08/06/2013
Đỗ Xuân Tê : Tiếng Chó Sủa Đêm

clip_image002

Tranh : Tiếng Chó Sủa Đêm – Trần Thanh Châu

(Nhân đọc ‘Những tháng năm cuồng nộ’ của Khuất Đẩu)

Quê tôi làng Trà Lũ, nằm bên bờ sông Đáy vùng châu thổ sông Hồng. Tiếng là nghề nông, nhưng trai gaí làng tôi laị giỏi về võ nghệ. Món võ cổ truyền đã đưa làng tôi nổi danh khắp vùng châu thổ. Chẳng thế mà đã cung cấp cho triều đình nhà Nguyễn một vị đề đốc (Đề Quảng) và một ông tướng đầu tiên cho quân đội quốc gia (tướng Vận).

Tuy cùng một huyện vơí làng bên, cách nhau chừng mươi cây số, nhưng vì các cụ ta vốn trọng văn khinh võ, nên các quan viên làng tôi thường bị lép vế vơí cánh Hành Thiện. Làng này phát về nghiệp văn, đã sản sinh ra nhiều trí thức khoa bảng kiệt xuất, trong số này phaỉ kể đến lý thuyết gia họ Đặng, được quần chúng biết nhiều qua bí danh Trường Chinh. Ông cũng là cha đẻ của caí chính sách quái đản “cải cách ruộng đất” làm chết oan cả hàng chục ngàn nông gia, địa chủ. Tuy Đảng đã nhìn nhận sai lầm và kịp thơì sửa chữa, nhưng những oan ức một thơì kéo theo oan ức cả đơì, làm đảo lộn các giá trị truyền thống gia đình mà còn làm tê liệt tôn ti trật tự làng quê kéo dài nhiều thế hệ.

Do chính sách làm tổn thương nặng nề cho xã hội về mặt văn hóa và đơì sống nên tác giả của nó được ghép liền vơí gốc gác quê ông qua mấy câu đồng dao phổ biến chui khắp vùng sông Đáy:

“Hành Thiện có bác Trường Chinh/Dạy con dạy cháu đồng tình tố cha”.

Đúng là bia miệng chẳng sai, một ngươì làm quan cả họ được nhờ, một ngươì làm oan (mà laị oan cho nhiều ngươì) thì cả làng cũng vạ lây. (Sau này người ta cứ gọi Hành Thiện là Hành Hạ, nên nhà nước phải đổi tên thành xã Xuân Hồng, quê tôi thành Xuân Bắc, hợp cùng với mấy ‘Xuân’ nữa thành huyện Xuân Trường, ngọn cờ đầu của thành Nam thời Bí thư NguyễnVăn An).

Tất nhiên ta có thể hiểu được nôĩ ẩn ức này khi một thơì chính nông gia hay gia đình họ đã là nạn nhân của chính sách. Một trong những trường hợp cụ thể rơi ngay vào dòng họ tôi, noí rõ hơn là gia đình bà cô ruột tôi.

Mỗi chuyện có caí lịch sử của nó. Trở laị thơì đầu thập niên 50, lúc đó tôi còn nhỏ nhưng cũng hiểu vùng quê tôi đang là vùng tranh chấp giữa hai phe, cứ tạm goị là Pháp và Việt minh, hay noí theo kiểu dân quê thì ‘ngày thời quốc gia tôí ma cộng sản’. Tôi chưa hiểu về chính trị nhưng biết được caí giá của chiến tranh. Ban ngày, nạn nhân là dân thường do pháo kích bừa baĩ của đồn Tây bên xứ Bùi. Ban đêm là các ông lý ông xã, các thành phần bị qui là Việt gian bị đám Việt minh thủ tiêu, ám sát. Một cổ hai tròng, quê tôi điêu đứng, kéo theo đám thiếu nhi chúng tôi mất cả tuổi thơ. Mấy năm sau đình chiến, ngươì ở laị kẻ di cư, cảnh chia ly tuy có buồn, nhưng từ nay chấm dứt chiến tranh, chờ hai năm sau thống nhất sẽ đoàn tụ trở laị. Rôì hai năm trở thành hai mươi năm, vật đổi sao dời chuyện đơì không đoán được.

