SỎI ĐÁ…GÓP NHẶT (6)

Hẻm “TRỊNH” Sài Gòn – Ảnh: tuoitre online

Trước năm 1975, đường Duy Tân bắt đầu từ đường Hiền Vương dẫn đến nhà thờ Đức Bà đường Thống nhất.

Sau năm 1975 đường Duy Tân được đổi tên là Phạm Ngọc Thạch. Bắt đầu từ đường Võ Thị Sáu đến đường Lê Duẩn.

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là anh em cô cậu ruột với tôi. Anh Thạch gọi cha tôi bằng cậu ruột. Bà nội tôi có 4 người con trai và 1 người con gái duy nhất là mẹ anh Thạch tên Công Tôn Nữ Chánh Tín, vợ của nhà giáo Phạm Ngọc Thọ ở Phan Thiết, mà tôi thường gọi là dượng Đốc Thọ.

Anh Thạch có một người vợ là người Pháp. Hồi tôi còn rất nhỏ nhưng vẫn nhớ như in là mỗi lần giỗ, tết ở nhà cha tôi, vợ chồng anh Thạch đều có tham dự. Chúng tôi cứ chạy theo nhìn “Bà Đầm” (vợ anh Thạch).

Theo tôi biết cha tôi rất quí anh Thạch, thường ca ngợi tài năng đức độ của anh. Cha tôi vẫn nói: “Đi làm cách mạng như Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch mới đúng nghĩa. Bỏ hết, bỏ tất cả, bỏ cả gia tài, sự nghiệp, vợ đẹp, con thơ…mà ngày ấy, Bác sĩ chỉ đếm trên đầu ngón tay, vô cùng quí hiếm”.

Anh Thạch cũng rất quí mến cha tôi, hai cậu cháu cũng rất gần gũi. Cha tôi có nói cho tôi biết là: “Anh Thạch rất kính phục vua Duy Tân”. Vì thế, khi bỏ con đường Duy Tân để đặt tên anh, tôi thầm nghĩ có lẽ hương hồn anh cũng không được vui!

Thuở trước, ở Sài Gòn có con đường của một danh nhân thì vùng Gia Định cũng có. Vì thế, lại còn thêm một con đường Duy Tân nữa mà đến ngày nay vẫn còn. Trước kia con đường này từ đường cách mạng 1 tháng 11 đến Nguyễn Huỳnh Đức. Sau này là từ đường Nguyễn Văn Trỗi đến đường Huỳnh Văn Bánh quận Phú Nhuận. Một con đường nhỏ nay đã hư hỏng, lại thêm người dân ở đó buôn bán, bày ra đường nhếch nhác, trông rất thê thảm.

Miền Nam tháng 4 năm 2011

(Tôn Nữ Hỷ Khương)

***

Sau 1975, chúng ta biết là có những đợt thay đổi tên đường theo sau đổi tên thành phố. Nhìn qua cách đổi tên đường, có thể đoán được rằng mấy người trong chính quyền hiện nay không ưa Triều Nguyễn, vì những ông vua và quan của triều này bị cho biến đi gần hết. Vài ví dụ:

* Gia Long là một ông vua gây ra nhiều tranh cãi, nhưng là người có công mở rộng bờ cõi phía Nam và khai sáng Triều Nguyễn; ông ấy phải “nhường” chỗ cho cậu bé Lý Tự Trọng.

* Minh Mạng là một ông vua nổi tiếng thơ ca, nhưng đành phải nhường cho Ngô Gia Tự (chẳng biết ông này là ai).

* Thiệu Trị cũng là vua Triều Nguyễn, nay bị Trần Hữu Trang làm cho biến mất.

* Tự Đức bị cho lên đường, và thay vào là cái tên lạ hoắc Nguyễn Văn Thủ.

* Đồng Khánh bị Trần Hưng Đạo chiếm, nhưng sự thay đổi này chẳng ai thắc mắc.

