trẻ em xuống sau. Tôi thấy vợ con an toàn ở dưới rồi tôi mới nhảy xuống.

Ngay sau đó, cảnh sát Thái đến. Họ tập trung chúng tôi vào một chỗ, bắt đầu lấy lý lịch và lập thủ tục. Tôi sung sướng và hãnh diện khai tên thật của tôi! Cũng chỉ một lúc sau thì một anh Cao Ủy Tỵ Nạn đến. Anh ấy mang cho chúng tôi một ít nồi, xoong, chảo, và mấy bao gạo. Một số đồng hương đã đến đây trước mang nước ngọt, nước đá ra tiếp tế chúng tôi. Ôi, Đức Mẹ ôi, sao một ly cô ca và nước đá lạnh có thể ngon đến như vậy? Bình tâm trở lại, anh chàng Cao Ủy đến nói chuyện với tôi. Anh hỏi tôi cần gì nữa không? Tôi kéo anh ra một chỗ, hỏi anh giúp tôi đánh điện về cho gia đình tôi ở Việt Nam được không? Anh nói “Được”. Tôi thảo ngay một bức điện ngắn, đưa cho anh. Anh chào tôi và hứa ngày mai trở lại.

Đây là giải đất cực Nam của Thái Lan, trước khi sang bên kia biên giới Mã Lai. Vùng đất này có tên là Narathiwat. Đã có 5 ghe khác đến vùng đất này trước chúng tôi. Họ cho biết đây là một trại tỵ nạn bán chính thức. Cảnh sát địa phương hay vào làm tiền. Ai có tiền thì có khi còn được hộ tống ra phố mua bán lặt vặt. Có vài người Hoa có lẽ có tiền, hay ra phố mua mì gói, cà phê về bán lại cho bà con trong trại ăn thêm, bên cạnh những thức ăn Cao Ủy cung cấp.

Năm người chủ ghe đến trước chúng tôi họp thành Ban Đại Diện trại, tiếp xúc với ông Cao Ủy mỗi khi ông xuống. Từ khi ghe chúng tôi vào trại, ma mới cũng hay bị ma cũ bắt nạt, đành chịu lép vế. Hai hôm sau, anh Cao Ủy (người Singapore) trở lại. Anh ôm theo một thùng giấy, trong đó có dép “Nhật”, quần áo, một ít thuốc tây chữa cảm cúm…Anh họp tất cả các chủ ghe cũ lại, giới thiệu tôi là chủ ghe mới. Anh tuyên bố với tất cả mọi người:

– Kể từ hôm nay, khi tôi đến đây, các ông không cần gặp tôi nữa. Tôi chỉ nói chuyện với ông này (chỉ tôi) và nếu có lệnh mới, ông này sẽ nói lại với các ông.

Tôi cũng không hiểu vì sao tôi được chú ý đặc biệt như vậy. Có lẽ vì khả năng sinh ngữ của tôi chăng? Khi nói chuyện với nhau, chúng tôi hiểu nhau rành mạch. Cũng kể từ hôm đó, các ông chủ ghe cũ hay mời tôi ăn sáng, uống cà phê với các ông. Chúng tôi không bị nhìn bằng cặp mất khinh khi nữa. Trong hộp dép Nhật mà anh Cao Ủy mang vào cho tôi hôm trước, chỉ có hai chiếc dép cùng bên “phải” vừa chân tôi. Đành phải lấy mà đi vậy!

Hơn một tuần sau, anh chàng Singapore trở lại. Anh cho tôi biết là bức điện tín đã được gửi đi ngay hôm tôi mới vào bờ, anh đã quên không nói với tôi. Anh cho biết là sáng mai, sẽ có hai ghe được chở vô trại tỵ nạn chính ở Songkhla. Tôi thông báo cho các ghe kia. Mọi người háo hức mong chờ ghe mình được gọi ngày mai. Họ ăn uống tưng bừng tối hôm đó, mặc dù chưa biết ai đi, ai ở. Ghe chúng tôi mới vào trại được hai tuần nên biết thân phận mình, cũng phải đợi vài tháng nữa nên mọi người ăn cơm xong, đi ngủ ngay.

