07/06/2021
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: Gặp gỡ bên đường…

      

       Vòng tròn xoáy – Tranh: Thanh Châu

 

Rất ngay tình, viết thì phải đọc để ăn mày chữ nghĩa của thiên hạ sự.

Như khươm mươi niên trước, đọc chuyện ngắn của anh bạn trẻ ở cùng đường Thiệu Trị với tôi. Ở khỏen đất tun hút này, qua anh viết có lão Năm đạo tỳ say xỉn làm bạn với mấy nấm mộ. Anh dẫn tôi theo lão già say từ nghĩa địa lụm cụm ra đường Trương Minh Giảng ở bên cạnh quán cóc có tiệm cho thuê truyện.

Ít lâu sau, một ngày như mọi bữa, lại búi bấn đọc để tìm cảm hứng viết lách.

Thì va vào mắt truyện ngắn của anh bạn trẻ khác người Quảng Trị. Anh viết về con hẻm nhỏ gần chùa Tỉnh Hội, sát bên thành cổ Đinh Công Tráng. Ở đầu ngõ có cái bảng nhỏ đề “Cho thuê truyện”. Đó là căn nhà nhỏ, phía trước là cái tủ cao mắt lưới, bên trong bày những gáy sách đã sờn mép như. Trong tủ tòan truyện chưởng và tiểu thuyết văn học, từ Phi lạc sang Tàu của Hồ Hữu Tường, Mối tình màu hoa đào của Nguyễn Mạnh Côn, đến Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca…

Tôi đợi một ngày nào đó hặm hụi theo anh, tôi sẽ đưa vào truyện viết những gặp gỡ bên đường về những tiệm cho thuê truyện của Sài Gòn đầu đường cuối ngõ. Nhưng tôi vẫn chưa có cảm hứng, cảm hòai ngồi xuống cái bàn gõ.

Một ngày như mọi bữa, tôi mọt sách ăn giấy “Nhật ký chiến tranh 1972-1973” của một phóng viên chiến trường miền Bắc: Năm 72, ông bương bả qua sông Bến Hải vào Quảng Trị, trên đường đi ông chỉ thấy toàn là súng và sách. Sách đủ loại. Lược sử văn học Việt Nam, Tự lực văn đoàn, lại có cả truyện kiếm hiệp, sách viết về chiến tranhThế là ông quơ một mớ bỏ vào ba lô, ngồi ở cụm chân tre, uống bia của ngụy và đọc sách chiến tranh, dưới là con suối, đàn bò đủng đỉnh xuống uống nước…

Ông lây dây với cuộc chiến: “…Tôi đang đọc một quyển sách viết về chiến tranh (…) VN của tôi liên miên chiến tranh, những thế hệ liên tiếp đã kế tiếp nhau cầm súng. (…) Chỉ mình là còn đánh nhau. Nhớ một hôm, cũng bên một dòng suối, một đồng chí nói: Đời con mình mà còn đánh nhau, thì đất nước này tan hoang chứ còn gì nữa?…”.

Năm 73, ông về lại Hà Nội, “…Đi đâu cũng nghe những tiếng gõ của bánh xe bò chở than, tiếng móng bò đập trên đường. Rất khuya, tôi lắng nghe tiếng bánh xe lăn. Nó thanh, khô, gọn, mà lại thoáng như là ngân lên trên đường phố. Đất nước của tôi chỉ có thế thôi, trung cổ một cách không thể lẫn với đâu được. Trong khi đó, con bò cứ chầm chậm đủng đỉnh mà đi. Người đánh xe còn mải nghe gì đó…”.

 

      ***

Ninh Bình – Quảng Bình

Ta chiếm Quảng Trị ngày 1 tháng 5 năm 1972, ngay sau đó tôi được lệnh đeo ba lô vào Nam. Trên những con đường Khu 4, đường Ninh Bình bị đánh phá nháo nhào. Nhà cửa vặn vỏ đỗ. Chiến tranh vẫn như cũ, dường như tất cả vẫn như cũ. Ngồi bó gối sau xe, chịu mưa và lại nhớ về bè bạn Hà Nội. Một đôi lúc, đường tắc, xe không đi được, chờ phà, mệt mỏi, lởn vởn nghĩ hôm nay sẽ ngủ đâu. Lại ngồi với miên man vô định. Miên man về đất nước vừa là cụ thể, vừa là mơ hồ, vừa là lung linh, vừa rất…công thức.

27/5/72

Từ Quảng Bình bắt đầu nghe được nhiều chuyện Quảng Trị

– Có những bà mẹ, sau những ngày tết Mậu Thân năm 68 trở nên kinh hoàng. Không dám làm gì cho ta nữa. Bây giờ bộ đội vào, bà…trốn.

Chuyện do Xuân Đức kể: Quảng Trị dân chạy ào vào trong, ngăn cản không kịp. Ta chặt cầu Mỹ Chánh, họ đổ hướng đông, rồi lại vòng đường tây. Hoang mang sợ. Thấy cờ mặt trận đâu, chạy ra lối khác. Chạy ra đầu xóm thấy cờ mặt trận lại chạy về.

31/5/72

Giữa rừng già, trong một lán đào sâu xuống lòng đất, ánh đèn dù dọi từ xa hắt trên mặt liếp…Nhưng mà máy bay vẫn bay suốt đêm, và gần sáng, tiếng bom bi còn nổ lụp bụp…

Như thế là như thế nào? Trong thông cáo chung Moskva – Washington, vấn đề Việt Nam chưa nhất trí. Mỗi bên còn giữ lập trường của mình. Vậy thì nước tôi là thế nào?

Văn Thảo  Nguyên  và Thu Bồn nói với nhau: Bây giờ chỉ có mình là ôm lấy phe XHCN. Chỉ có mình. Còn thằng Nga thằng Tàu nó đều bỏ mình.

Nói cho ngay, bút ký của ông sau này đâu cũng thấy…bò, để gần gũi với sách truyện hơn, tôi trộm nghĩ sao mình không dón chuyện với cậu bé 11, 12 tuổi chạy từ Quảng Trị về Huế…Trên đường chạy trốn pháo, cậu bé vẫn mờ nhân ảnh với truyện kiếm hiệp Kim Dung, những đoạn đường ra Băng hải đảo của Trương Vô Kỵ, những thế võ của Mộ Dung Phục. Và cậu đã bơi qua sông Thạch Hãn. Bơi lặng lẽ, không phải để dành tiền đò thuê truyện Kim Dung, mà để chạy trốn cái chết. Đêm yên tĩnh lạ lùng.…

20 năm sau… cậu bé người Quảng Trị lúc này là chuyên viên môn toán thống kê, ngồi ở thư viện Calgary tại Mỹ tìm tài liệu…Anh tình cờ nhìn thấy cuốn kiếm hiệp kế tiếp chưa in, hay chị chủ tiệm cho thuê truyện chưa kịp mua về. Anh ngồi đọc những chương dở dang ngày nào chưa kịp đọcVà trong anh dâng trào của chuyện 20 năm trước, thế là ngồi trong thư viện, anh viết truyện ngắn: Người cho thuê truyện

(…Khi sinh ra đời, tôi đã đi lại trên con đường này, mẹ tôi gánh hàng rong bán dọc Quốc lộ 1. Lớn lên, tôi theo bà vào ra đoạn đường tới thị xã Hải Lăng. Ngày hè, gió Lào miên man thổi, mẹ tôi dắt tay tôi một tay giữ chặt nón, hai mẹ con vừa đi vừa bị gió thổi bay trên đường. Thỉnh thoảng tiếng súng từng chặp dội về từ rừng. Tiếng tiểu liên Carbine giòn giã, CKC gióng một bắn tỉa, Garand chát chúa. Nhiều năm súng đạn đã trở thành quen thuộc, trong cái bóng đổ dài của chiến tranh, cỏ vẫn mọc, người ta vẫn phải sống.

