Ngộ Không Phí Ngọc Hùng: 60 NĂM TÌM LẠI (bút ký 1963-2023)

Con Bú Dù (magot) ở Paris và Tác Giả

Cụ NK/PNH vừa đi Tây về được 3 ngày. Ba ngày ấy, thay vì nghỉ ngơi cho lại sức, cụ đã hành xử y hệt bản tính ngộ không, miệt mài ngồi viết lại những gì tai nghe mắt thấy của chuyến đi. Cụ sợ rồi ngày giời tháng bụt qua đi, trí nhớ sẽ đi hoang cùng ngày tháng. Vì vậy, TV&BH, để cho nóng hổi như chiếc bánh mì baguette Paris cụ Ngộ Không vừa thổi vừa trệu trạo, cho ké ngay bài BÚT KÝ này vào góc GÓP NHẶT SỎI ĐÁ hầu độc giả. Xin kính mời cùng theo chân cụ Ngộ đi Tây (TV&BH).

Nghĩ vụng đất này là đất văn chương, văn học, bèn ăn mày chữ nghĩa theo cụ Tú Xương: Nhập thế cục bất khả vô văn tự – Chẳng hay ho cũng nghĩ một vài bài. Chữ nghĩa đã vào khuôn như pa-tê ngỗng đóng hộp chỉ đợi khui ra nhâm nhi với Cointreau. Vậy mà cái đầu vẫn bí ngô bí khoai vì chưa có cảm hứng, theo các cụ ta xưa vì thiếu giây phút yên sĩ phi lý thuần nào đó?

Đủng đoảng thế nào chả biết nữa, ở “nhà khách” 4 sao, va vào mắt một dàn bia cổ lỗ sĩ. Chợt nhớ khươm mươi niên trước phiêu lãng quên mình lãng du qua Đức, ghé quận hạt Duchkholyz bên đường, bước vào quán đập chát vào mặt một “Một mét bia” Kronenbourg. Với hiện tượng giả, hư cấu thật, tôi bày hàng thêm chai 33, la de trái dứa, v…v…

Riêng dàn bia “nhà khách” này rất ư hiện thực với những cái tên lạ hoắc từ thưở khai thiên lập địa nào đó không còn hiện hữu trong cõi nhân gian này nữa. Nói vậy nhưng tôi dòm dỏ cũng thấy bia Kronenbourg của Đức, bia Heineken của Hòa Lan, bia Carlsberg của Tiệp Khắc. Riêng bia Carlsberg mà tôi bòn mót được dành cho ngoại giao đoàn, quan chức thời Nicolae Ceausescu và….tử tội.

       Bạn đọc tặc lưỡi cái bép làm gì rối chuyện với bia bọt. Ấy đấy ở đất này có một quán ăn rất trần ai khoai củ về thịt bò nhưng lại nổi tiếng về bia, xin xem hồi sau sẽ rõ…

      ***

      Bia đá, bia ôm, bia nào cũng vậy, chẳng qua ăn ốc nói…mò, ăn măng nói …mọc, ăn cò nói…bay. Thế nên một ngày, tôi với một ngón tay mổ chữ như cò mổ ruồi trên bàn gõ luận về sự ăn. Chuyện là đang thả bộ trên đại lộ Champs-Élysées với ông bạn “thổ dân” Paris, tụi tôi lạc bước chân ai vào quán Fouquet’s.

      Trên lối đi vào quán, tôi dòm thấy tên tuổi những “tao nhân mặc khách” thời danh như Sean Connery, Alain Delon, Michel Deville, v…v…

      

Lêu bêu theo người Parisien, buôn chuyện thì quán Fouquet’s được thành lập năm 1899 bởi Louis Fouquet, “Fouquet” là họ, ông thêm “‘s” cho…khác người. Thực đơn soạn bởi đầu bếp Pierre Gagnaire, gốc người đảo Corse, nấu theo truyền thống ẩm thực Pháp cổ điển. Tả chân thì người đảo Corse thấp, to ngang như Napoléon Bonaparte. Họ lè phè nên thường làm chủ một quán cơm Tây với hai, ba món.