* Duy Tân là con đường đẹp đã đi vào thơ ca, nhưng nay thì bị Phạm Ngọc Thạch cho lên đường biến mất luôn.

* Khải Định cũng là một vị vua Triều Nguyễn, nhưng sau 1975 thì ông bị đuổi đi và nhường cho Nguyễn Thị Tần (là ai?)

* Hiền Vương (tức chúa Nguyễn Phúc Tần là một nhân vật quan trọng trong sử và mở mang bờ cõi về phía Nam, bị cô Võ Thị Sáu chiếm và đuổi đi.

* Còn những tướng lãnh và danh nhân đời Nguyễn như Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Thành, Petrus Ký, Trương Minh Giảng, Võ Di Nguy, Võ Tánh, v.v. bị cho lên đường gần hết.

(source from NguyenVanTuan’s blog) /

PHAN NGUYÊN LUÂN… thực hiện

***

Tên phố, tên đường

Cũng có tên một vài danh nhân ta được đặt tên phố. Nhưng mỉa mai thay, chỉ càng lộ cái coi khinh cố tình của họ. Phố bảng nhãn Lê Quý Đôn ở một ngõ ngách, nay lấy lại tên xưa là phố Hàng Cháo, Nguyễn Bỉnh Khiêm bị đưa vào ngõ cụt (ngõ Trạng Trình), phố Nguyễn Trãi dài…180 mét, phố nhỏ cạnh nhà thờ Tin Lành.

Tên phố Hà Nội có những thay đổi lớn từ 1945. Đảo chính 9/3/1945, Nhật đánh đổ Pháp, trên toàn cõi Đông Dương lập chính quyền thân Nhật. Ở Hà Nội, bác sĩ Trần Văn Lai, thị trưởng thành phố của chính quyền Nhật dựng đã làm được hai việc đáng kể, là huy động người phá bỏ các tượng đài “kể công” của thực dân Pháp – riêng tượng nhà bác học Pátxtơ (Pasteur) và tên phố bác sĩ Yêcxanh (Yersin) vẫn được giữ nguyên.

Các tên phố và tên vườn hoa khác đều được bác sĩ Trần Văn Lai đặt lại. Sau đó, hơn một năm đầu Hà Nội Tổng khởi nghĩa (19/8/1954 – 19/12/1946), chính quyền cách mạng đặt lại tên phố, chủ yếu là xóa các tên vua quan và các tay sai thời nhà Nguyễn.

Rồi Hà Nội bước vào thời kỳ kháng chiến toàn quốc chiếm lại Hà Nội (1947-1954), cũng chỉ đổi một số tên phố. Lập lại phố có tên vua nhà Nguyễn, như phố Gia Long…

Từ 1954, khoảng 10 năm đầu (1954-1964) Sở văn hóa đã thành lập “Ban tên phố” đặt lại một số tên phố. Bỏ tên phố mang tên vua quan thời Nguyễn, đặt mới một số tên tượng trưng truyền thống, sự kiện lịch sử và cách mạng (các phố và đường Hùng Vương, Trần Phú, Hoàng Hoa Thám, Bắc Sơn, Điện Biên Phủ…). Ngoài ra, hầu hết những phố khác vẫn do tên phố từ tháng ba 1945 của bác sĩ Trần Văn Lai.

(trích “Hà Nội tản văn: Làng, ngõ, vỉa hè” – Tô Hòai)

***

Lăng Ông ở Bà Chiểu (gọi tắt là Lăng Ông Bà Chiểu)  

***  

Thử tìm hiểu tên “Sài Gòn”

Đại Nam Quốc Âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của viết: Sài tức là củi thổi. Gòn tên loại cây có bông nhẹ xốp, nhẹ, trong Nam hay dùng để dồn gối, dồn nệm, ngoài Bắc gọi là cây bông gạo (kapok, kapokier). Dưới thời đại Cam-bốt, Sài Gòn ở giữa rừng (Prei Mokor ). Vịn theo thuyết này danh từ “Sài Gòn”, trước định do “Prei Nokor” là “rừng gòn” không vững. Nay nên dịch “lâm quốc” đúng hơn.