Đi học, tôi được mẹ giúi cho hai mươi đồng để ăn bánh mì lại trường, mười đồng đi đò ngang. Tôi nhịn ăn dành tiền thuê kiếm hiệp. Mê đuổi theo số phận nhân vật, đôi khi tôi xài tạm tiền đò, vậy là tan trường, mùa hè cởi áo quần bơi qua sông Thạch Hãn về nhà.

Có lần, trên đường đi học tôi nhìn thấy một cái xác với những bao thuốc lá Ruby đỏ rơi vương vãi, máu nhuộm chúng đã khô, không ai dám nhặt. Nước mắt cũng mau khô. Nỗi sợ hãi chóng qua, không khí yên bình tái lập. Lực lượng địa phương quân hoạt động mạnh, gây cảm giác khá an toàn trong vùng bao quanh thị xã.

Làng tôi bên sông đối diện với thị xã Quảng Trị, chiều chiều ánh điện chiếu xuống mặt nước soi lên tuổi mới lớn. Những đứa trẻ mới lớn hay mơ mộng, thích đọc truyện tình và kiếm hiệp, cả hai đều lãng mạn, kiểu khác nhau. Hồi ấy ở miền Nam có phong trào thuê truyện, nhất là giới học trò. Các hiệu cho thuê phát triển, truyện kiếm hiệp Kim Dung, Ngọa Long Sinh, Nam Kim Thạch, truyện xã hội Dương Hà, Sĩ Trung, Bà Tùng Long. Tôi có nhiều địa điểm thuê truyện, nhưng trong một con hẻm nhỏ ở gần chùa Tỉnh Hội, chạy sát bên thành cổ Đinh Công Tráng, dọc theo vòng rào kẽm gai, một hôm tôi tìm ra địa chỉ thú vị. Ở đầu ngõ hẻm có cái bảng nhỏ đề “Cho Thuê Truyện”, ba chữ sơn xanh nền đỏ, đập ngay vào mắt, mà dù không có cái bảng sơn xanh đỏ ấy, dù chỉ là hàng chữ li ti thì những đứa mê truyện như tôi cũng không bỏ sót.

Một ngày, đi học tan trường về, tôi nhìn thấy nó từ sau chiếc cột điện, tôi đứng ngẩn người. Con hẻm sâu, đi loanh quanh một chặp, ở dưới hiên lợp mái tôn của những ngôi nhà lụp xụp, mới cất, của những người từ vùng phía nam sông Bến Hải, Gio Linh, Dốc Miếu chạy giặc giã sau cuộc bình định. Quán là căn nhà nhỏ, phía trước rộng có cái tủ cao mắt lưới, bên trong bày những gáy sách hấp dẫn. Giữa hai chiếc cột lớn là cái võng dù xanh, một người đàn bà còn trẻ thường nằm ở võng cho con bú, khi có khách vào thì mới đứng lên tới phía sau tủ sách, lụi cụi ghi chép.

Nhiều lần quen thuộc, tôi biết chị có chồng là đi lính hay xa nhà. Chị có hai hoặc ba đứa con nhỏ, quê Dốc Miếu, gần cầu Hiền Lương, chạy vào thị xã mới vài năm trước. Chị ít nói, mặt không bao giờ trang điểm nhưng có nét đẹp kín đáo, dịu dàng, tần tảo. Trong tủ có nhiều loại sách, truyện chưởng và tiểu thuyết văn học, từ Phi lạc sang Tàu của Hồ Hữu Tường đến Mối tình màu hoa đào của Nguyễn Mạnh Côn, từ Mèo đêm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đến Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca.

Tủ sách của chị ngày một lớn, đầy ắp, khách ngày càng đông bọn nhóc chúng tôi. Có lúc tôi vào nhà không có ai, ở cửa con chó nhỏ không sủa. Tôi đi lui đi tới nhiều lần, mỏi chân, nằm lên chiếc võng dù êm ái cho đến khi chủ nhà về. Lâu riết thành quen. Tuần nào thứ bảy tôi cũng ghé để tìm đọc một hai cuốn. Tôi đi tìm những thú vui trong chữ, trên giấy, ở ngoài cái thế giới mà tôi đang có, khốn khổ, chết chóc. Tôi đi tìm những con đường khác của đời sống. Đối với tôi, cuộc đời vừa mới đến nhưng cũng vội tàn…)

Đợi đến đây mụ chữ tôi mới rị mọ len chân vào chuyện và bòn mót theo ai đó:

Ở Sài Gòn, không biết chắc khi nào có các tiệm sách cho thuê truyện nhưng chắc chắn là trước 1954 đã có loại tiệm sách này rồi. Theo ước tính trên báo Thời Nay ngày 7/9/1974, đến thời điểm đó có khoảng 2 đến 4 ngàn tiệm cho thuê sách ở Sài Gòn.

Trước di cư năm 1954, tiệm cho thuê sách truyện chỉ xuất hiện trước các cổng trường. Thuê bữa nay, ngày mai trả, giá chỉ vài cắc. Đến năm 1954, trên đường Nguyễn Kim có tiệm Thái Bình, do một phụ nữ người Bắc trạc ngoài 40 làm chủ. Muốn thuê sách phải đặt tiền thế chân, khoảng 10 đồng một cuốn, tiền thuê 5 cắc.

Tiệm được cho là lâu đời có từ giữa thập niên 60 là tiệm Đức Hưng ở đường Trần Quang Khải. Tiệm này đáng nhớ vì có sáng kiến cắt các kỳ truyện kiếm hiệp của Kim Dung, Cổ Long, Từ Khánh Phụng đăng phơi-ơ-tông trên báo, đóng thành từng tập để cho thuê khi các truyện này chưa xuất bản thành sách, nên độc giả rất thích.

