Ở Sài Gòn trước năm 1975, không có mùa xuân mà chỉ có ngày tết vì đặc trưng hai mùa mưa nắng rõ rệt. Chồi non nẩy lộc, cành lá sum suê, những khu chợ nao nao dòng người đổ về nào hoa, nào lá, nào cây, nào cỏ… là những hình ảnh thân thuộc của một Sài Gòn xa xưa với mệnh danh “Hòn ngọc Viễn Đông” nức tiếng bởi những cải cách và chủ trương vượt tầm của chính phủ. Tết ở Sài Gòn xưa hiện lên trong tâm thức của “những người muôn năm cũ” là hình ảnh sầm uất, chứa chan bao niềm thân thương, dù đã trôi vào dĩ vãng, chỉ còn lại chút hương thừa của lịch sử sót lại, song miền kí ức về một thuở náo nhiệt như vẫn còn âm ỉ trong tiềm thức của con người.
Tết ở Sài Gòn bắt đầu rộn rã với những sạp báo ngổn ngang những tờ lịch xuân, những tờ nhạc với những bản nhạc xuân mới phát hành mấy ngày trước… Ngày ấy thường những tờ lịch, tờ nhạc đăng ngày tết thường là hình của các nữ minh tinh, các nữ ca sĩ với vóc dáng thanh mai, với thân hình yểu điệu như cô Thẩm Thúy Hằng, cô Thanh Thúy, cô Thanh Nga… Trước đây khi công nghệ in ấn chưa phát triển, các trang báo Tết thường là do các họa sĩ, những người có hoa tay như ông Lê Trung, Lê Minh, Thái Văn Ngôn… phác thảo và điểm họa, đến khi công nghệ phát triển, ảnh nghệ sĩ thắng thế trên các hàng báo, nhất là những nghệ sĩ nổi tiếng là tâm điểm để thu hút khách hàng của những người làm nghề này.
Ở trên khắp các con phố, khu hẻm, đâu đâu cũng thấy bày bán đủ các loại thức dùng, thức trang trí như các chậu cây kiểng, trái cây đủ đầy mâm ngũ quả,… Hàng chợ những buổi giáp tết thường đông hơn so với mọi ngày vì người nhu cầu tăng cao, cũng vì thế mà đây chen lấn, kia xô đẩy, trẻ con thì nhao nhao bát nháo khắp cùng làng cuối xóm khiến cho không khí Sài Gòn vốn đã náo nhiệt nay càng náo nhiệt hơn. Ở Sài Gòn, nổi bật nhất vẫn là đường hoa Nguyễn Huệ được xây dựng từ thời Pháp thuộc, vốn dĩ là kênh đào Charner, nối liền với sông Sài Gòn sau đó được người Pháp lấp lại và hình thành Đại lộ Charner, sau được đặt tên Nguyễn Huệ và giữ đến bây giờ. Đã từng có rất nhiều nữ minh tinh, nữ ca sĩ vận những tà áo dài tha thướt thênh thang trên đường hoa Nguyễn Huệ, để lại cho đời những tấm ảnh đáng yêu ví như bằng chứng xác thực về một Sài Gòn phồn hoa và cũng chính họ đã trở thành một phần kí ức đáng nhớ của Sài Gòn đô hội ngày xưa.