      Qua trí nhớ lãng đãng như sương, lềnh bềnh như khói…Cuối tuần ông cụ tôi đưa thằng con tới một quán cơm Tây không có tên, nằm trên đường Lý Trần Quán, Tân Định thì phải ? Quán như cái hộp, nằm trên gác xép ọp ẹp có cầu thang gỗ dốc đứng. Rất đặc trưng Tây, quán chỉ có ba, bốn bàn, trải khăn bàn ca-rô xanh, đỏ. Món chính là Chateaubriand, ông cụ tôi cho hay ông chủ quán đây người đảo Corse.

       Bởi ngày ấy tôi mù tịt về đảo Corse, ngày nay mò vào Google: Corse Corsica là một hòn đảo thuộc Pháp, nằm trên biển Địa Trung Hải, gần nước Ý. Người Corsica nói hai thứ tiếng: Pháp và…tiếng thổ dân Corse. Napoléon Bonaparte sinh năm 1769, ở Ajaccio, đảo Corse, mất năm 1821 tại đảo Sainte-Hélène.

Napoléon Bonaparte

       Hôm nay, bạn tôi “thổ dân”, một là thổ dân đây không phải người Corse. Hai là thổ dân là ngoa ngữ Hà Nội thay cho thổ công Sài Gòn. Bạn dẫn dắt tôi thăm thú Paris, hai Mít tôi đi dép lẹp xẹp, lè phè vào quán (đau chân há miệng vì lên xuống metro ấy thôi). Bạn thổ dân học trường Tây, nói tiếng Tây như Tây được người garçon hồ hởi đưa cái menu. Dòm thực đơn với giá trời ơi đất hỡi, nào là thịt bò tartare, thịt bò sốt meunière, thịt bò phi lê Simmental với nước sốt Champs-Elysées.

   

   Tác Giả dòm thực đơn

 (thịt bò Tartare Fouquet)

      Lên đồng với chữ nghĩa, dòm thực đơn, thịt bò Tartare Fouquet chả gồ ghề như Chateaubriand nên chắc mẩm không ngon cơm cho mấy. Đành gọi đĩa cá hồi với giá bèo và chai Bordeaux 2011 với giá phải chăng. Trong khi chờ đợi, tôi trong tâm thái sắp sửa như con cá hồi lội theo dòng nước trở về chốn cũ. Ngẫm chuyện nhân sinh, hai ông Mít tôi dấm dúi chai Bordeaux vì theo truyền thống của các cụ ta thời 54 phải là Bordeaux. May mà hai Mít tôi không theo các cụ, không ới người garçon ngâm chai vang vào nước lạnh, hay cho…đá cục vào ly.

      Rời quán nhìn trời nhìn đất, tôi ngẫn ngẫn chả hiểu sao ăn cá hồi lại uống…vang đỏ.

      Bụng thầm bảo dạ: Vậy mà hồi nãy cũng học thói thời thượng của thế tục khi người garçon rót rượu. Bèn cầm chân cái ly cao nghệu, không để lòng bàn tay ôm cái bụng bầu ly vì sợ…rượu nó nóng. Xong, giả bộ lắc lắc cho…vang nó thở. Nhấp một ngụm nhỏ, làm như có gì suy nghĩ lung lắm, rồi làm như tay chơi cầu ba cẳng, phán với người garçon một câu rõ to: Très bien. Ăn ngay nói thật, tôi chả…nghe thấy mùi vị gì sất.

       Đảo mắt qua bàn bên, đa số người Parisiens chơi bia chứ chả phải vang như Mít ta. Đang thở không ra như vang nó thở. Bạn ta cho hay quán danh trấn giang hồ về bia từ năm 1889, nổi tiếng với những mái hiên màu đỏ trên đại lộ Champs-Elysées. Tại Pháp (Cannes, Toulouse, Courchevel, La Baule), Thụy Sĩ (Montreux), Morocco (Marrakesh) và các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (tại Louvre Abu Dhabi).

