Tranh: Tuổi Trẻ Cười
“Cô chu nan độ khổ hải, khấp lệ hàm thanh…”
Dưới gốc cột đèn cũ loang nước mưa, vỉa hè ướt trơn như miếng đời trơn trợt, có một người mảnh mai như bóng sen héo, lưng còng tựa vầng trăng cuối rằm. Tay bà run run ôm xấp vé số ôm luôn đoạn phận rơi rớt của ba đời.
“Tam sinh thế nghiệp, quy nhất niên thân.”
Người đời thấy bà tưởng một bà cụ bán vé bình thường. Nhưng trong nếp áo sờn ấy là trầm tích của bao mùa giông, là mắt nhìn mỏi mòn của một người vừa làm mẹ, vừa làm bà, vừa lo cho cháu nhỏ đang tuổi ăn tuổi lớn.
Đứa nhỏ tròn 2 tuổi tay vẫy như muốn ôm lại thế gian đã buông mình từ khi còn đỏ da. Bà gọi là cháu, nhưng kỳ thực là báu vật giữa dòng đời xô lệch.
“Hữu thân nhi bất tự lực, hữu tử nhi bất tề thân.”
Người con gái của bà xưa từng là cô thôn nữ mắt ngời như ánh sương sớm, nay phiêu bạt tha phương, lặn lội miền xa xứ, từ canh sớm đến tàn đêm, tay lấm bùn mà chẳng kịp về ôm lấy mẹ, bế lấy con. Đồng tiền gửi về mỗi tháng chắt chiu, nhưng đời khó hơn lửa, đốt cả dây liên lạc, rối cả tâm can.
Bà chẳng oán bởi bà hiểu:
Con gái đã cạn lực, nên mới đành gởi đứa trẻ lại cho bà, mong ngày lành được về đoàn viên.
“Căn cơ khổ tận, hồng nhật vị minh.
Mệnh già bôn tác, cưu tử truyền sinh.”
(Gốc rễ đã cạn, nắng chưa lên.
Thân già còn gắng, nuôi cháu tiếp đời)
Và thế là, từ đó, mỗi sớm tinh mơ, bà gom hơi thở mình vào từng tấm vé số đi rao từng số, từng hy vọng, từng lời lẽ mềm như gió mùa chướng:
“Dì ơi… mua dùm tờ vé số nghe… chớ không mai hông có sữa cho nhỏ…”
Nhỏ nhìn dáo dác, đôi mắt ướt như biển chưa rút thủy triều.
Có hôm đổ giông, mưa tát xối xả từng vệt như bàn tay vô hình của tạo hóa quất vào tấm lưng đã oằn. Mưa lạnh buốt, bà lấy cái khăn rách che đầu cháu, mình ướt hết cũng cam. Những tờ vé trong túi áo bắt đầu ướt mem, niềm hy vọng nhỏ bé cũng bị mưa gột sạch.
Không bán được không hoàn vé được, bà ôm xấp vé ướt nhòe như ôm chính niềm tin bị đời từ chối.
“Kim tịch hà thời tận, cổ nhân lệ vị khô.”
(Đêm nay bao giờ dứt, lệ người xưa còn chưa khô)
Bà ngồi co ro bên mái hiên chợ, nép sau cột xi măng lạnh, cháu nằm thiêm thiếp trong cái áo thun rách, ngực phập phồng theo hơi thở bà, như hai phận người gắn liền bằng hơi tàn gió lặng.
Một người đi ngang buông câu:
“Già rồi còn không nghỉ, còn ráng chi nữa…”
Bà cười, một nụ cười đẫm sương khói của kiếp mấy mươi năm bị đời gióng chuông lặng lẽ:
“Vì còn một đứa nhỏ… không đi thì ai lo…”
“Thế gian hữu loại tình, bất tại thân phận, tại tâm nguyên.”
(Thế gian có loại tình, không ở huyết thống, mà ở tâm lòng)
Người ta nói xổ số là để kiến thiết đất nước, ngày xưa là vậy. Còn giờ, đất nước thì cao tầng vươn mây, nhưng mảnh chiếu nhỏ của bà vẫn rách tứ bề, từng đồng lợi nhuận ngàn tỉ không nhỏ giọt được xuống mái hiên nơi bà ngồi co gối run rẩy, không rọi sáng nổi ánh mắt đứa nhỏ khóc vì đói kêu mà đau tận gan ruột.
