Lê Mai Lĩnh: Nhân ngày 30/4, Gợi nhớ giấc mơ xưa

Trại Tù Yên Bái – Tranh: THANH CHÂU

TẠI SAO TÔI TREO CỔ TRONG NHÀ TÙ CỘNG SẢN.

(Hồi ức muộn)

SƯƠNG BIÊN THUỲ.

Lê văn Chính/ Lê mai Lĩnh.

Tôi làm thơ từ năm 15 tuổi, đến nay, 83, tôi vẫn còn làm thơ.

Nên, 8 năm, 6 tháng trong tù, ( 5/1975 đến 11/1983 ) cũng là những tháng ngày, dòng chảy của thơ, không ngớt.

Trong tù, làm thơ đấu tranh, chống Cộng, là một thách đố với định mệnh.

Và, định mệnh đã réo tới tôi, vào một trưa, oi nồng, giữa núi rừng Việt Bắc .

Chuyện, đầu đuôi, xuôi ngược, là như, thế ni.

Tôi làm thơ. 

Làm thơ trong lúc cầy ruộng, nghĩ trong đầu, thuộc, tối về chép lại. 

Làm thơ bên bếp lửa, giữa giờ giải lao, trên bao thuốc lá Sông Cầu, giữa cơn lạnh mùa đông Yên Bái. 

Làm thơ lúc đang tắm cho heo, tay chà, đầu nhớ. 

Làm thơ trong lúc bụng đói cồn cào, phải uống nước lạnh, để đánh lừa bao tử, ở Lào Kai. 

Làm thơ lúc hân hoan, vì trước mặt có thịt, cá, bánh chưng ba ngày Tết, ở Vĩnh Phú. 

Làm thơ lúc phá rừng trồng sắn, lúc leo núi đẵn tre, lúc lội sông gánh nước. 

Làm thơ lúc gánh phân tưới rau, sau đó biết mình thành công, vì thơ làm ra, không thúi. 

Chẳng hạn như, những câu thơ dưới đây, có thúi đâu :

“ Trời trong xanh buổi sáng hôm nay,

Soi xuống hố phân, thấy mặt mình vẫn còn tươi sáng,

Còn nét thơ ngây, còn dáng hình người,

Chưa có gì, ra vẻ đười ươi.

Hỡi những cục phân, còn xác bắp cộng rau,

Trôi lềnh bềnh, giữa bầy dòi bọ,

Trông các em, thân quá làm sao,

Giữa đời ta, chuỗi ngày lem lọ.”

Đại khái, đại để, đại lọai là như thế. Hoặc nữa, làm thơ vào buổi sáng, giữa núi rừng, lúc mặt trời mọc, trong gió mát, trời thanh, bình minh dậy.

Làm thơ vào giữa trưa, dưới cánh đồng, lúc nắng chang chang, mồi hôi nhễ nhại, mệt lả. 

Làm thơ vào buổi chiều, công việc trong ngày đã xong (trả nợ quỷ thần) đôi vai nhẹ tênh, thơ thới. 

Làm thơ vào ban đêm, rệp cắn, muỗi đốt, người nằm chật như cá hộp. 

Đại khái, đại để, đại lọai là như thế. Hoặc nữa. Nhưng thôi. 

Và, đã có lần, tôi sém chết vì thơ. Nhưng đã có rất nhiều lần, tôi sống được, nhờ thơ.

Và, sau đây là lần tôi sém chết, vì thơ.

Thông thường, sau mỗi lần làm xong một bài thơ, tôi học thuộc lòng xong, xé bản thảo.

Nhưng lần này, ba bài thơ dài, làm trong tuần, không đủ thời gian học thuộc, tôi để trong túi.

Dạo đó, tôi được biên chế vào đội nông nghiệp, công việc của tôi là anh nuôi, lo nấu nước cho anh em uống.

Một buổi sáng nọ, như mọi lần, tôi gánh đôi thùng lên nhà Lô (nhà làm việc của cán bộ) và nói: báo cáo cán bộ, cho tôi đi lấy nước.

Y bảo tôi, anh vào đây. Tôi vào.

Y ra lệnh tôi: “Anh lấy hết giấy tờ trong túi, bỏ lên bàn “

Tôi làm theo.

Y bảo anh về đi, chốc nữa lên lấy lại.

Trong đó là bản thảo ba bài thơ.

Sau khi nấu sôi hai thùng nước, chia cho anh em, tôi lên gặp quản giáo xin nhận lại giấy tờ.

Y nói, thơ anh làm hay lắm, để tôi nghiên cứu.

Tôi bắt đầu lo hung.

Hôm sau, Y cho tôi khỏi lao động, lên nhà Lô làm việc.

Một bình trà, một bao thuốc lá Thăng Long, loại thuốc cao cấp trong tù, một bình mực, một xấp giấy ca rô, một ngòi bút.

Y bắt tôi chép lại, từ bản thảo, các bài thơ, mà không ai có thể đọc, ngoài tác gỉa.