Trở laị chuyện cô tôi, bà là chị cả trong một gia đình năm chị em. Bố tôi là út nên được bà rất thương chiều. Sau này bố tôi mất sớm, tôi laị được bà cưu mang. Khác vơí các cô gaí quê tôi chỉ biết làm ruộng, đánh võ thì bà đã có máu buôn bán từ hôì còn trẻ. Không hiểu quan hệ thế nào bà thầu được việc giao rau tươi cho các bà sơ bên xứ Bùi. Quanh năm bất kể nắng mưa, bão lụt bà theo chân hai tá điền khiêng gánh thực phẩm đi bộ từ nhà qua huyện. Buôn bán phát đạt, cơ ngơi nhà bà thuộc loaị bề thế. Tuy tất bật chuyện bán buôn, bà vẫn tần tảo chiều chồng nuôi con như bất cứ bà mẹ quê trong xã.

Chồng bà, tôi goị là bác Tý vì vai trên bố tôi, là ngươì giỏi võ, đã có thơì đi lính Pháp lên chức cai, vai vế trong làng là chức Phó lý. Ông cao lớn, tướng tá oai vệ, có tật uống rượu, nhưng nóng lên là hay chửi con đánh cháu. Được caí ông laị là ngươì tốt bụng, rất nể cô tôi chứ không coi thường phụ nữ như các đàn ông thơì phong kiến. Chả thế mà ngoaì sáu ngươì con, trong lúc khó khăn thơì chiến tranh, ông bà vẫn đem tôi và ngươì chị họ của tôi về nuôi chung.

Tôi là con trai còn được cho đi học, tuy có phụ vớt bèo nuôi heo lúc tan trường. Phần chị tôi là phận gaí chủ yếu lo cơm nước hầu bác tôi, giặt giũ chăm lo cho mấy cậu con trai. Khi đến tuổi 17, vừa được nết, đẹp ngươì (tuy caí tên không đẹp: thị Lùn), nhưng được một trai làng con nhà bên xin cưới, cô tôi dù trong cảnh neo nguơì cũng sắp xếp cho chị tôi ra ở riêng. Ngày chị đi lấy chồng laị là ngày buồn đôí vơí tôi, vì chị đi coi như tôi mất chỗ dựa. Chính chị đã khuyến khích tôi học cho giỏi, an uỉ tôi khi bị đòn, laị thỉnh thoảng lấy trộm đồ nhậu của ông bác dúi cho tôi ăn.

Nhìn lại thế mà đã hai mươi năm kể từ ngày vào Nam. Sau ngày Sài gòn đổi chủ, hưởng ứng caí chính sách khoan hồng gông cổ của Mặt Trận GPMN tôi đi trình diện học tập cải tạo. Gỡ gần 12 cuốn lịch, được tha về thì bà cô tôi đã mất vaì năm sau ngày tôi đi. Ông bác thì đã chết năm nào chả biết. Qua dọ hỏi, được biết gia đình cô tôi và đám con cháu gia cảnh đã xuống dốc, tản lạc tứ phương, hình như có nhiều điều bất hạnh không tiện nói ra.

Riêng số phận tôi laị được Trơì bù đắp sau những tháng ngày lao đao. Sang đất Mỹ chẳng dám nói cuộc đơì laị lên hương, nhưng phaỉ nhìn nhận khỏi lo chuyện kềm kẹp cơm áo, kỳ thị hận thù, nên cuộc đơì có phần thoải mái cả thân lẫn trí. Lúc này laị nhớ đến quê, nhớ những kỷ niệm khó khăn thơì thơ ấu. Bà cô, ông bác, đám ông anh bà chị họ, tất nhiên chị Lùn vẫn là ngươì mang nhiều ấn tượng trong tôi.