Khắp các ngóc ngách, nẻo phố, đâu đâu cũng rộn ràng không khí Tết trải từ 23 âm lịch cúng Ông Táo Ông Công đến tận mồng 7, mồng 8 tết. Thuở ấy, người ta còn nghe được cả thanh âm của mùa xuân nhờ những bản nhạc xuân mang đậm âm hưởng dân tộc. Trước năm 1975, ở khắp miền Nam, đi đâu người ta cũng nghe thấy “Ly Rượu Mừng, Gái Xuân, Câu Chuyện Đầu Năm, Tâm Sự Nàng Xuân…”, những bản nhạc thu vội trước một ngày ngồi buồn trong kho đợi ngày phát trên Đài Phát Thanh, cũng có những bản nhạc đã trở thành huyền thoại đến nỗi mỗi khi nhắc đến, nghe thấy là người ta lại biết xuân tràn về. Nữ danh ca Hoàng Oanh đã từng tâm sự: Trước 1975, cô được hãng dĩa Việt Nam mời thu âm nhạc phẩm này lần đầu tiên trong dĩa nhựa 45 tours trước mồng một tết. Hôm sau, khi vừa mở cửa đón nắng mới, chính cô nghe được giọng hát mình văng vẳng trên máy nghe nhạc của nhà hàng xóm, điều đó khiến cô, chính người thu thanh, cũng mang mang một niềm hoài cảm rất lạ. Thế nhưng, tết ở Sài Gòn trước 1975 không yên ả như ta thường tưởng. Đêm hỏa châu, ngày pháo kích, người bị chết, kẻ bị thương nhao nhao trên các vùng hỏa tuyến, vì thế có những người lính không thể về, có những người trai phải đón xuân ngoài vùng biên ải. Trong những nhạc phẩm liên quan đến mùa xuân, có những nhạc phẩm chất chứa nỗi buồn thương, nói lên thân phận người lính mỗi độ tết đến xuân về như Tôi chưa có mùa xuân của Châu Kỳ, Phiên gác đêm xuân của Nguyễn Văn Đông, Xuân này con không về của Nhật Ngân… Đặc biệt, binh biến mùa xuân Mậu Thân năm 1968 đã dấy lên một hồi chuông cảnh tỉnh ở toàn miền Nam, buộc những người lính ngoài sa trường không được mảy may lơ là và cũng vì thế, cứ mỗi khi tết về, là ta lại chạnh buồn vì thương, vì đồng cảm cho số phận con người trong cuộc chiến:
“Chim mách rằng anh đang ngoài chiến tuyến,
Người yêu thay tay súng, gối mộng là lá rừng,
Vì quê hương còn khổ, tình yêu xin để đó,
Cho xác chết ngậm cười, cho nước mắt thôi rơi”
(Đan áo mùa xuân – Phạm Thế Mỹ)
Ôi biết bao nhiêu bà mẹ khóc chảy máu mắt vì con thơ bỏ thây ngoài trận địa, bao nhiêu người vợ mất chồng, người con mất cha trong cuộc binh biến mùa xuân ấy. Ông tôi có một người bạn đi quân dịch ở miền Nam lúc ấy cũng đã hy sinh trong cuộc di tản người dân khỏi nòng súng của quân giặc năm Mậu Thân 1968. Trong bức di thư cụ để lại cho vợ con có nói: Tết này tôi hạnh phúc vì được chết vì quê hương… Tôi ngẩn ngơ nhớ lại:
“Tình người về giữa đêm xuân chưa dứt cuộc vui,
Giặc đã qua đây, gây cảnh nổi trôi…”
(Chuyện một chiếc cầu đã gãy – Trầm Tử Thiêng)
Nghĩ về tết Sài Gòn xưa, ta không thể không nhắc đến nỗi đau về mùa xuân ấy. Một lần nữa, nỗi đau ấy nhắc ta nhớ về dân tộc, nhớ về lịch sử đau thương của cả một thế hệ. Do đó, ở tiền đồn ngày tết, vẫn có nhiều ca sĩ sẵn sàng chẳng màng gian khó đến chung vui với các anh chiến sĩ như cặp đôi Hùng Cường – Mai Lệ Huyền,…
Sau 1975, người lưu lạc, kẻ tha phương nơi đất khách xứ người, Sài Gòn giờ đây chỉ còn lại dư âm về một quá khứ oanh liệt xa xưa. Trong nỗi niềm chua xót ấy, có rất nhiều nhạc phẩm về Tết nói lên tâm sự của biết bao nhiêu người con phải lang bạt nơi xứ lạ, viết về Sài Gòn nhưng lại ra đời ở nước họ như Chuyện buồn ngày xuân của Lam Phương, Xuân này con về mẹ ở đâu của Nhật Ngân… nghĩ đến thật đau xót làm sao! Đã bao nhiêu năm trôi qua, một mùa xuân mới nữa lại đến, trong thời khắc thiêng liêng này, ta nhớ về một Sài Gòn xưa, một Sài Gòn đã lặng im trong tiềm thức của mỗi con người, ngồi đây, tôi xin thắp một nén trầm hương ngày Tết, cầu cho Việt Nam được ấm no, hạnh phúc, không còn những tháng ngày đói khổ, lầm than…
(Nguồn: #saigonvansu)