      Bạn thổ dân đụng dao đụng thớt quán đây được xếp vào danh sách di tích lịch sử của Pháp (Inventaire de Monuments Historiques). Mỗi năm một lần, Fouquet tổ chức dạ tiệc truyền thống cho lễ trao giải César tương đương với giải Oscar.

       Lang thang như thành hoàng làng khó với Sài Gòn có quán La Pagode 209 Tự Do. Ở đây nhà văn Văn Quang trong Sài Gòn người muôn năm cũ điểm mặt các văn nghệ sỹ ngồi đồng ở đây có Mai Thảo, Phạm Huấn, Huy Quang, Thái Tuấn (hoạ sĩ), Hoàng Anh Tuấn, Thanh Nam, Du Tử Lê, Nguyễn Xuân Hoàng, Phan Lạc Phúc…Bởi chưng La Pagode là “nguyên mẫu” của quán văn chương Les Deux Magots.

   (Givral since 1950)

       Ăn mày chữ nghĩa theo Văn Quang, ở Givraltrước cửa Quốc Hội có thi nhân Đinh Hùng với Kỳ nữ Gò Ôn Khâu (kịch thơ), và kịch sĩ Vũ Huyến Trấn thủ lưu đồn Ba năm trấn thủ lưu đồn – Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan ỏ đây. (Vũ Huyến ngoài là kịch sĩ, ông còn là tác giả bản nhạc Cô hàng nước)

      Đảo qua quán Cái Chùa bên trời ta, thôi thì ta hãy làm một điếu Gauloises ngắn ngủn, hãy gõ mõ lóc cóc về literary salon bên trời tây xem sao?

      Salon de Paris hình thành khoảng năm 1748 và 1890. Mới đầu là những cuộc triển lãm tranh và tác phẩm điêu khắc ở viện bảo tàng Louvre (gồm 33 bức tranh, 9 tác phẩm điêu khắc). Sau “salon” văn chương (literary salon) biến thái thành nơi “tọa đàm” văn chương của nhà văn, nghệ sĩ, triết nhân trong tư gia (living room – salon) của ai đấy.

      Lễnh đễnh theo cụ Nguyễn Tuân qua đi đây đi đó, chuyện là xuất hiện trên đàn văn vào cuối thập niên 30. Cụ Nguyễn chọn câu của Paul Morand làm đề từ cho tác phẩm Thiếu quê hương: “Ta muốn sau khi ta chết, có người thuộc da ta làm chiếc va ly”.

Vì thế xách va ly theo cụ Nguyễn viết bút ký đi đó đi đây phải có một số vốn sử ký, địa lý này kia, kia nọ, cứ phang ngang bửa củi, cụ Nguyễn chửi cho mục mả.

       Bèn vắt qua sử thi với vua Hàm Nghi ở Algérie, với “salon” văn chương…

       Người tù bị lưu đày biệt xứ, vua Hàm Nghi đến Algérie đầu năm 1889. Bà Berthe Alexandrine Patricot tổ chức những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật tại tư gia của bà có những thượng lưu trí thức của thủ đô Algiers. Trong đó có vua Hàm Nghi, ông học vẽ từ họa sĩ Reynaud. Từ đó ông kết thân với hoạ sĩ Paul Gauguin, điêu khắc gia Auguste Rodin ở Paris. Sau này ông trở thành một họa sĩ, một điêu khắc gia. Tháng 6-2022, cô Amandine Dabat, hậu duệ đời thứ năm của ông, tổ chức triển lãm tranh và tượng của ông tại Pháp với chủ đề “Nghệ thuật lưu đày”. Những tác phẩm này cô mượn từ các bộ sưu tập và di vật được lưu giữ ở các bảo tàng Guimet, Cernuschi và Rodin. Những bức tranh ông sáng tác theo trường phái ấn tượng, những bức tượng điêu khắc bằng đồng, gỗ, thạch cao, những kỷ vật gắn bó với cuộc đời lưu đày của ông.