Bỗng chốc nửa thế kỷ sau kể từ ngày xuống tàu há mồm bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, từ California nơi tôi định cư, tôi nhận được một cú điện thoaị xuất phát  từ một thành phố lạ thuộc lãnh thổ Đông Đức cũ. Tôi vốn chẳng quen ai ở thành phố này, chỉ có cô em gái duy nhất thì đang định cư taị Mỹ. Alô, Hello mãi thì một giọng nữ còn trẻ nói to, “bố cháu muốn noí chuyện vơí chú.” Rôì cô ta trao đầu giây laị cho môt giọng nam. Ông tự giơí thiệu, “Anh Đài đây, chú Thao còn nhớ anh không, con bác Tý đây.” Xưng anh Đài thì tôi còn ngờ ngợ, nhưng có bác Tý kèm theo thì tôi nhớ ngay ông chồng của bà cô tôi. Có điều lạ là sao ông anh tôi sang mãi tận bên ấy.

Qua câu chuyện được biết ông có ngươì con gái diện xuất khẩu lao động sang Đức. Sau khi Đông Đức bị xóa tên trên bản đồ thế giơí, con ông ở laị, lấy chồng cùng quê, có một sạp nhỏ buôn bán chui cũng khá. Cô con bảo lãnh ông bố theo diện du lịch 3 tháng để goị là đền đáp ơn bố lúc tuổi già. Gia đình nào cũng vậy, có hiếu là có hiếu, dù được nuôi dạy trong môi trường nào. Tôi có lơì khen về sự hiếu đễ của con gái ông trước khi đi vào câu chuyện.

Suốt hơn một tiếng đồng hồ đàm thoaị, như cởi được tấm lòng, ông anh tôi, môt thời tôi coi như thần tượng vì có chiếc xe đạp Trung quốc, laị học gần hết bậc trung học taị Hành thiện chung vơí đám con nhà khá giả trong vùng. Chuyện ngắn chuyện dài, ông kể lể không sót một chi tiết. Có điều chuyện tôi cần nghe về bà cô thì ít mà về ông bác tôi thì nhiều.

Đêm hôm ấy, vào một ngày cuối thu, trời chập choạng tối, taị baĩ tha ma xã tôi, nơi Việt minh hay tổ chức mít tinh thuở tôi còn là cháu ngoan Bác Hồ, Đội caỉ cách của huyện được cử về xã để tiến hành đợt ra quân đấu tố địa chủ. Đôí tượng được đem ra đấu là ông bác tôi và kẻ đấu bác tôi chẳng phaỉ một bần nông nào đó, mà laị là …chị Lùn, bà chị họ thân quí của tôi.

Nghiệt ngã là ở chỗ này, ông anh tôi vừa khóc vừa nhắc đến caí tên con Lùn nó haị bố ông. Tôi gặng hỏi duyên cớ vì biết cô tôi ruộng đất không nhiều, có thể tiền, vàng còn dành dụm được, nhưng qui vào thành phần địa chủ thì không ổn. Kẻ tố lẽ ra là hai ông tá điền chuyên gánh rau quả cho cô tôi từ hôì còn trẻ. Nhưng lý giaỉ làm chi khi moị chuyện không cần lý giaỉ. Ông bác tôi bị qui kết vào ba thành phần: địa chủ (nhà cao ao cả), ác ôn (đi lính Tây, Phó lý), bóc lột (nuôi ngươì không trả công, bóc lột sức lao động). Thấy hai tội địa chủ và ác ôn chưa đủ mạnh, vì bác tôi chỉ có chừng 2 mẫu ta trồng lúa rẽ lấy gạo thơm để ăn hoặc giỗ chạp; ác ôn thì laị là diện khác xử theo chính sách tập trung caỉ tạo, chỉ còn caí tội thứ ba là bóc lột xem ra khớp với bản án.

Vậy thì ai bóc lột ai. Bần nông tá điền kiếm không ra, thì tốt nhất là người trong nhà cho có vẻ trung thực. Chị Lùn được chọn thủ vai diễn vì thứ nhất có lập trường giai cấp (đi ở đợ cho cô tôi), thứ hai bị chà đạp nhân phẩm (ông bác đánh đập, chửi rủa), thứ ba bị bóc lột (vì không được trả công). Kịch bản được dàn dựng lớp lang, các thủ thuật trong lúc đấu tố được bày sẵn cho chị Lùn đến độ nhuần nhuyễn khi ra sân diễn.