Tôi chép và tôi có thêm vào hai chữ, mà tới nay, tôi vẫn còn ân hận, vì nghĩ mình hèn, thiếu dũng cảm.

Trong bài thơ “SẮN, TUYÊN NGÔN THẾ KỶ”, đoạn chót, có 4 câu như sau:

“Hãy cuốc xuống thật sâu, chôn kín lũ bạo tàn,

Hãy dọn dẹp, vun thành đống, châm lửa đốt, cho sách,

Trời của ta, đất của ta,

Ta phải đối đầu thử thách,

Diệt cho tan loài sâu bọ dã man.”

Nhưng khi chép, muốn nhẹ bớt căng thẳng, hận thù, tôi thêm hai chữ Trung Quốc vào cuối cùng của câu thứ nhất,

“ Hãy cuốc xuống thật sâu chôn kín lũ bạo tàn Trung Quốc “.

Lúc này, Trung Quốc đang tràn qua 7 tỉnh biên giới phía Bắc.

Tôi hèn quá chăng?

Những ngày này, tôi bắt đầu nghĩ tới cuộc quyên sinh.

Tôi nhớ nhà thơ Trần Dần, trong bài thơ “Nhất định thắng”, chỉ vì một chữ NGƯỜI, viết hoa, ám chỉ ông Hồ chí Minh, mà còn đi tù, nhà thơ đã cắt cổ tự tử, nhưng được cứu sống.

Hai câu thơ của nhà thơ Trần Dần :

“Lâu nay, NGƯỜI vẫn thiếu tin NGƯỜI,

NGƯỜI vẫn kinh hoàng, trước tương lai.”

Còn tôi, thì sao?

Tôi không nghĩ, chúng để tôi yên.

Có thể tôi đánh giá sai, quá cao.

Tôi nghĩ, chúng sẽ dàn dựng tôi trốn trại, rồi bắn chết, ở một hóc núi nào đó.

Có thể, tôi bị cùm, trong nhà giam, vô thời hạn.

Tốt nhất, ta quyết định đời ta.

Đó, cũng là 1, 2 ngày trước 20/7, ngày chia cắt VN bởi hiệp định Geneve, 20/7/1954.

OK. Chơi. Treo cổ, chơi.

Chết im lặng, tôi không ưa.

Cái chết của một thi sĩ, phải tạo tiếng vang, tiếng nổ.

Tôi viết thư gởi TBT Lê Duẫn, “đề nghị thay đồi đường lối lãnh đạo.”

Thư gởi ban giám thị trại, “đòi cải thiện chế độ lao tù,”

Sợi dây treo cổ là hai sợi dây bao mìn claymore nối lại. 

Trong thâm ý, dùng hai sợi dây mìn claymore của Mỹ, là tôi muốn nói, chính phủ Hoa Kỳ, cũng phải chịu trách nhiệm về cái chết của một thi sĩ Việt Nam.

Tôi có quá lãng mạn, không nhỉ?

Buổi chiều hôm đó, buổi chiều cuối cùng, khẩu phần ăn, bo bo, tôi tặng người bạn thi sĩ, Lê văn thanh Vân.

Khi qua Mỹ, anh định cư thành phố Boston, Massachusetts.

Chúng tôi có gặp nhau đôi lần trong các buổi sinh hoạt văn nghệ.

Buổi chiều đó, cuối cùng đời ta, 

Tôi mặc quần jeans nhung, màu nâu, chiếc áo ngắn tay, màu mỡ gà.

Sắp chết, còn muốn làm đẹp.

Bạn tù, ai cũng hỏi tôi, mai có thăm nuôi, hả Chính.

Trước đó, hẳn nhiên tôi có thông báo ý định với vài bạn thân, gởi áo quần, di bút, nhờ đem về nhà, khi nào về.

Vì thế, có lẽ, đã đến tai cán bộ trại .

Tối đó, bên ngoài phòng ngủ, cán bộ đông, không bình thường.

Họ dán mắt theo dõi tôi.

Nghĩ mình phải hành động sớm, trước khi họ vào bắt đi.

Tôi nhanh, mau, đút đầu vào thòng lòng, mà tôi chuẩn bị trước, trên trần nhà.

Tôi chưa kịp phóng người xuống, anh em đã bồng tôi lên, cởi sợi dây thòng lòng.

Sau đó, cán bộ trại đưa tôi lên phòng làm việc, họ quy tội tôi, làm mất trật tự trại.

Hôm sau, tôi lên trại chính thức viết kiểm điểm.

Tôi ngồi riêng một phòng, trên bàn, trước mặt, gồm, ấm trà, ly, nải chuối, bao thuốc lá Thăng Long, tập giấy ca rô, ngòi bút bi màu xanh.

Cán bộ bắt tôi xoáy vào trọng tâm, ba câu hỏi,

1/ Động cơ nào, anh viết thư gởi lãnh đạo?