12/6/72

Cam Lộ

Buổi chiều còn rớt lại ít nắng. Đường rộng toàn những xe đại xa, xe Hoàng Hà, xe Zin ba cầu. Những người lính đứng trong thùng xe, người nào người ấy nguỵ trang, nai nịt gọn gàng, súng cầm tay. Nhiều người ngồi ngả ngốn sau một ngày mệt mỏi, nhưng nhiều người đứng lên, nhìn về những nơi rất xa. Họ nghĩ gì vậy? Họ thấy cái thăm thẳm của rừng núi? Họ nhớ quê hương ở một góc nào đó của tâm hồn, trong họ vẫn có một mảnh đồng bằng rất nhỏ của tình cảm. Nhưng giờ đây, lòng họ hoàn toàn là rừng núi.

14/6/72

Chuyện người dân ở đây và lính rất nhạt nhẽo. Người lính về giải phóng quê hương, nhưng bị xem như kẻ ở đâu đến vậy. Người lính ngạc nhiên, tuy trên đất nước mình, nhưng rất xa lạ. Họ có cách nghĩ, cách nói của người Trung bộ…

– Tui tuổi ri đã mười mấy lần chạy giặc chừ.

– Giặc là ai?

– Giặc là… pháo hè

Họ vẫn ra xem máy bay Mỹ, và cho rằng máy bay Mỹ không ném bom vào dân.

Một đồng chí kể chuyện tiếp quản Đông Hà

–  To hơn thị xã Hà Đông. Ba cầu: cầu vào, cầu ra, cầu sắt. Toàn là súng và sách. Sách đốt không xuể (vì sợ khói lên)

Sách của địch anh em lấy về cũng nhiều. C26 một tổ đài quan sát 6 người, 46 quyển hoàn toàn về văn nghệ. Cả C (chốt) thu gom 180 quyển. Một trạm 2 người mà 5 tiểu thuyết dày. Sau chính trị viên phải mang quang gánh lên gánh về đốt.

Sách đủ loại. Lược sử văn học Việt Nam, Truyện Kiều, Tự lực văn đoàn, thơ Vũ Hoàng Chương, Trạng Lợn, Tây Du, Tam Quốc, Toán đại cương,  Các tầng địa lý, 12 luận đề triết học. Một đồng chí nhận xét :”Truyện của nó không hay” (*)

.

(*) La đà đến tao đoạn này, mụ chữ tôi bòn mót trong Nhật ký chiến tranh cả trăm trang từ Bắc xuôi Nam năm 1972, ông phóng viên chiến trường đi “thực địa”, sau là nhà phê bình văn học Hà Nội, ông đã đưa vào blog của mình ngày 20-7-2012 lời phi lộ:

“…Trong những điều tôi ghi ở đây từ 45 năm trước có nhiều điều nay tôi đã nghĩ khác, chữ nghĩa cũng phải khác. Nhưng để tôn trọng quá khứ, tôi xin phép vẫn giữ nguyên. Mong được sự đồng tình của các bạn…”.

5h chiều, ở Cam Lộ

Thấy một gác cao, nghĩ giá kể thời bình vào chè lá. Đoàn đi hơn 20 người (vệ binh, hậu cần…). Dọc đường xe tăng mình, xe địch nằm ngổn ngang. Gặp nhiều xác chết nằm dang tay dang chân. Những giao thông hào chằng chịt, vào một hầm rộng đủ cho 3 anh em. Bật đèn pin trong hầm,  lấy lương khô ra ăn. Ăn cơm xong, tôi rủ Nguyễn Đình đi dọc bờ sông. Sông gợn sóng. Vớ được một xuồng, chèo quanh. Thị trấn Cam Lộ rất đẹp. Ghé xuồng vào nhà bỏ trống của một sĩ quan địch ở ngay bờ sông. Nhà đầy sách vở.  Nguyễn Đình gọi tôi vào hầm viên sĩ quan chỉ cho thấy một đống sách cao. Tôi nhìn đầu sách mới biết đó là truyện kiếm hiệp của Tàu.

Bị chững lại với “truyện kiếm hiệp của Tàu”…bụng dạ mụ chữ tôi đồ là truyện chưởng Kim Dung. Các bộ truyện của Kim Dung ít tác giả nào của miền Nam so nổi về số lượng độc giả hâm mộ. Theo báo Thời Nay năm 1974, riêng bộ Cô gái Đồ Long (sau đổi tên là Ỷ thiên đồ long ký), tiệm Cảnh Hưng đã mua tới 100 bộ để cho thuê. Các truyện khác như Tiếu ngạo giang hồ, Lục mạch thần kiếm, mỗi tựa mua trên 10 bộ.

Hôm sau tới Đông Hà

Khát nước vào tiệm giải khát, bàn ghế ngã đổ chỏng gọng, không có bia, cà phê gì. Chọn một căn nhà to làm trụ sở Ủy ban quân quản. Anh em chỉ cho những thùng bia. Say, mát. Tôi vưa uống bia vừa đọc sách giáo khoa luận đề văn học. (*)

(*) “…Sau 75, tôi làm nghề nghiên cứu văn học, tôi cảm nhận được phần nào sự khác biệt giữa hai nền văn học Bắc-Nam và nay tìm cách xét đoán.

Về tính nhân bản, giới văn học miền Bắc lý giải nghĩa thường giản đơn và cổ lỗ. Họ giải nghĩa rất…”mới” là tính nhân bản chiến đấu chống lại mọi áp bức bất công.

Cách giải thích của miền Nam theo tôi hiểu của phạm trù ở các xã hội hiện đại. Là giúp con người đạt được bản ngã đích thực của mình, để sống trọn kiếp nhân sinh…”

16/6/72

Tôi ngồi ở cụm chân tre đọc sách, dưới là con suối. Đàn bò đủng đỉnh xuống uống nước. Đi theo đàn bò là một ông cụ mặc áo rằn ri, nhưng lại đội mũ giải phóng, ở đây, người ta là thế, mỗi người đều mang trong mình hình ảnh hai miền của đất nước.

Tôi đang đọc một quyển sách viết về chiến tranh, một người ngoại quốc viết mấy chục năm nay, VN của tôi liên miên chiến tranh, những thế hệ liên tiếp đã kế tiếp nhau cầm súng. Tôi nghĩ đến những người Đức, người Trung Quốc dẫu sao đánh nhau một hồi nay họ cũng đã được nghỉ. Chỉ mình là còn đánh nhau.

Nhớ một hôm, cũng bên một dòng suối, một đồng chí nói:

– Đời con mình mà còn đánh nhau, thì đất nước này tan hoang chứ còn gì nữa?

18/6/72

Một mùa hè Quảng Trị

Mặt đất đang bị mặt trời thiêu cháy, hay là con người tự hủy diệt đang tự dày vò, tự thiêu cháy. Một anh bạn tả Quảng Trị: Thành phố bây giờ là phố xá của ruồi, của bò. Quá nhiều bò lang thang….Vượt qua con đường số 1 do Mỹ mới làm, đường to, nhựa trộn đá rải kỹ. Những chiếc xe bị pháo tanh bành. Những khẩu súng. Những băng đạn…(lần đầu tiên tôi thấy những băng đạn dài như vậy, như một con rắn, nằm dài vắt ngang đường. Sau anh em bảo rắn cạp nong gì, đạn đại liên đấy).