Vua Hàm Nghi

      ***

      Literary salon từ phòng khách lan ra quán cà phê để có “Cà phê văn học” (Café littéraire). Đường Saint Germain des Prés có hai quán cà phê: Le Café de Flore mầu xanh trắng. Les Deux Magots, mầu xanh lá cây đậm. Hai quán đối diện với nhà thờ Saint Germain des Prés được dựng lên vào năm 542, giám mục Saint Germain (mất năm 576) nên được mang tên Saint Germain des Prés. Trong nhà thờ có mộ của René Descartes, nhà tư tưởng, nhà toán học và ông tổ của nền triết học hiện đại.

      Quán cà phê Les Deux Magots được mở từ năm 1812, sau do quá nổi tiếng, Les Deux Magots được dời đến khu Latin trên đường Saint Germain des Prés năm 1873. Quán là “tụ điểm” của giới văn nghệ sĩ như Verlaine, Rimbaud, Elsa Triolet, André Gide, Picasso, Hemingway, và Jean Paul Sartre, Simone de Beauvoir…

Place Sartre – Beauvoir

Jean-Paul Sartre (1905-1980)

Simone De Beauvoir (1908-1986)

Philosophes et Écrivains

1. Les Deux Magots tranh sơn dầu  2. Café littéraire ở Les Deux Magots

       Nhân thoại hưu đề ngôn quy chính truyện, nôm na là hãy…gác chuyện rườm rà ông tây, bà đầm kháo chuyện chữ nghĩa để bù khú vào chuyện Hai con bú dù trong quán Les Deux Magots là quán mang một cái tên kỳ cục và những điển tích kỳ cổ không kém.

      (con bú dù ngoài lề đường Les Deux Magots)


             Cứ như truyện Tàu Tây Du Ký, Ngô Thừa Ân, viết về tích Tôn Ngộ Không:

“…Tu Bồ Đề tổ sư hỏi con khỉ dẫn đường cho thầy Tam Tạng đi thỉnh kinh, lúc ấy còn là hầu vương: “Ngươi ở đâu mà ra”. Hầu vương thưa: “Nguyên nơi núi Hoa Quả có hòn đá kết tinh nhật nguyệt lâu ngày, một đêm mưa vang lên tiếng nổ, đá nứt hai và sinh ra tôi”. Sư tổ nói: “Vậy là thiên địa sinh ra ngươi, thôi để ta đặt tên cho. Ngươi họ Tôn, bỏ bộ khuyển, còn chữ tử, chữ hệ, tức còn trẻ, còn khôn”. Sư tổ chép miệng: “Phật pháp có trí, tuệ, chơn, như, hải, đĩnh, “ngộ”…Trong 12 chữ đó, tính tới tính lui thì ngươi nằm vào…chữ Ngộ, vậy thì ta đặt tên ngươi là…Ngộ Không”.

       Hóa ra chuyện hai con bú dù này cũng có điển cố của nó.

(hai con bú dù trong quán Les Deux Magots)

       Quán Les Deux Magots hiện vẫn có bày tượng hai vị quan Tàu, mặc trang phục đời Thanh ngồi chễm chệ trên cao. Cách đây 200 năm, nơi đây một cửa hàng khai trương vào dịp cả Paris đang xôn xao về vở kịch có tên Hai con bú dù Tàu (tiếng Pháp, từ magot được hiểu là con người dị dạng hoặc là cái tượng làm bằng gốm sứ). Cửa hàng lấy cái tên kỳ cựu làm tên hiệu. Đến khi làm ăn thua lỗ, cửa hàng bán lại, sang tên. Chủ quán cà phê giữ lại cái tên hiệu đã quen thuộc với khách gần xa.

      Qua ngẫu sự trên, một tôi hiểu vụng ngữ nghĩa của Les Deux Magots là hai ông Tàu đời Thanh, là hai con khỉ. Khỉ thật!

      Với tận thư bất như vô thư, trong quán vẫn còn giữ cái bàn khắc tên Jean Paul Sartre, Simone de Beauvoir thường ngồi. Trên bàn có hai tách cà phê đựng trên cái khay bạc nhỏ (gọi là café pot) hoặc cốc cognac. Đảo mắt tít như lạc rang tôi chả thấy gì.