“Nhân sanh như mộng – vé số như vong bút”
“Một đời gieo số, chẳng ai gieo phúc lại cho mình…”
Góc chợ nơi bà ngồi bán vé số mỗi sáng còn có một người bạn – ông Tư Lựu, cũng tầm tuổi thất thập, lưng còng, mặt xám như tro nhang lạnh, đôi tay run run như cọng sậy trong gió đầu mùa. Ông Tư không nói nhiều, chỉ hay ngồi chồm hổm bên tủ bánh mì cũ, rao khẽ như một lời kinh:
“Mua dùm ông tờ số, biết đâu đổi đời…”
Nhưng đời ai đổi chưa biết chỉ biết mỗi ngày trôi qua, ông ngồi nhỏ lại như bóng câu xế tà, mắt dõi nhìn xa xăm, những con số trúng chưa từng gọi tên mình, mà bữa cơm chiều đã ba lần trắng nước.
“Vạn lợi khai xuân, nhất nhân tử địa.”
(Vạn phần lợi sinh, có một người phải lụi tàn)
Một ngày giữa tháng, trời oi bức như lò nung, ông Tư cầm theo một cọc vé số cũ mà chưa bán được, niềm tin cũng nhạt như giấy mục. Ông lật từng tờ, đếm như đếm nợ đời. Bước chân đến đại lý, giọng khẩn khoản:
“Thím Năm ơi… cho tui khất ít hôm, hổm rày ế quá…”
Thím Năm lắc đầu:
“Ông Tư… luật mới rồi… vé đã lấy là không trả, tiền không đủ thì nghỉ bữa. Còn không… đành thôi…”
Không cãi, không khóc, ông chỉ cúi đầu, nhẹ như chiếc lá lìa khỏi thân cây ngàn tuổi. Ra khỏi đại lý, ông ngồi thụp xuống thềm gạch, tay siết chặt cọc vé, cọc vé không còn bán được, nhưng cũng không nỡ vứt đi như kiếp mình: vô ích nhưng vẫn tồn tại.
Xổ số từng là biểu tượng của kiến thiết, của niềm tin góp từng đồng lẻ để xây cầu, dựng trường. Nhưng nay, nền kiến thiết mọc lên là những tòa nhà kính bóng, còn những bà già, ông lão như móng nhà bị chôn lấp, chẳng ai nhớ, chẳng ai nhắc.
Mỗi tờ vé số bán được, công ty ghi nhận lợi nhuận.
Mỗi tờ vé không bán kịp, người bán chịu mất vốn, mất bữa, mất cả nhân phẩm trong cái nhìn rẻ rúng của người dưng.
“Thương hải tang điền, duy khổ nhân thường tại.
Cao lâu đại điện, bất dung một phàm thân.”
(Biển hóa dâu bãi, khổ nhân vẫn hoàn khổ.
Lầu cao điện lớn, chẳng dung thân phàm trần)
Hôm bị cắt tuyến, ông Tư trở về, về với chiếc giường tre ọp ẹp nơi xóm trọ nghèo, không người thân, không có gì ngoài cái radio cũ phát bản tin về… “doanh thu xổ số tăng trưởng vượt kỳ vọng, đóng góp lớn cho ngân sách”.
Ông cười như không, nụ cười không âm thanh, chỉ thấy vai rung nhẹ như chiếc chiếu mục đạp không ra tiếng. Người ta gọi đó là “thành quả chung”, nhưng có ai chung phần bữa cháo cuối ngày với ông đâu?
Bà và ông hai bóng hình trong cùng một cõi.
Sáng hôm sau, bà lão thấy ông Tư không ra chợ. Linh tính dấy lên, bà lần về xóm trọ, gõ nhẹ cửa ván. Không tiếng đáp. Mở khẽ bước vào. Ông nằm đó, tay ôm chặt cọc vé không bán được, mắt khép, miệng vẫn mấp máy:
“Số này đẹp… biết đâu mai đổi đời…”
Nhưng ông đã đi mất không kịp chứng kiến ngày nào đời đổi.