Ở Hải Lăng

Tôi đang đi trên một vùng đất mà những cồn cát đi lún chân. Trên trời lúc nào cũng có tiếng máy bay, mây ùn ùn trên trời là cụm mây từ một đám đánh bom kéo lên, và thỉnh thoảng, lại một vệt cháy. Đạn tăng tốc, lửa tóe ra trên bầu trời.

Tôi đang đi trên một vùng đất mà mặt đất xáo lộn, nhìn đâu cũng có những hố bom, vùng đất mà nhà cửa tung tóe, những người dân và những người lính soi mói lục lọi trong những đống gỗ, đống giấy vụn, tất cả trộn lẫn với đất, bụi, trở nên nhơm nhếch. Chỗ nào cũng có thể gặp những thứ có thể giết người. Biết đâu chỗ nào còn bom bi, chỗ nào còn mìn. Và kia, biết đâu bữa trước, là nơi mà một người nào đó nằm xuống.

trích: Người cho thuê truyện

(…Hàng chục ngàn quả đạn pháo từ bờ bắc sông Bến Hải, bắn qua giới tuyến, phủ chụp các căn cứ Đầu Mầu phía tây, Quán Ngang phía đông, khởi đầu chiến dịch Xuân Hè. Sau cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968 bất thành, lực lượng du kích rút sâu vào rừng núi, tình hình tại Quảng trị, Thừa Thiên khá yên tĩnh nhiều năm. Nhưng lần này là cuộc tấn công trực diện của quân chủ lực miền Bắc: Các đoàn xe tăng tràn qua sông Bến Hải tiến về Đông Hà. Các loạt pháo kích dồn dập dọn đường cho bộ binh theo sau, được bảo vệ bởi các hỏa tiễn từ vùng phi quân sự.

Hòa đàm Paris dự trù mở trở lại vào tháng 7 năm 1972, cả hai bên đều tăng cường hoạt động để giành thế mạnh. Ba ngày sau, quân miền Bắc đẩy lùi các phòng tuyến bảo vệ của quân miền Nam, tràn qua Cam Lộ, nơi có con đường 9 huyết mạch chạy từ Đông Hà qua Lào. Sự tham dự không lực Mỹ rất giới hạn do mệnh lệnh nào đó, gần như bất động trong thời gian này. Quân miền Nam tổn thất nặng, rơi vào hỗn loạn. Căn cứ Cồn Tiên thất thủ. Cầu Đông Hà bị giật sập làm chậm bước tiến đối phương nhưng cũng chỉ được vài ngày. Dân chúng và chính quyền địa phương rút chạy về phía nam.

Gia đình tôi vào Huế, ở tạm nhà dì tôi ở bến Đập. Ngày 3 tháng 4, khi chúng tôi đang ở Huế, trên vô tuyến truyền hình, tôi thấy tướng Hoàng Xuân Lãm tư lệnh vùng 1 kêu gọi phản công trên các mặt trận. Ngày 6 tháng 4, hỏa tiễn và moọc chê bắn vào Đông Hà.

Hai tuần lễ yên tĩnh, một số dân chúng từ Huế, Đà nẵng lần lượt trở về nhà. Đến ngày 27 tháng 4, tình hình lại thay đổi, với các cuộc tấn công từ rừng núi phía tây vào căn cứ Ái Tử của Sư đoàn 3 bộ binh. Ngày 28 tháng 4, Đông Hà thất thủ. Bộ tư lệnh sư đoàn 3 rút qua sông Thạch Hãn về thị xã Quảng Trị. Do cầu Ga bắc qua sông Thạch Hãn bị giật sập trong khi các toán quân cuối cùng của sư đoàn này và nhiều chiến xa, đại bác chưa kịp qua cầu. Các vũ khí nặng bị phá hủy bên bờ bắc, trong làng tôi, gây những tiếng nổ khiếp đảm hơn. Trên bến đò Nhan Biều tôi qua lại mỗi ngày, những chiếc xe quân sự chúc đầu xuống nước nghi ngút bốc khói, mặt sông dầu loang loáng xanh lè.

Một ngày sau, trưa 29 tháng 4, xe tăng và bộ binh Bắc quân bắt đầu tiến qua sông. Lữ đoàn 147 Thủy quân lục chiến, buộc phải rút khỏi thị xã Quảng Trị. Tướng Vũ Văn Giai tư lệnh sư đoàn rời khỏi cổ thành Đinh Công Tráng giây phút cuối. Lữ đoàn 147 rút theo đường số 1 đến bờ nam sông Mỹ Chánh, bị pháo kích nặng nề trên đường đi…)

“Bị pháo kích nặng nề trên đường đi”, khi không trong trí nhớ mù sương mụ chữ tôi qua sách báo năm 1972, quãng đường từ cây số 52 chỉ mươi cây số ngang Hải Lăng bị pháo của Bắc quân từ trên núi bắn xuống đám dân và lính đang bỏ chạy toán loạn, hàng ngàn người bỏ xác trên đường. Nên khúc đường này có tên là “Đại lộ kinh hoàng”.

Mụ chữ tôi lại được thể quăng quải tới năm 1952, quân Pháp bị phục kích trên Quốc lộ 1 từ Hải Lăng đến Mỹ Chánh. Cả trăm người, cả hai bên bỏ xác trên đoạn đường này. Nên nơi đây được ký giả Bernard Fall đặt tên là “Con đường buồn thiu”.

25/6/72

Một phòng tuyến mới hình thành, sông Bến Hải thay bằng sông Mỹ Chánh.

Đêm đêm, lúc thấy pháo sáng rơi nơi đó, B52 thả, quân hai bên thọc sang nhau. Thành phố bị tàn phá, những tủ sách bị đập vỡ. Những người khác lấy một quyển sách xong có thể vứt ngay đi. Tôi thì tôi phải cẩn thận xếp lại chỗ cũ. Và rất ngại, khi phải đặt chân trên những quyển sách đó. Đáng ra, là không nên như thế, một thoáng tiếc xót.

Khi tôi viết những dòng này, tiếng ùng oàng của những loạt pháo nghe rõ hơn hết. Một thằng liều như tôi, nhiều lúc vẫn phải tính chuyện xuống hầm. Địch đổ nghe gần đây, cách đây 8 km. Suốt ngày ở Quảng Trị này, đại diện những đơn vị pháo, bộ binh đến trao đổi, phối thuộc. Tiếng chuông điện từ đủ các B dội về, nghe cập rập đến nơi rồi. Những ngày xả hơi của người lính như đã qua, bắt đầu căng thẳng. Hầm chưa xong là

phải làm đêm. Đi đâu một người cũng phải báo cáo.