      Ha! Tin vào giai thoại văn học cứ…”đổ thóc giống ra mà ăn”, thế đấy.

      ***

      Dụi dụi điếu Gauloises, nhét vào bao, ít nữa thở ra khói tiếp. Bỏ cà phê Les Deux Magots lại đằng sau…Sau 60 năm trở lại Paris, tôi đang là con cá hồi…hồi cố quận, như cá ông Táo, cõng theo người Hạ Chí Trương với Hồi hương ngẫu thư:

      Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
      Hương âm vô cải, mấn mao thôi
      Nhi đồng tương kiến, bất tương xứng
      Tiểu vấn: “Khách tòng hà xứ lai”?

.
      Già về cố xứ ngẫu hứng

      Trẻ lãng du già về cố xứ
      Giọng không thay pha tuyết mái đầu
      Đám trẻ nhỏ thờ ơ không biết
      Cười hỏi ta: Khách đến từ đâu?  

Khách đến từ xa tìm lại hình bóng cũ: Hotel Lutèce. Quán trọ này xưa kia được tòa đại sứ VNCH mua làm nơi trú ngụ cho “du học sinh” Mít. Quán do bà Huyến làm quản lý, (bà ly dị với đại tá Trần Ngọc Huyến, chỉ huy trưởng trường Võ Bị Đà Lạt).

(quận 5, quartier Latin)

    (cư xá Lutèce, số 2 rue Berthollet)    

       Mới nhi bất hoặc đã cổ lai hy, qua phù sinh nhược mộng với cuộc sống nổi trôi như giấc mộng. Trời đất lung liêng có vài lát mưa rơi, trẻ lãng du sau 60 năm về lại cố xứ, quán cà phê cạnh cư xá không còn nữa. Nhãn kiến vi thật, quán đây cũng quái quá lắm vì Tây vào, người uống cà phê, kẻ chơi một ly cointreau hay vang trước khi đi làm (Paris có hơn 12 ngàn quán cà phê). Chính ở quán cà phê này, tôi đã “lỳ một lam”, làm một ly cointreau đầu đời với một nhớ hai quên. Những bạn bè Lutèce nay mỗi người mỗi ngả. Bóng ngả đường chiều, bạn bè về cõi tịch mịch tôi nghĩ mãi mới ra được những cái tên mờ nhân ảnh: Dũng, Huân, Lập kè bạn của Ánh đen. Gần đây thêm…Ánh đen.

       Đếm trên đầu ngón tay với bất thế kỳ nhân có Tiến mù bày bộ bài Tây coi bói. Nguyễn Trí Thức đặt một chồng truyện Kim Dung, nói vanh vách từng nhân vật ở trang nào. Ánh đen hươu chuyện lúc nào cũng thòng câu: “Mày có hiểu tao nói gì không?”.

      Đâu đó có cố cựu, cũng là bạn vong niên Phạm Trọng Cầu với “Mùa thu không trở lại”: em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại, em ra đi mùa thu, sương mờ giăng âm u. Phạm Trọng Cầu với Paris qua vườn Luxembourg, sương rơi che phố mờ, buồn này ai có mua nghe rơi bao lá vàng, ngập giòng nước sông Seine, mưa rơi trên phím đàn, chừng nào cho tôi quên.

       Xa với Institut Franco-Vietnamisen, 269 rue Saint Jacques là cư xá nữ sinh viên Mít. Trộm vía tiện nội tôi chứ…chứ ngày ấy mới 18, nhè cái tuổi mới lớn 18 tôi…“tương tư” cô cháu gái cụ Nhất Linh. Để rồi tôi lên cơn đồng thiếp với Hạ trắng của người họ Trịnh, hết nắng đưa em về, miền cao gió bay, áo em bây giờ, mờ xa nẻo mây, gọi tên em mãi, suốt cơn mê này đến đời xin có nhau, dài cho mãi sau, nắng không gọi sầu, áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu, gọi mãi tên nhau. Phải giăng phải gió gì đâu chả biết nữa, đến trần ai khoai củ này tôi vẫn chả chịu nhớ ra tên cô cháu gái cụ Nhất Linh.