2/ Trong việc làm này, có ai xúi giục anh không?

3/ Hướng phấn đấu, sữa chữa của bản thân.

Trong câu hỏi thứ nhất, tôi phân tích tình hình thế giới, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc.

Thế cục diện bang giao, kẻ thù của bạn, cũng là kẻ thù của mình.

Bạn của kẻ thù, cũng là bạn của mình.

Liên Xô, kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển, nên họ tiến lên được XHCN.

Còn ta, nước nông nghiệp, khoa học kỹ thuật lạc hậu, chưa thể đi theo con đường XHCN.

Tôi muốn nói cho lãnh đạo biết điều đó.

Nhưng, sau khi tôi viết vài dòng, cán bộ vào đọc, họ xé, tịch thu, nói tôi trả lời, chưa xoáy vào trọng tâm.

Qua ba lần, tôi biết ý đồ của họ, muốn chơi đòn cân não, nên tôi không viết.

Ngồi hút thuốc, ăn chuối, uống trà.

Khi thấy cán bộ vào, tôi cắn bút, cau mày,  như thể suy nghĩ, lao lung lắm.

Nhưng điều này chỉ xảy ra trong một lần.

Hôm sau, chuyển trại, trong đó có tôi.

Lần này, chỉ có tôi và người bạn nằm cạnh, bị còng tay chung.

Sau này tôi nghĩ, chính người bạn nầy báo cáo việc, tôi làm thơ.

Vì mỗi đêm, tôi thường để giấy, bút bên cạnh, để mỗi khi, có ý thơ, tứ thơ đến bất chợt, tôi lục cục ngồi dậy viết, phá giấc ngủ của anh.

Sau khi qua trại mới, cán bộ nói tôi chép lại các bài thơ, nhưng tôi từ chối, nói, không còn nhớ.

Sau đây, người tù Lê Văn Chính viết gởi lại hai lá thư, trước khi treo cổ chơi trò chơi của thi sĩ.

-Một, gởi cho ông Lê Duẩn, TBT đảng CSVN, đề nghị thay đổi đường lối lãnh đạo.

– Hai, gởi Ban Giám Thị trại giam đòi cải thiện chế độ lao tù.

Một

Kính gởi ông Lê Duẩn, Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam

Kính thưa Ông,

Ký tên dưới đây là tôi, Lê Văn Chính, Thi Sĩ

Tôi xin thông báo cho Ông biết, tôi không đủ can đảm sống thêm 5 năm nữa, để ăn bát nước chấm trong mỗi bữa ăn, như ông hứa trong bài diễn văn đọc trước Quốc Hội năm 1975, và được lập lại trong bài diễn văn năm 1976.

Tôi xin thông báo cho Ông biết: đã đến lúc, ông và những người lãnh đạo trong Bộ Chính Trị, cần phải thay đổi đường lối, lập trường, sao cho phù hợp với tình hình mới của thời đại và lịch sử. 

Đừng kéo nhân dân vào hết cuộc chiến tranh này, tới cuộc chiến tranh khác.

Hiện nay, dân chúng rất căm ghét chế độ.

Cán bộ thì hủ hóa, xã hội loạn lạc, nhân dân lầm than, thế giới cô lập.

Nếu các ông không nghe tôi mà thay đổi đường lối lãnh đạo, nhân dân sẽ thay đổi các ông.

Khi đó, các Ông có hối hận cũng không kịp.

Trân trọng kính chào ông,

Lê Văn Chính, Thi Sĩ

Hai

Thư gởi Ban Giám Thị Trại Cải Tạo Tân Lập, Vĩnh Phú.

Kính thưa Qúi Cán Bộ,

Giữa chúng tôi và các cán bộ, không có lòng hận thù nào hết.

Tất cả chúng ta, đều là nạn nhân của chế độ này.

Vậy trước khi chết,

Nhân danh cái chết của một thi sĩ, tôi yêu cầu ba điều:

1. Hãy trả ngày Chúa Nhật cho anh em chúng tôi. Có ăn sáng càng tốt, không ăn sáng cũng được.

2. Hãy trả tiêu chuẩn thịt hàng tháng cho chúng tôi, bình thường, đều đặn.

Đừng dùng nó vào việc ra quân thi đua, có tính cách bòn mót sức lao động.

3. Hãy nuôi chúng tôi hết tiêu chuẩn Nhà Nước dành cho chúng tôi. 

Đừng bắt chúng tôi ăn độn một trăm phần trăm: sắn, khoai, bo bo với nước muối. 

Cuối cùng tiền dư thực còn lại, là “xù”.

Trân trọng kính chào Quí Cán Bộ.

Trại viên Lê Văn Chính, 

Thi Sĩ ký tên.

Trại Tân lập K4/ tỉnh Vĩnh Phú.

Đêm 20/7/1979.

SƯƠNG BIÊN THUỲ.

(Lê văn Chính/ Lê mai Lĩnh)

Bài Mới Nhất
Search