Sáng ra thì đã thấy một đoàn xe đò Thái xếp hàng ngoài trại. Anh chàng Cao Ủy gặp tôi, đưa danh sách hai ghe sẽ lên đường hôm nay. Nhìn vào danh sách, tôi tá hỏa, hô anh em trong ghe của tôi chuẩn bị, sắp xếp đồ đạc, hôm nay lên đường. Một chiếc ghe khác cũng được đi cùng chúng tôi. Các ông chủ ghe kia buồn rười rượi. Tôi gặp và phân bua với các ông là tôi không có ý xin đi trước. Đây hoàn toàn là quyết định của ông Cao Ủy. Hình như không ai muốn tin lời phân bua của tôi. Họ nhìn tôi hằn học.

Đoàn xe chở chúng tôi mất cả ngày đường mới tới Songkhla. Trại cho đón chúng tôi. Một số anh em trật tự trại cầm sẵn gậy gộc, chuẩn bị “chào đón”. Nếu nhận diện được tên việt công nào trà trộn trong số những “thuyền nhân” mới vào trại thì sẽ được chào đón tận tình – như chúng đã từng làm với người Miền Nam khi mới vào “giải phóng”!!!

Hình trên là tấm hình gia đình chúng tôi do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UN HCR) chụp để làm thủ tục nhập trại và rồi sẽ được đi định cư ở một đệ tam quốc gia. Tác giả, người chồng/cha trong gia đình trông gầy còm, ốm yếu vì vừa trải qua 5 năm trong lao tù cộng sản, trốn trại và vượt biên sang được đến đây. Hình chụp 44 năm trước khi tôi bắt đầu đặt bút viết tập hồi ký này, có khi trông còn già, còn hom nhem hơn bây giờ nữa? Khổ thật!

Lúc chúng tôi vào trại tỵ nạn Songkhla thì đã có khoảng 13 ngàn người Việt, phần đông là “thuyền nhân” và một ít người được chuyển đến từ các trại dành cho người trốn khỏi Việt Nam bằng đường bộ. Sau khi “chiếm” được một khoảng “đất” trên bờ biển làm chỗ ở trong khi chờ đợi được dọn vào trong lều plastic, gia đình chúng tôi sống trong cảnh “màn trời, chiếu đất” mất mấy tuần. Tôi tình nguyện vào giúp việc trong Ban Thông Dịch và Thủ Tục của trại. Tôi gặp lại anh bạn Hàn Bỉnh Quang, thời VNCH là giáo sư dạy Anh Văn trong trường Sinh Ngữ Quân Đội. Anh ân cần giới thiệu tôi với anh trưởng ban Thông Dịch hiện tại. Tôi có vẻ được “trọng dụng” hơn một chút. Chỉ sau một tuần, anh trưởng ban, anh Lãm, được sang Mỹ định cư. Tôi lên thay thế, làm trưởng ban.

Anh bạn Cao Ủy Tỵ Nạn người Singapore thỉnh thoảng cũng có ghé thăm tôi trong trại. Các anh em khác trong ban ngạc nhiên lắm vì một ông Cao Ủy “quyền hành toàn cõi” Đông Nam Á như vậy mà lại quá thân thiết với tôi. Trong chức vụ, tôi được làm việc nhiều với các phái đoàn ngoại quốc đến để cứu xét hồ sơ cho bà con Việt Nam đi tỵ nạn. Các phái đoàn đặc biệt quý mến tôi. Họ đưa giấy tờ chuẩn thuận sẵn, nói tôi lúc nào muốn đến định cư tại quốc gia của họ thì chỉ việc ra Bangkok trình giấy thì sẽ được đi. Họ đại diện các nước Pháp, Canada, và Thụy Điển. Ý tôi vẫn muốn chờ phái đoàn Mỹ nên cứ nhận giấy tờ của họ nhưng chưa muốn quyết định.

Cơ hội làm việc với phái đoàn Mỹ đã đến: Anh chàng trưởng phái đoàn được bà con ở đây gọi là “thằng gà đá” vì hồ sơ xin tỵ nạn ở Mỹ đến tay của anh rất dễ bị bác. Trên hai cánh tay của anh ta có xâm hình hai con gà trống! Tôi chắc anh chàng này là một sĩ quan CIA cao cấp, rất giỏi tiếng Việt, nhưng vẫn hay giả vờ là không biết, vẫn phải nhờ một cô thông dịch viên người Việt đi theo.