       Không nhớ tên, giữa trời đất Paris, tôi bám như cua cắp vào người Bạch Cư Dị với Đường thi, đường mòn, vào một chiều trên bến nước ở bến Tầm Dương…

       Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu

      Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti

      Nhớ chiều trúc ti, để hoài cố nhân chẳng biết khi này ở nơi nao.

       ***

       Vạy vọ với tầm khảo, chữ nghĩa nó bập vào người qua Võ Phiến: “…Nhưng ai bảo khảo chơi không quan trọng bằng khảo thiệt. Nhà nghiên cứu cặm cụi đo từng cái xương sọ của người ta, hì hục khai quật di chỉ xưa, mằn mò nhặt nhạnh từng lưỡi búa mũi tên. v…v… Đi khảo thiệt với cái búa khảo cổ lăm lăm trong tay trông khả kính lắm đấy, kẻ đi khảo chơi, chỉ mang theo chiếc lưỡi giấu trong mồm, trông khả ái biết bao…”.

      Gái một con, thuốc ngon nửa điếu, bèn móc nửa điếu Gauloises hồi nãy ra, thở ra khói, lăn tăn với Paris, với khói lửa kinh thành…

      Lutetia (Lutèce) là tên gọi tiếng La Tinh do những người La Mã đặt cho cái thành của người Gaulois, ngày nay chính là thành phố Paris, thủ đô nước Pháp.

      Theo thuật ngữ Paris tiền sử rồi Paris cổ đại được dùng để chỉ địa điểm này cho trận Lutetia năm 52 trước Công Nguyên, đánh dấu sự chinh phục của Đế chế La Mã. Khoảng năm 300, Lutetia được đổi tên thành Paris, và đó là lần đầu tiên cái tên này xuất hiện. “Paris” xuất phát từ Civitas Parisiorum hay Urbs Parisiorum trong tiếng La Tinh, có nghĩa thành của người Parisii. Những người Parisii thuộc bộ tộc Gaulois đã làm chủ khu vực này từ rất lâu. Nằm bên sông Seine, đây là vùng đất nhiều thú rừng và cá. Người Gaulois đã xây dựng, phát triển thành một thành nhỏ. Năm 52 trước Công nguyên, quân của Julius Caesar tới đánh chiếm. Trong trận chiến với La Mã, người Gaulois đã phá cầu, đốt thành của mình. Không ai biết thành cũ của người Gaulois nằm ở đâu.

      Với người Parisien, những hiểu biết về Paris tiền sử và Paris cổ đại không nhiều.

       Thành nhỏ ấy của người Gaulois biến thái là thành phố nằm ở tả ngạn sông Seine, con phố La Mã chính chạy theo tuyến đường của rue Saint Jacques ngày nay. Nó băng qua sông Seine và đi qua Île de la Cité trên hai cây cầu gỗ: “Petit Pont” và “Grand Pont” (Pont Notre-Dame). Cảng của thành phố, nơi những con thuyền cập bến, nằm trên hòn đảo nơi hiện có nhà thờ Đức Bà.

(thành phố Paris ra đời vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên với tên gọi là Lutetia)

      Thì như đã bảo, người Parisien, những hiểu biết về Paris tiền sử và Paris cổ đại của họ không nhiều nữa là…là tôi. Nhưng tôi chắc như cua đinh: “…Đầu thập niên 40 của thế kỷ trước, nhà trường Pháp dạy học sinh phải học thuộc lòng: “Nos ancêtres soat Des Gaulois” (Tổ tiên của chúng ta là người Gô-loa)…” (nguồn Hoàng Thái Anh).

      Từ thời trung cổ, hình ảnh con gà trống Gaulois (Le Coq Gaulois) thường xuất hiện trên các tháp chuông nhà thờ. Vào thời kỳ Phục Hưng, hình ảnh con gà trống được gắn liền với sự hình thành của nước Pháp. Dưới các vương triều ở thời kỳ này, các bản chạm khắc và đồng tiền đều mang hình ảnh con gà trống.