Tóm lại. danh từ “Sài Gòn” không ắt do điển “Prei Nokor” mà có.

Khi Tây Sơn (1773), kéo vào Nam, thuận tay, họ bèn quét đuổi quân Tàu ra khỏi Cù lao Phố (Biên Hòa) là nơi tàn quân Minh đến lập cơ sở từ năm 1680. Khi ấy, những khách thương Tàu mất chỗ bèn rút lui theo con sông Tân Bình (Bến Nghé), họ nhắm xem địa thế, lựa vùng đất ở giữa chẹn đường Mỹ Tho đi Cù lao Phố mà xây dựng tân sở, tân sở này sau trở nên Chợ Lớn ngày nay vậy. Họ lấy đất đắp thêm bờ kinh chỗ mới thêm cao ráo.

Và họ đặt tên chỗ mới là “Tai-Ngon”, hoặc “Tin-Gan”, mà phát âm theo giọng Quảng Đông thì nghe ra “Thầy Ngồnn” hay “Thì Ngòn”. Xét theo mặt chữ, thì “Thầy Ngồn”, “Thì Ngòn” đọc theo giọng Việt là “Đề Ngạn”: Đề, Đê: là cái bờ, cái đê ngăn nước. Ngạn:bờ sông cao dốc. Đề Ngạn là vùng Chợ Lớn cũ ngày nay vậy.

(xóm Quảng Đông Nhai chỗ miếu Quan Đế).

(Sài Gòn Năm Xưa – Vương Hồng Sển)

***

***

Lề lối khoa trường đời hậu Lê vẫn là Tam trường, thi Hương do địa phương tổ chức, đỗ cả 3 hay 4 kỳ gọi là Cử nhân hay Hương cống, Sinh đồ. Nếu đỗ 1 kỳ được gọi là Tú tài. Sau này gọi là tú đơn, tú kép (đỗ 2 khoa tú tài), tú mền (đỗ 3 khoa tú tài), tú đùn hay tú đụp (đỗ 4 khoa tú tài). Đỗ tú tài được làm Huấn đạo, Giáo thụ ở phủ, huyện. Đỗ thi Hương gọi là Hương cống được bổ làm Tri phủ, Tri huyện. Cống sĩ đã đỗ thi Hội vào cung vua thi Đình.

***

“Nhiều chuyện” với hẻm

(Hẻm 47 Duy Tân gọi là “hẻm Trịnh”)

Muốn vứt bỏ cái ồn ào ngột ngạt của phố thị, có thể “trốn” vào một con hẻm nhỏ, nơi đó có quán cà phê cóc. “Hẻm Trịnh” (hẻm 47 đường Duy Tân) là một trong những địa chỉ mà cánh nhà văn, nhà báo lui tới vào mỗi sáng. Gia đình cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sinh sống ở căn biệt thự cuối con hẻm này.

Hẻm rộng, sạch sẽ, có cây xanh từ những ngôi biệt thự nằm hai bên hẻm tỏa bóng mát. Hẻm có quán cà phê cóc nên được gọi cà phê “hẻm Trịnh”. Cái tên cà phê “hẻm Trịnh” do một vài văn nghệ sĩ lui tới cà phê đặt cho. Cà phê ở đây chưa ngon, chỗ ngồi chẳng có gì đặc biệt, giá cũng không rẻ, cái bề ngoài của bà chủ quán trông khó ưa nhưng “hẻm Trịnh” lại có sức hút đến kỳ lạ.

(Trần Tuy An)

***

Năm 1862, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, người Pháp đặt tên chính thức là Saigon. Lấy theo cách giải thích vì sao người Pháp gọi là “Saigon” do theo âm ngữ của người Tàu (Thầy Ngòn, Xi Coón) hay Miên ngữ “Prey Nokor”. Từ đó Saigon được Việt hóa là Sài Gòn.