“Nhất thế hào quang, hoá nhất tịch vô thanh.
Số chưa trúng, người đã tan.”
(Một kiếp từng sáng như hào quang, rồi tắt lặng vô thanh. Số chưa đổi, thân đã rơi)
Tin ông Tư đi không làm ai ngạc nhiên. “Già rồi… khổ riết rồi cũng vậy thôi…” người ta thở dài, một hơi thở không gió, không nước mắt, như thể đi vì nghèo là điều đã được thỏa thuận với vận mệnh.
Những người như bà, như ông Tư không ai nhớ tên, không ai ghi nhận công lao, nhưng chính họ từng là mạch máu âm thầm nuôi lớn con số lợi nhuận ngàn tỷ. Công ty xổ số công bố hàng chục ngàn tỷ lợi nhuận sau thuế, nhưng không một dòng ghi lại đã có bao tờ vé bị mưa tạt, bao bàn chân sưng phồng gào giữa nắng trưa để chạy tuyến.
“Thiên hạ luận công – chẳng ai luận đau.
Ngàn người vui trúng – mấy ai nhớ kẻ gió bụi.”
Đứa cháu của bà vẫn ngồi chờ bên hiên, tay vẽ lên nền đất những vòng tròn nguệch ngoạc như một trò chơi.
Bà nhìn, chợt lặng người – vòng tròn đó giống số không. Phải chăng đó là lời ông Tư để lại?
Một số không – tròn trĩnh, vô tận – như đời người bán vé, quay mãi mà chẳng đến đâu.
Trong báo cáo tài chính quý, công ty xổ số ghi nhận tăng trưởng “bền vững”, tổng thu vượt kỳ vọng, thuế nộp ngân sách cao hơn cùng kỳ năm ngoái.
Lý do: “Tăng số lượng đại lý cấp 1, đẩy mạnh bán vé dạo, đa dạng hóa kênh phân phối.”
Không có dòng nào nói có bao nhiêu người bị cắt tuyến vì không đủ tiền nhập vé.
Không có ai hỏi: “Người đem lợi về cho kiến thiết đã được kiến thiết chưa?”
“Mộc cao thiên lý, lạc diệp quy căn.
Tòa nhà cao mấy, liệu nhớ phận gạch đầu tiên?”
Người bán vé là gạch lót đường cho đám đông đi tìm cơ hội đổi đời, nhưng chính họ chưa bao giờ được mơ đổi phận.
Giới chức viết chính sách quản lý vé, quản lý tuyến – nhưng chưa bao giờ có một dòng nào quy định cách cứu một người nghèo khi bị kẹt cọc vé.
Không có chế độ bảo hiểm cho người bán vé.
Không có lương hưu, không có “quỹ bồi hoàn nhân đạo”.
Chỉ có… một câu in phía sau vé:
“Cùng nhau kiến thiết đất nước.”
Bà từng đọc câu đó. Rồi cười.
“Mình góp phần, mà đất nước… đâu có chỗ cho mình?”
Lưỡng cực nhân sinh – Trúng số là mộng, bán số là mồ hôi
Trúng số – người ta đổi đời.
Bán số – người ta đổi từng ngày lấy chén cháo.
Một chiều, bà ngồi bên ghế đá, nhìn trời sập nắng. Bà ngước nhìn bầu trời nhuộm tím, thì thào:
“Nếu vé số là cách đổi đời thì đời nào đổi vé?”
Tren không đáp.
Gió thổi – cuốn tờ vé rơi xuống mương.
Số chưa trúng.
Phận chưa được viết lại.
Nếu người bán vé là gốc cây, thì hệ thống xổ số là thân cây, là cành lá xum xuê. Người ta tưới nước cho hoa nhưng chưa từng tưới cho gốc.
Người ta ghi nhận tăng trưởng nhưng chưa từng ghi tên những người rơi khỏi bảng cân đối kế toán.
Nếu một ngày, gốc mục, rễ khô, cây kia sẽ sống bằng gì?
“Vé số là mộng, nhưng nghèo là thật.
Người bán đi dọc đời người khác, mà chẳng ai đi cùng họ một bước cuối.”
Nguyễn Quynh
*Tên bài do TVBH đặt.
*Bài do CTV/TVBH gởi.