4/7/72

Người Quảng Trị quen hút thuốc, mấy bố con chạy loạn cũng ngồi xuống bờ ruộng nhàn tản hút thuốc. Bố dúi cho con bịch thuốc chưa thái. Mấy đứa con thay nhau ôm bị báo làm giấy. Chạy loạn ông bố mang theo cái kéo và đứa con buồn tình lại lôi ra cắt giấy. Tôi không khỏi phì cười khi trong số những báo mang ra làm giấy quân thuốc có những tạp chí gọi là Hành trình, Trình bầy…Tôi cầm từng tờ rời nên đọc đứt đoạn.và nghĩ giá kể mình thành một người viết về trí thức miền Nam thì cũng khối việc để làm. Vì tôi phát hiện ra một miền Nam mới qua những trí thức miền Nam phác họa tình hình đất nước.

Qua tình hình chung của đất nước, tôi nghĩ đất nước mình đang cực khổ quá, mình cũng đang ở trong tình trạng chung của sự bất lực của cả một  dân tộc.

18/7/72

Lại vẫn có nhiều tin đánh nhau. Nghe nói có thêm nhiều đơn vị vào tham chiến. Chiến trường bây giờ cả thảy đâu 6 sư đoàn, chưa kể những đơn vị phối thuộc. Mặt đất Quảng Trị đã nát tương ra vì những trận càn, những trận đánh bốn năm trước, nay lại đang phải tự chứng tỏ một khả năng chịu đựng mới. Bao nhiêu là bom đạn dội xuống trên những ngả đường, dọc những con sông, con suối. Vậy mà bộ đội vẫn cứ ùn ùn kéo tới. Những người lính như một thứ nấm đất, một thứ con của đất, đội đất, đội cỏ mà lên.

Chiến tranh đã bùng nổ đến mức cao nhất. Nhịp điệu nhìn bề ngoài thì còn chậm. Chưa thấy có những trận đánh lớn. Kẻ địch đang muốn ta đánh theo cách của chúng. Phi pháo nhiều quá. Lúc nào cũng nghe anh em kêu “Nếu không có máy bay thì…”.

19/7/72

Ai đó kể: Lính năm nay trẻ quá, nghe thấy có B52 là quắn đít lại: “Thủ trưởng ơi làm sao bây giờ”. Một ông thủ trưởng phải lấy gậy quất anh em về hầm. Dập cả một cái gậy. Lính kể giá ai cũng như thủ trưởng của các em, thì mình thắng từ lâu rồi. Đằng này thủ trưởng các bạn ây chả ai tiến lên, các em nhìn lại không thấy thủ trưởng đâu cả.

Nghe cấp trên dặn để địch tới 15 m mới bắn. Nhưng một cậu để gần tới,…gần tới thì ngoảnh lại: “Nhưng mà là…người Việt mình, không bắn được thủ trưởng ạ“.

18/9/72

Đi Quảng Trị về. Trong một buổi tối bàn luận về thời sự.

Phạm Tiến Duật: Mình bảo nó chiếm lại Quảng Trị cho mà xem. Đoán rồi, chỉ mong mình sai, nhưng lại toàn thấy đúng cả. Ấy thế mà nó chiếm lại Quảng Trị cách đây hai hôm, hoá ra mình đúng thật. (16-9-1972). Sau đó mình cứ thắc mắc, sao mình không thắng nó. Bây giờ  hiểu rồi, phong kiến phải thua tư bản, thì tất nhiên rồi.

Xuân Sách: Tình hình này, không ngừng đánh nhau thì chiến tranh kéo đến bao giờ. Không biết người mình say đánh nhau hay sao đấy. Ông Duẩn có lần bảo đánh cho đến lúc nó phát chán thì thôi cơ mà. Hoá ra chính mình phát chán chứ không phải nó chán..

Phạm Tiến Duật: Ta đã quay bốn năm chiến đấu. Có ai biết đâu rằng kỳ này, dân tình nát bét ra, ai cũng muốn thôi. Bây giờ, mà lên rừng ấy à có ma biết rằng mọi chuyện sẽ ra sao nữa. Ở trong đó họ có câu: “Năm nay ăn tết rừng xanh – Sang năm ăn tết ở quanh rừng già – Anh ơi cố gắng nuôi gà – Để ta lại chuẩn bị ăn tết rừng già rừng xanh”.

trích: Người cho thuê truyện

(…Ngày 1 tháng 5, quân miền Bắc chiếm thị xã Quảng Trị. Dân chúng tiếp tục ra đi trong hoảng loạn. Họ chia làm hai ngả, trên quốc lộ mới hoặc rẽ xuống quốc lộ cũ, phía biển. Quảng Trị nhiều cát, nhiều sông, nhiều rừng, vì vậy chỉ cần đến bìa rừng là đã đặt đường quốc lộ chính vào tầm mắt, lọt vào tầm đạn. Khi các đơn bị địa phương quân bảo vệ các trục lộ giao thông rút đi, quân miền Bắc dễ dàng đưa súng lớn vào trong một đêm. Một vài khẩu đại bác từ trên các đồi cao, từ các điểm cao, thừa sức uy hiếp đoạn đường từ thị xã vào Huế. Hình như họ đã kiên nhẫn chờ và tìm cách dùng bộ binh để đẩy lui đoàn người tị nạn. Đến một lúc không thể ngăn cản được, họ đã nổ súng, đạn đại bác rót ngay vào giữa mặt đường lộ, trên đầu những người di tản. Ba tháng sau, các lực lượng Nhảy dù và Thủy quân lục chiến phản công từ phía nam cũng đã đi qua đoạn đường này, đếm được nhiều bộ xương khô còn sót lại.

Tiếng đại bác rít trên đầu chúng tôi, tiếng nổ gầm vang, lửa, khói dày đặc, tiếng la hét, í ới, tiếng than khóc, tiếng rên rỉ, hoảng hốt. Đạn bắn rất gần, tiếng súng chống tăng M72 của quân miền Nam, B40 của quân miền Bắc, súng cối, AK 47 đinh tai, M16 sát thương khủng khiếp. Đoàn người chạy ngược lại tới cầu Bến Đá, cầu cũng vừa bị giật sập. Chúng tôi cùng với một số người bơi qua sông. Tôi và cha tôi chạy qua những rú, những truông, cỏ lau mọc phất phơ cao ngất, những đồi sim tím, muồng muồng đen, tre cào xước mặt, mây quấn lùng nhùng. Ngó xuống, bắp chân đầy máu vì gai nhọn. Chạy qua một căn nhà trống, gió thổi tơi bời phên liếp, trước cái cột nhà đen bóng, cha tôi dừng lại. Tôi nhìn qua vai ông, trên cột treo tấm lịch. Tờ lịch đứng lại ngày 30 tháng 4.