Tôi khai lý lịch của tôi bao gồm thời gian phục vụ trong Không Lực VNCH, 5 năm trong ngục tù cộng sản, trốn trại và vượt biên sang được đến đây. Tôi không quên nói về 3 năm tôi làm việc cho cơ quan USAID tại Sài Gòn. Ông trưởng phái đoàn đã phỏng vấn hàng ngàn người trước tôi nên ông cũng “rành sáu câu” nên ông không hỏi thêm. Duy chỉ có chi tiết tôi đã từng làm việc cho USAID thì ông nói ông sẽ về kiểm chứng với Washington D.C., nếu đó là sự thực thì ông sẽ giúp tôi. Hai ngày sau, ông trở lại, tươi cười nói với tôi là ông đã gọi về USAID và họ xác nhận những lời khai của tôi là đúng. Ông đóng mộc chấp thuận cho gia đình chúng tôi vào định cư ở nước Mỹ. Ông nói tôi phải đợi đến đợt sắp tới, khi có đủ số người đi định cư, họ sẽ thuê một máy bay chở chúng tôi đi. Chỉ hai tháng sau, gia đình chúng tôi đã đáp xuống phi trường Oakland.

Tác giả cùng vợ và hai con trai vừa ra khỏi trại tỵ nạn, bay từ Bangkok đến phi trường Oakland,

Tháng Chín, năm 1980

Tôi đang lơ mơ nghe nhạc từ máy iPad của tôi. Máy phát ra một bài hát do Trần Thái Hòa, Thế Sơn, và Lam Anh trình bày. Bài hát mang tên “Belle”, tựa đề Việt và lời Việt là “Thằng gù nhà thờ Đức Bà”, phỏng theo tiểu thuyết cùng tên do đại văn hào Victor Hugo, người Pháp, viết năm 1831, đã được quay thành phim với nhiều ấn bản khác nhau. Phim mà tôi được xem ở Sài Gòn (hình như năm 1960) do Gina Lollobrigida và Anthony Quinn thủ hai vai chính.

Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà (Belle)

Nàng là một nhan sắc tuyệt thế giữa nhân gian.

Nàng là bông hoa mỹ miều hóa công đã ban tặng!

Ôi! Như cánh chim tuyệt vời giữa xuân ngời rực rỡ khung trời!

Tôi thấy đang mở rộng dưới chân mình địa ngục tăm tối!

Hồn tôi đắm đuối với nét khoe tươi gợn trên áo nàng!

Ngàn muôn giáohuấn, tín ngưỡng, đứctin bỗng dưng phaitàn!

Ai? Nào ai dám nói đứng trước dung nhan nàng không rung động?

Là đang nói dối, giấu diếm con tim khát khao vô vọng!

Tôi ước ao một lần bước chân thật gần đến bên nàng!

Đan ngón tay vào dòng tóc êm đềm tựa suối thiên đàng!

Nghe đến đây, tôi giật mình. Hồn tôi ngước lên, thấy nàng Esméralda, tuyệt thế giai nhân như trong mộng của tôi, đứng trên đồi vẫy tôi lên. Tôi cố leo lên mãi mà không với được tới nàng. Nhìn xuống, tôi thấy anh gù Quasimodo, mà cũng chính là tôi, đang gục chết bên dòng suối. Tôi nghĩ bụng: Không thể được! Không thể được! Tôi còn phải về với gia đình tôi. Hồn tôi cố gắng bay xuống. Tôi chạm vào thân xác tôi. Tôi tỉnh dậy. Đây là cô nàng Esméralda hay là Đức Mẹ đang vẫy gọi tôi? Tôi không rõ.

Chính cảm giác này đã khiến tôi trỗi dậy, ý muốn viết lại tập hồi ký này, kể từng chi tiết trong các phần đời của định mệnh của tôi – đã trở nên mãnh liệt hơn cả những lời khuyến khích của các bạn tôi.

Tôi ngồi xuống, hối hả gõ vào bàn phím….

Hình chụp (hai năm sau khi được định cư ở Hoa Kỳ) cùng vợ và hai con trai trong lễ tốt nghiệp văn bằng Cao Học chuyên khoa Giáo Dục (M.Ed.) từ viện đại học University of San Francisco, viện đại học danh tiếng nhất thành phố SFO được các linh mục Dòng Tên thành lập năm 1885. Lúc đó, mới sang Mỹ, chưa có bạn nên không có ai đến chúc mừng!

Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3 Kỳ 4 Kỳ 5 Kỳ 6 Kỳ 7 Kỳ 8 Kỳ 9 Kỳ 10 Kỳ 11 Kỳ 12 Kỳ 13 Kỳ 14 Kỳ 15

Bài Mới Nhất
Search