Trở laị hiện trường đêm ấy, đám đông quá khích hô hào, khích động theo động tác xỉa xói của chị Lùn vào mặt ông bác tôi, một thời dù chị không ưa lắm nhưng vẫn hết lòng kính sợ và hiểu tính khí của ông. Quá trình đấu tố thì đại để cũng giống như cảnh đấu tố trong các phim tuyên truyền của miền nam, hoặc chân thực hơn là mấy truyện ngắn của vài nhà văn có lương tri đăng trên báo Văn Nghệ miền Bắc thời mở cửa hoặc sau này như cách minh họa sinh động trong một tiểu thuyết của nhà văn Khuất Đẩu.

Tội nghiệp suốt hơn hai tiếng đồng hồ, kẻ thọ ơn ‘đấu’ người ban ơn. Ông bác tôi lúc đó khoảng trên 60, thân già gập xuống trên caí cọc tre, tuy tiều tụy nhưng vì võ giỏi nên sức chịu đựng còn dai. Lòng can đảm khiến ông không sợ chết vì biết chắc mình sẽ chết. Có điều ông hận là kẻ đấu ông laị là đứa cháu một thời vợ chồng ông đã cưu mang.

Bản án tử hình được tên đội trưởng đội cải cách tuyên đọc. Án phạt được thi hành ngay taị chỗ. Một loạt đạn được đám du kích bắn thẳng vào cái bia ngươì nổ ròn giữa đêm khuya. Đám chó trong xóm sủa ran (chắc nó biết có chuyện oan). Ông bác tôi đi êm ả.

Nửa đêm, kịch bản hạ màn, đám ngươì tản dần ai về nhà nấy. Ánh lửa bập bùng nơi hiện trường ánh lên màu vàng đậm của chiếc cọc tre già còn rỉ những giọt máu tươi. Có điều lạ là sao chị Lùn vơí dáng đi thất thểu, laị khóc to và rên rỉ nhiều nhất. Đám con cháu của nạn nhân được nhận thi hài, nhưng theo lệnh phải bó bằng chiếc chiếu cũ và chôn ngay taị bãi tha ma. Điều này làm cô tôi buồn phiền hơn hết khi nghe kể laị (bà viện cớ ốm mệt không chịu dự). Khi nhắc laị đoạn này, ông anh tôi vốn lịch sự mà cũng xổ nho theo âm điệu Bắc kỳ, “địt mẹ tuị nó ác quá”!

Dậu đổ thì bìm leo, sau khi ông bác tôi mất, taì sản bị tịch thu. Bà cô tôi và con cái bị đuổi sang khu chuồng lợn nơi ngày xưa tôi lai vãng cho heo ăn. Ông anh ruột của bác tôi (cụ lý Lễ) cũng đi theo ông em vì là cựu lý trưởng, dù có thằng con theo kháng chiến đã thoát ly gia đình làm cần vụ cho ‘bác’ Trường Chinh. Ít năm sau, gia đình cô tôi bị chỉ định cư trú trên mạn ngược, phải bỏ quê lên tận Hà giang. Toàn bộ cơ ngơi mồ hôi nuớc mắt bị đổi chủ, không còn để laị dấu tích gì, trừ cái cọc tre nơi bãi tha ma chẳng ai thèm nhổ.

Cũng may là ông anh tôi còn trụ laị được vì kết hôn vơí cô con gaí ông tá điền trung tín của cô tôi. Nhờ lý lịch ăn theo, laị có chút học vấn sáng hơn đám răng đen mã tấu, nên anh tôi được giao làm công tác nông nghiệp cho xã, nhờ vậy sau này con gái anh mới có thuận lợi trong việc xét duyệt cho đi lao động nước ngoài.