Giả thuyết khác như theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ “Lũy Sài Gòn” (theo Hán Nho viết là “Sài Côn”). Đây là lần đầu tiên chữ “Sài Gòn” xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán – “Côn” – được dùng thế cho “Gòn”. Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Sài Gòn, không phải đợi đến năm 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị quân Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cống.

***

Nam Kỳ lục tỉnh: Đất nước và con người

Sự cộng cư giữa lưu dân Việt từ Đàng Ngoài với người Tàu, người Miên đã tạo thành một thứ ngôn ngữ pha trộn. Biết bao địa danh Nam Kỳ là nói trại từ tiếng Miên như Bãi Xàu, Chắc Cà Đao. Danh từ tiếng Việt và Miên ghép lại: cầu Mây Tức giữa Vĩnh Long và Trà Vinh (Mây: tiếng Việt, Tức: tiếng Miên là nước). Hay Việt Miên Tàu: Sáng say, chiều xỉn, tối xà quần. Hoặc: Nóp, bao cà ròn (tiếng Miên), xá, gật, hủ tiếu, mì, tiệm, xào… (tiếng Tàu). Thêm người Mạ, người Stiêng (tài liệu Pháp: cuối thế kỷ 19, người Mạ, người Stiêng sống ở thung lũng Donai gần Biên Hoà) để có giọng nói đặc thù người Sài Gòn.

***

Trấn Gia Định xưa có nhiều ao đầm, rừng rú, trước khi người Việt đến, vùng đất này chỉ có vài mươi nóc nhà người Miên-Môn. Buổi đầu thời chúa Nguyễn Phúc Tần, (1648 – 1687) sai quan Thống suất vào mở mang bờ cõi, chọn nơi đất bằng rộng rãi đóng quân. Ngoài ra thì cho lưu dân trưng chiếm, chia lập ra làng xóm, chợ phố. Nơi đây nhà ở hỗn tạp, đường sá chỗ cong chỗ thẳng, tạm tùy tiện cho dân mà chưa kịp phân chia sửa sang cho ngăn nắp. Nhưng chính mảnh đất ao đầm, rừng rú hoang vu ấy đã khởi đầu hình thành một Sài Gòn cho mai hậu

***

Đường Trương Minh Giảng, qua tiệm thuốc lào 888 Tiến Phát trở thành đường Trương Minh Ký, Phú Nhuận, quận Tân Bình, phía bên phải có tấm biển màu trắng ghi: Ranh đô thị Sài Gòn; đường vào giáo xứ Bùi Phát phía bên trái

***

Cổng xe lửa số 6, đường Trương Minh Giảng nối dài, sau này gọi là đường Trương Minh Ký. (khỏang nhà thờ giáo xứ Bùi Phát)

Hẻm số 6, cách Cổng xe lửa số 6 khoảng độ 50m, gần ngã tư Trương Minh Giảng & Nguyễn Huỳnh Đức.

***

Tỉnh Hà Nội và thành phố Hà Nội

“Tỉnh” Hà Nội được thành lập tháng 10 năm Tân Mão (1831) với cuộc cải cách hành chính theo nhà Thanh của Minh Mạng năm thứ 12

Tỉnh Hà Nội (tỉnh bảo hộ) là địa bàn của thành phố Hà Nội (đất nhượng địa). Ngày 26-12-1896, người Pháp chyển tỉnh lỵ Hà Nội về làng Cầu Đơ. Ngày 3-5-1902 để tách thành phố Hà Nội ra khỏi tỉnh Hà Nội và cũng để tránh trùng hợp tên, người Pháp đổi tên tỉnh Hà Nội thành tỉnh Cầu Đơ. Đến năm 1904 họ đổi tỉnh Cầu Đơ là tỉnh Hà Đông.

(Bùi Xuân Đính)

Bài Mới Nhất
Search