Nỗi sợ hãi khủng khiếp khi bạn chạy lạc, lọt vào tầm đại bác, úp mặt trên cỏ, thân xác phơi ra, không có gì bảo vệ, tiếng depart, tiếng đạn réo trên đầu. Cha tôi cầm tay tôi chạy hốt hoảng giữa đoàn người. Tôi lạc mất cha tôi, giữa những cái xác. Đêm tôi thức dậy một mình, nằm trong một cái hố cát nhỏ trong vườn cách xa quốc lộ vài chục mét. Có một tấm vải bạt đắp ngang người tôi, như thể có một người nào đi ngang qua và đắp cho tôi. Đêm mùa hè, sao trời sáng rực, Tôi ngồi dậy, mỏi rã rời, lắng nghe tiếng ve sầu bàng bạc lưng chừng cây như khóc than, báo cho tôi biết rằng đây không phải là nơi trú ẩn an toàn. Tôi nhắm mắt lại. “Ba”. Tôi gọi khẽ. Không tiếng trả lời.

Giữa chiến tranh, không có một niềm hy vọng nào cả, tôi nằm đó, nhìn sao, qua những cành lá, cỏ may, cỏ hổ ngươi, một nỗi buồn từ từ dâng lên như khi bạn đi vào giấc mộng, cánh cửa sập lại đằng sau và bạn sống với những quy luật khác. Chỉ vài năm nữa thôi nếu chiến tranh tiếp diễn, tôi sẽ phải cầm súng. Đây là đất nước tôi, đây là ngày mai, nhưng tôi chẳng có tiếng nói, không ai có quyền quyết định trước số phận. Tại sao nằm giữa chiến tranh, kề cận cái chết, tôi lại nghĩ những điều mông lung, tôi muốn nghĩ một điều gì để quên đi hiện tại, tôi muốn ghi nhớ vì ngày mai xóa sạch ngày hôm nay. Vì nỗi thương tiếc chẳng làm nên tích sự gì. Tôi đã bơi qua dòng sông cùng với cha tôi, rồi thất lạc, rồi tôi bơi một mình qua dòng sông khác…)

Hà Nội 18/1/1973

Chờ đón hội nghị Paris

Nguyễn Khải kể, gặp ông Chế Lan Viên cho một câu phủ đầu: “Dân Hà Nội phấn khởi lắm, anh nào cũng muốn đánh nữa“. Nguyễn Khải đã định nói thật: “Tôi tưởng thế là mình đành chịu rồi còn gì nữa vì nghe tin Hà Nội đang cạn kiệt hoả tiễn Sam”. Nhưng chưa kịp nói, lại nghe ông chửi Liên Xô, Trung Quốc. Khải định ”phang“ lại một câu nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy không cãi lại được với ông này, nên lảng sang chuyện khác.

Vương Trí Nhàn: Dạo này ông Khải muốn giữ thân để nay mai có gì để viết chứ.

Nguyễn Khải: Đúng, dạo này tôi trốn biệt. Gặp những ông như ông Nguyễn Tuân thấy cũng không nói chuyện được nữa. Ông ấy lại trách nước nọ, trách nước kia mới thấy ông ấy cũng là người của một thời. Rồi gặp lão lờ phờ như Tế Hanh lại càng chán tợn..

Vương Trí Nhàn: Tôi chỉ không hiểu sao Mỹ nó lại có thể chịu ký một hiệp ước hòa bình với mình như thế. Mỹ nó cũng biết không phải nó đứng bên bờ vực thẳm, mà là mình bên bờ vực thẳm. Mỹ biết rằng mình đã bị lừa nhiều rồi. Rằng mình rất cay mấy tay kia.

Rồi cả đám cùng trở lại chuyện chung

Bùi Bình Thi: Thế nghĩa là có một cái gì đấy thuộc về bí mật của giới lãnh đạo? Tôi nghe Chu Ân Lai nói ông Duẩn rất ghê, đến nỗi thằng Chu chỉ sợ ông ấy bị lật.

Huy Du: Một đại tá làm báo Quân đội Nhân dân bảo tình hình này mà dân Hà Nội chưa nổi lên, thì cũng lạ. Rối ren, bế tắc.

Bùi Bình Thi: Rối ren thật vì ông Lê Duẩn đã nói phải 15 năm nữa. 15 năm mà đồng bào miền Nam còn tin yêu đảng thì chúng ta sẽ có thống nhất.

Huy Du: Chính các ông Việt cộng giải phóng không muốn thống nhất chứ ai. Xem, như thằng Xuân Hồng Nam bộ origine, ra đây nó có chơi với thằng nào không, nó chỉ muốn chuồn về Nam. Thằng Bắc muốn thằng Nam cũng thành XHCN như mình, thì theo đúng lý luận của chủ nghĩa Mác hãy để cho thằng Mỹ đầu tư vào, sản sinh ra giai cấp công nhân mới, rồi những người cách mạng ấy sẽ làm cách mạng đổi thay.

5/3/73

Chuyện người trong Nam ra ngoài Bắc

Phan Nhật Nam theo ra trao đổi tù binh về viết (mới đầu tôi nghĩ có đúng thế không hay chỉ là đồn bậy?)  người ta đã biến Hà Nội thành một thành phố vô tính (không ra đực, không ra cái), một thành phố không có người. Cái câu: “Tôi bước đi, không thấy phố, thấy nhà” của Trần Dần cần phải thay bằng: “Tôi bước đi không thấy phố, thấy người”.

Ra Bắc, đám sĩ quan Sài Gòn người gốc Hà Nội chẳng thiết về thăm nhà mình, toàn đi chụp ảnh. Ra công viên họ chụp một dãy ghế đá vắng người. “Đây Hà Nội chủ nhật”. Và chụp một bức tường mà rất nhiều người Hà Nội đều biết, với dòng chú thích: “Bức tường này, gần 20 năm trước, chúng ta rời Hà Nội ra đi, giờ vẫn như vậy”.

Về lại Sài Gòn, Phan Nhật Nam viết lên báo:

– Chính là các anh cần phải được giải phóng, chứ không thể giải phóng ai hết.

Rồi mọi sự hoá nhênh nhang nhoè nhoẹt như cháo vữa, vì chính mình viết một bài báo mọi người truyền tay đọc trong Tài liệu tham khảo: “Ngày tù binh Mỹ cuối cùng về nước, nét mặt người ở lại không thấy một thoáng căm thù”. Thế là thế nào? Hay người dân ở đây đã bắt đầu hiểu rằng tai vạ không phải do những người Mỹ kia gây ra.

Tiếp đến mình bới ra chuyện cho rắc rối thêm. Nhân Xuân Thiều đi Hội nghị nhà văn Á Phi, kể một ít chuyện về Chế Lan Viên. Đâu như tại hội nghị, ban tổ chức nó không treo cờ miền Nam Việt Nam. Ông Chế Lan Viên thắc mắc, làm om cả lên. Rõ thối inh.