Chuyện buồn quá nghe xong muốn nghẹt thở. Thấy ông anh có phần dịu laị, tôi lựa lời khuyên ông nên tha thứ cho chị tôi. Bất ngờ, anh tôi bảo tha thứ thì tha lâu rôì vì con Lùn cũng chỉ là nạn nhân. Môĩ năm có giỗ chạp, nhất là từ khi thay ‘aó mơí’cho bác tôi, anh tôi có goị cái Lùn cùng về, anh em vui vẻ cả. Ông thở dài, thôi thì chuyện đã qua, “oan ức một thơì cởi bỏ cho nguôi”, rồi tự an ủi, “đứa nào ác nó sẽ gặp ác” (tôi tán thành cái câu đầu, nhưng không nhất trí cái câu sau vì trường hợp tù tội của tôi).

Cuối câu chuyện, ông xin lỗi tôi vì bỏ quên thằng em hôì tôi cải tạo ở miền Bắc. Ông bảo, chú thử nghĩ xem, lý lịch cả hai anh em mình đều đen như mõm chó, nên anh chẳng dám liên hệ ho he. Nhưng nay thì đã khác xưa rồi chú ơơơi…Đến lượt ông laị khuyên tôi thu xếp về thăm quê một chuyến. Như để trấn an, ông nói, Cao Kỳ nó cũng về rôì đấy, chú sợ gì, họ hàng mong chú với cô Thơ về đấy.

Cuộc điện đàm chấm dứt từ lâu, nhưng những ký ức làng quê vẫn kéo dài không dứt. Quả thật, chuyện vẫn chưa xong.

Ngay dịp Tết năm đó, tôi bảo cô em tôi về. Thu xếp thơì gian mới là chuyện khó, tiền bạc quà cáp đối vơí cô không thành vấn đề vì gia đình cô thuộc loaị thành đạt chuyện làm ăn trên đất Mỹ. Tôi dặn ngoài việc thăm anh Đài và họ hàng bà con, nhớ ghé thăm chị Lùn và tặng quà chị, noí là của cậu Thao. Cô em làm đúng như điều tôi dặn.

Sang laị Mỹ nghe chừng cô rất ưng ý qua chuyến đi.  Thuật laị đủ chuyện, tất nhiên có cả chuyện chị Lùn. Qua tâm sự phụ nữ vơí nhau, mới biết ông anh tôi còn dấu một số điều. Chị Lùn cho biết rất khổ tâm suốt 50 năm qua về chuyện ông bác. Chị nói nếu biết trước có màn hành quyết thì dù mẹ chị có sống dậy bảo chị làm chị cũng không làm. Té ra đạo diễn chỉ xúi chị làm nhục bác tôi thôi, rồi tha cho ông về sau khi lạy chị ba lạy xin tha tội. Họ còn trấn an chị là bác tôi già rôi bắn làm chi cho phí đạn. Nhưng đội caỉ cách từ huyện về laị muốn dằn mặt quần chúng nhân ngày phát động, nên kịch bản có phần thêm thắt ngoài dự kiến của đám cán bộ xã. Sau sự việc, vào một dịp thuận tiện chị có tiết lộ với anh Đài chuyện này nhưng họ hàng chẳng ai tin, kể cả anh Đài.

Còn chuyện làng quê thì cô em tôi công nhận làng mình có đổi thay khá hơn xưa. Riêng cái bãi tha ma, nơi hành quyết ông bác thì bây giờ đất chật người đông nên một phần họ đã qui hoạch thành nghĩa trang liệt sĩ, phần còn laị toàn nhà cửa của dân. Anh Đài vẫn cái giọng khó hòa giải cho biết dân trong nghĩa trang thì cũng toàn là con cái của mấy ông du kích năm xưa đi B rồi hi sinh trong đợt Mậu Thân và kháng chiến chống Mỹ, chuyện đời có vay có trả.

Thôi, chuyện làng trên xóm dưới, bà con họ tộc, dâu bể tang thương, nghe vậy đủ rôì, tôi chẳng muốn hỏi thêm. Ở tuổi tôi, cũng như bao thân phận đã từng bầm dập theo vận nước, chỉ ước mong cho đất nước yên bình, quê hương no ấm, cho chó khỏi sủa ran, cho con em được học hành, làng quê lại có tiếng ru, câu hò của thời thanh bình thuở trước.

Đỗ Xuân Tê

 

 

 

©T.Vấn 2013