Trong giai đoạn 1870-1940, cánh cổng sắt của điện Elysées (phủ tổng thống) được trang trí bằng một con gà trống và gọi là “Cổng gà trống”. Ngày nay, du khách tới Pháp vẫn có thể chiêm ngưỡng cánh cổng này. Cũng như tìm thấy biểu tượng gà trống ở bảo tàng Louvre hay điện Versailles. Hiện tại, gà trống Gaulois không còn là biểu tượng của nước Cộng hòa Pháp nữa, ngay cả cổng sắt điện Elysées cũng vậy.

      ***

      Qua bút ký đi Tây, một là tôi bòn mót những bài viết của những tác giả đi trước để ngắm chừng tác phẩm ‘’có trọng lượng’’ của mình nặng nề với những con chữ bò lổm ngổm như ruồi bu có gì sa đà chăng!. Hai là tác phẩm dư thừa chiều dầy ắt có nhiều chi tiết thừa thãi? Vì vậy bám như sam vào nhà văn Đỗ Kh trong Ký sự đi Tây: ‘’…Tôi là người không câu nệ miếng ăn nhưng xa Pháp lâu thì tôi nhớ bánh mỳ. Bánh mỳ baguette, buổi sáng ra, vào quán, cái baguette cắt chéo, phết bơ, chấm café sữa. Tôi đi đâu cũng nhớ bánh mỳ, vì bánh mỳ baguette chỉ ở Pháp mới có…”.

      Cụ Nhất Linh Đi Tây năm 1936: “…Sau tôi nghĩ ra được một kế: là xin làm bồi tầu, vừa kiếm được tiền, lại vừa không mất tiền tàu sang Pháp. Thế là tôi đi mượn một cái mâm và đặt hai cái cốc rượu lên đó để tập làm bồi. Tôi chạy quanh nhà, tưởng như mình đương hầu trên tầu thủy. Thỉnh thoảng tôi lại đảo cái mâm nghiêng ngả, tưởng chừng như đứng ở tầu, sóng đánh chòng chành. Tập mấy ngày vẫn chưa được thạo như khát nước. Nhưng từ đó tôi…nghiện rượu…”

       Ngẫm nguội tôi nhân sinh quý thích chí câu: Nhưng từ đó tôi nghiện rượu. Rà xoát lại bút ký 60 năm tìm lại…từ trên xuống dưới sặc mùi rượu và ngập khói thuốc Gaulois. Nhưng ngẫm ngợi, kẻ hậu sinh còn hơn tiền bối Nhất Linh nữa vì…thuốc ngon nửa điếu, rượu ngon nửa bình. Thế đấy, thưa bạn đọc.

      Về đến đất tạm dung, chuyện có đầu có đũa, bút ký 60 năm tìm lại…coi như đã vào khuôn như pa-tê ngỗng đóng hộp chỉ đợi phần kết luận. Bỗng ớ ra sao Tây gọi foie gras de canard. Canard là…vịt, sao ta kêu…ngỗng. Đang ngỗng nghễnh vặn óc nghĩ không ra, bèn đảo qua trang Văn bút Nam Hoa Kỳ xem trong hai tuần Tây du có gì lạ…Lạy thánh mớ bái chứ…chứ có mục Chữ nghĩa làng văn hàng tháng, trang đầu, ngẫu nhiên người Túy Hà nhồi nhét bức ký họa: chung quanh tàng kinh các đầy kinh thư, kinh điển, trần tàng kinh các như trần bảo tàng viện Louvre có…một tôi đeo kính.

       Với ngẫu sự ấy, tôi “cut” và “paste” con bú dù từ cà phê Les Deux Magots dưới truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân viết về Tôn Ngộ Không vào đây.

      Ha! Qua bút ký Tây du, tôi tìm thấy….tôi : Ngộ Không.

  Thạch trúc thảo lư

  Quý Mão 2023

 Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

©T.Vấn 2023

Bài Mới Nhất
Search