16/3/73

Chuyện người ngoài Bắc vào trong Nam

Có tin cán bộ trong kia của mình bị đánh. Ở Huế dân đánh cán bộ thực sự? Chả là trong ngày lễ cầu siêu cho những người bị chết Tết Mậu Thân năm 1968. Lúc ấy chỉ cần ai lỡ mồm nói ngược, với lại xúi bẩy một chút thôi, là chết với người ta ngay.

Nhân đây nói một chuyện cũ của Huế. Nhiều người nghe được từ phía bên kia, đều bảo rằng năm 1968 là năm ta tàn sát dân khá nặng. Một chỉ huy mặt trận phía nam Huế là ông Thân Trọng Một đã có lần thú nhận chuyện ấy…Phải chăng, đó là một sự thất bại?

Thêm chuyện nữa: Lần đầu tiên, sĩ quan mình vào Sài Gòn, và sĩ quan bên kia ra Hà Nội. Bên kia rất trẻ. Ở Sài Gòn ta cho đi toàn những ông già. Mình nghĩ mình khôn, nhưng có phải khôn hết đâu. Ngay cả những người nhanh nhẩu nhất của báo chí, cũng có những chỗ hớ. Phương Tây đưa tin: Trung tá Bùi Tín bắt tay một sĩ quan nguỵ. Nó không bắt. Ông này tương một câu thối hoăng: “Thế anh không hoà hợp dân tộc à?”.

Những buổi “tiễn” Mỹ về nước, là một dịp để cho các nhà báo của ta có dịp được gặp rất rộng rãi người của phía bên kia. Khốn nạn, không ai dám hé răng hỏi và trả lời họ câu gì. Nếu có thì lại thở ra toàn những câu ngớ ngẩn:

– Ra đây, thấy B52 nó đánh Hà Nội anh có đau xót không?

– Vâng, chúng tôi cũng đau xót, như đau xót khi thấy các ông tàn sát dân Huế.

Sau chuyện rõ ra, khi Hoàng Phủ Ngọc Tường ra Hà Nội, tôi và Bảo Định Giang ra sân bay đón, oai lắm. Hôm sau Giang thết tiệc linh đình. Nhưng ít lâu sau lộ ra chuyện ông Tường nặng tay với dân Huế. Rồi dần dần, người ta quên ông Tường. Bảo đi nước ngoài bao nhiêu lượt rồi, đoàn nào cũng trượt. Định đi Rumani người ta lại nói thôi. Bảo đi theo anh Nguyễn Đình Thi sang Đức. Không, ông ấy ở chiến trường ra, to lắm. Không biết chừng nay mai ông Tường muốn về Quảng Trị cũng không có tiền ôtô mà về.

trích: Người cho thuê truyện

(…Sau nhiều giấc ngủ chậm chờn, những giấc mơ ngắn, mồ hôi ra đầm đìa, tôi ngồi dậy, từ trong cái hố cát nhỏ trong vườn bên Quốc lộ 1 nghe ngóng, nhìn lên mặt đường. Tôi ngạc nhiên về im lặng, xen lẫn sợ hãi, người tôi run lên từng chập. Chân tôi dầm trong cát mát lạnh vì sương đêm, cơn đói tới dồn dập. Tôi bò quanh tìm trái mít rụng, tìm dễ nhờ mùi thơm. Đó là một trái mít ướt, tôi úp mặt xuống, ăn ngấu nghiến. Khi đã no, tôi bắt đầu nghe tiếng dế kêu trong cỏ, con dế nào vừa ra khỏi hang đi tìm bạn.

Những buổi chiều ngồi trên võng tôi la đà đọc, nhẩn nha, theo dõi tâm sự của Kiều Phong, sự lầm lỡ của Nhạc Linh San, cuộc phiêu lưu của Tiêu Lĩnh Vu. Đang học ban toán, tôi bỏ bê, bài tập về nhà không chịu làm. Vì có thói quen theo kịp những đoạn đường ra Băng hải đảo của Trương Vô Kỵ, những thế võ của Mộ Dung Phục…

Ngõ hẻm, chị chủ nhà đứng chờ sau tủ sách, cây bút chì trên tay chậm chạp ghi tên bạn lên cuốn tập học trò. Người đàn bà ấy ghi thật chậm vừa chép vừa đánh vần, đôi khi đọc thành tiếng. Như vậy tôi có cả buổi chiều, cơn mưa đám mây, bến đò ngồi đợi, chuyến đò cuối cùng ngày thứ bảy, chiếc võng trước hiên nhà, dưới dàn thiên lý hoa thơm. Tôi nằm trên võng, trong im lặng của vùng quê yên tĩnh, như có chiến tranh mà như không có chiến tranh. Một ngày tròn trịa như chú gà non mới nở từ quả trứng, vừa nhảy ra kêu chim chíp trên sân. Rồi nó bỗng vươn cánh, xòe rộng, bay đi mất.

Tôi sống giữa những nhân vật kiếm hiệp, và những nhân vật ấy, người tay đao tay kiếm, rút nhanh như chớp. Một kiếm sĩ khí phách dám xông vào sơn trang mà chủ nhân là kẻ tà đạo, tất nhiên. Trong cuộc diện kiến quanh bàn tiệc, khi mọi người trổ tài khuất phục người khác, chàng chẳng làm được gì cả. Kiếm sĩ ngồi đó, khiêm tốn và nhẫn nại, như lịch sử. Cho đến khi chẳng đặng đừng, liền cầm tách trà bằng sứ lên thuận tay liệng ra cửa sổ. Giai nhân đem lòng yêu chàng, có mặt ở đó, lấy làm ngao ngán về môn công phu quá ư tầm thường. Tôi cũng ngạc nhiên, thất vọng. Câu trả lời tất nhiên thuộc về tác giả, ở chương sau, trong một cuốn sách khác hình như Sài Gòn chưa kịp in, hay chị chủ nhà cho thuê chưa kịp mua về. Tôi không biết, chỉ nhớ tôi đợi dài cổ xem chương tiếp, không ngớt thắc mắc về số phận nhân vật.

Nhưng chương kế tiếp không bao giờ đến, trang sách bị xé rách, tan hoang. Tôi sống lẫn lộn giữa ký ức và tương lai, giữa bùn lầy nước đọng và ánh điện, đèn chớp tắt xanh đỏ, giữa ảo tưởng của hiện tại và nỗi mơ hồ của tương lai, giữa cái đẹp và tội ác. Văn học làm giàu trí tưởng tượng chừng nào càng làm chúng tôi xa rời sự thật chừng ấy, một thế hệ lớn lên mơ mơ hồ hồ, chẳng biết trong chiến tranh phía nào là đúng, phía nào là sai. Cả một dân tộc, hay ít nhất một nửa, như mê đi, như khờ dại, một tâm trí văn hóa mù mờ lẫn lộn, không thực tế, không sẵn sàng trả lời các vấn nạn trước mắt…

Tờ mờ sáng hôm sau, đã yên tĩnh, tôi đi ngược về phía bắc, giữa mùi thuốc súng, mùi bánh xe hơi và nhựa đường cháy khét, chạy lúp xúp bên đường. Sắp tới ngã ba Long Hưng gần con đường rẽ ngược lên phía nhà thờ La Vang, tôi nhìn thấy một xác chết nằm ngay trên vệ cỏ, khuất sau một chiếc xe đò bị bắn cháy. Vì chiếc xe chắn ngang mặt đường, tôi phải đi vòng ra sau một đám cỏ khá cao. Đó là một người phụ nữ trông hãy còn trẻ, một tay vòng trên bụng, một tay xoải ra, bàn tay khuất trong cỏ như một người đang ngủ. Hai ống quần rách tươm để lộ bắp đùi.

Vì sao người dân rùng rùng bỏ chạy, không ở lại với ruộng đồng phố thị của mình, người Gio Linh bỏ khu phi quân sự chạy vào Đông Hà, người Đông Hà chạy vào Quảng Trị, người Quảng Trị vào Huế. Bắc quân tấn công các lực lượng quân sự, tuy nhiên, khi nào đám người ấy bị mắc kẹt giữa các mục tiêu quân sự, thì họ cũng sẵn sàng hy sinh dân lành, lối hành xử bạt mạng như pháo kích bừa bãi đã xảy ra. Có lẽ chiếc xe đò của người phụ nữ đã trúng phải mìn hay B40 vì sức ép, tôi chỉ đoán thế. Trên người không một vết thương nào khác. Khi sắp bước đi, tôi bỗng giật mình, quay lại nhìn khuôn mặt một lần nữa. Tôi đau nhói như bị bắn vào ngực.

Dáng người và khuôn mặt ấy, tôi không thể lầm, đó là chị chủ nhà tiệm cho thuê truyện mà tôi vẫn gặp hàng tuần. Tôi tới gần hơn, phía cánh tay của chị duỗi thẳng, tôi nhìn thấy trong cỏ cao một bàn tay cháy xém, các ngón tay chỉ còn xương và gân…)

Những ngày hòa bình đầu tiên

Tôi đón nghe tin hoà bình vào buổi tối 23/1. Tôi say say như vào một đêm giao thừa. Tôi chịu không nổi, phải đi ra đường phố. Đèn sáng trưng. Đêm yên tĩnh.

Đi đâu cũng nghe những tiếng gõ của bánh xe bò chở than, tiếng móng bò đập trên đường. Chuyến xe đen, người đánh xe bò đen, gió bốc lên, làm đen cả những mặt người. Ban đêm nhìn theo bóng dáng một khối lùm lùm trên đường, chỉ thấy ngọn đèn xe lắc lư. Rất khuya, tôi lắng nghe tiếng bánh xe lăn. Trong đêm tối, tôi nghe từ lòng đường tiếng móng bò điểm đều đều từng nhịp trên đường. Tôi nghe rõ từng tiếng một, cái thứ tiếng móng bò đó. Nó thanh, khô, gọn, mà lại thoáng như là ngân lên trên đường phố. Đất nước của tôi chỉ có thế thôi, trung cổ một cách không thể lẫn với đâu được.

Tôi bắt gặp người đánh xe như đang thiu thiu ngủ, như đang sống qua đi cho xong chuyện. Nhưng con bò vẫn đi, cái xe vẫn sống. Trong khi đó, con bò cứ chầm chậm đủng đỉnh mà đi. Người đánh xe còn mải nghe gì đó.

Cùng lúc, tôi nghe tin hoà bình ở đầu đường Lý Nam Đế, chỗ vườn hoa hàng Đậu.

trích: Người cho thuê truyện

(…Đêm trước, tôi thức dậy mấy lần vì tiếng mít rụng trong mơ hồ lẫn lộn. Nằm không xa tôi mấy là chị, mắt tôi mờ thấy chị lẩn khuất từ một thành phố trong bom đạn. Khuôn mặt trong cát bỏng xao xác. Nghĩ đến chị, tôi lấy lại can đảm, lấy lại sức mạnh, tôi bò dậy vừa đi vừa chạy qua đoạn đường dài, băng qua thị xã, chạy qua trường Bồ Đề, xuống bến đò, bơi qua sông Thạch Hãn, một dòng sông mà sau này tôi sẽ bơi ngược trở lại…Gió mùa Quảng Trị thổi nhiều giọng. Rú từng đợt khi qua đèo Lao Bảo, nỉ non rì rào cuốn bụi đỏ từ Dốc Miếu lời nhắn gởi của gió, lời nhắn gởi của tiếc thương.

Tôi đã bơi qua sông Thạch Hãn. Bơi lặng lẽ, không phải để dành tiền đò thuê truyện Kim Dung, mà để chạy trốn cái chết. Đêm yên tĩnh lạ lùng. Mùi mít mật dâng lên từng đợt. Tôi ngửng đầu, sao băng chi chít. Có một ngôi sao sáng hơn cả, tôi bắt chước một nhân vật tiểu thuyết gài cúc áo lại để cầu nguyện cho cha mẹ anh chị không ai còn phải chết vì súng đạn hay vì hận thù. Ngôi sao băng ấy có lẽ nghe được lời cầu nguyện của tôi nên vạch một đường thật dài, thật chậm, như linh hồn người đàn bà cho thuê truyện quê Dốc Miếu đã bay lên cao còn nhìn ngoái lại quê mình ở cuối dốc có cái miếu…)

***

Thế rồi từ anh bạn trẻ bơi qua sông Thạch Hãn trong đêm về lại Quảng Trị (tôi đồ chừng vậy), về lại con hẻm nhỏ ở gần chùa Tỉnh Hội để đi tìm cái bảng nhỏ đề ba chữ: “Cho thuê truyện” như tấm mộ bia cắm trên nấm “mộ chữ”. Thêm người Hà Nội làm văn, vì cái nợ chữ nghĩa, ông vác ba lô hơn năm tháng trời loanh quanh Cam Lộ, Đông Hà, Quảng Trị, Ba Lòng nhặt nhặn sách truyện trong khi lang thang trên phố xá đổ nát.

Ừ thì nào khác gì khi rày, mụ chữ tôi ngồi với cái bàn gõ, mõ sớm chuông chiều về căn nhà ở đường Thiệu Trị. Vừa lúc lão Năm đạo tỳ say xỉn đi ra từ cái nghĩa địa lùm lùm những mồ mả với cái tháp cao nghều nghệu là cái lò thiêu. Mụ chữ tôi hấm húi đi theo lão ra đường Trương Minh Giảng có tiệm cho thuê truyện, có cái quầy sách nhỏ…

Thạch trúc thảo lư

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 

Nguồn: Lão Năm đạo tỳ – Vĩnh Khanh

Nhật ký chiến tranh 1972-1973 – Vương Trí Nhàn

Người cho thuê truyện – Nguyễn Đức Tùng

Tiệm cho thuê sách, dấu ấn một thời – Phạm Công Luận

 

 

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2021