Vườn Địa Đàng: Những Cư Dân Đầu Tiên – Tranh: Serhiy Roy (Nguồn: joseartgallery.com)
Lịch sử, nếu được kể lại với tư tưởng của một bản án đạo đức, rất dễ trở thành cái cớ để tạo ra hố sâu thù hằn, chia rẽ trong hiện tại. Một khi những gì xảy ra hàng trăm năm trước được một số thành phần dùng như lý lẽ để lên án người sống hôm nay, thì lịch sử đã không còn phục vụ tri thức, nó là công cụ cho kẻ cơ hội lợi dụng nhân danh để gieo rắc tâm thế nạn nhân và nghi kỵ tập thể.
Ngày nay, nhiều phong trào trên mạng xã hội vốn bắt nguồn từ khát vọng công lý, mục tiêu chính trị có khuynh hướng, xu hướng đẩy lịch sử vào trạng thái trả đũa. Những dòng chữ “Họ đã cướp đất của tổ tiên chúng tôi như các nước Trung Đông nhân danh Palestines để gây thù Israel nhưng họ không hề yêu thương gì Palestines chân thành, hay “Đây không là quá khứ đây là vết thương chưa lành!” thường xuất hiện trong các tranh luận về bản sắc, quyền đất đai, và bồi thường lịch sử. Nhưng ai là “họ”? Và ai là “chúng tôi”? Liệu một thanh niên da trắng ở thế kỷ 21 có phải gánh trách nhiệm đạo đức cho hành vi của conquistador Cortés ở thế kỷ 16? Liệu một người da đỏ thời nay có thể phủ nhận mọi sai lầm của tổ tiên chỉ vì mình là “hậu duệ nạn nhân”?
Nhiều bài viết có động cơ chính trị được lan truyền mạnh, họ kể về những thành tựu kỳ vĩ của người bản địa Châu Mỹ, về nền văn minh Aztec, Inca, Maya từng rực rỡ, về những tội ác bị che giấu mà người Châu Âu mang tới khi “khai phá Tân Thế Giới”.
Người ta kêu gọi công lý cho những linh hồn đã khuất.
Người ta đòi lại tiếng nói cho một nền văn minh bị vùi lấp.
Người ta kể những câu chuyện của máu và nước mắt..
Nhưng… tôi bắt đầu nghi ngờ. Không phải nghi ngờ lịch sử. Tôi nghi ngờ dụng ý người kể chuyện. Phải chăng, đằng sau việc “hồi cố lịch sử”, có ai đó đang khéo léo cắt cúp sự thật, thổi bùng lòng giận dữ bản năng, và xúi giục một tâm thế trả thù lịch sử?
Không thể phủ nhận trước khi Columbus đến, châu Mỹ đã có nhiều nền văn minh với thành tựu đáng kính trọng.
Người Maya tính được số zero, quan sát chu kỳ sao Kim.
Người Aztec xây dựng chinampas những ruộng nổi độc đáo.
Người Inca dựng Macchu Picchu mà không cần vữa.
Họ có thơ ca, âm nhạc, tín ngưỡng, luật lệ, thương mại, thiên văn học và đặc biệt, một mối giao cảm với thiên nhiên sâu sắc.
Tất cả đều là sự thật một sự thật nên được ghi nhận với lòng tôn trọng. Nhưng chính tại đây, người viết tạo ra cái bẫy nguy hiểm: biến một sự thật đơn lẻ thành vũ khí để công kích những nền văn hóa khác.
Có bài viết mô tả người Châu Âu như những kẻ duy nhất mang đến chết chóc, hủy diệt, gian trá, và m.áu me.
Họ gọi đó là diệt chủng genocide.
Họ quy kết cả lục địa Châu Âu vào một tội lỗi vĩnh viễn.
Và họ mô tả người bản địa như thiên thần thuần khiết, hòa bình, thánh thiện tuyệt đối.
Nhưng thật sự có ai vô tội tuyệt đối trong lịch sử nhân loại?
Người Aztec từng thực hiện hiến tế người hàng loạt.
Người Inca cũng có chế độ phân tầng xã hội nghiêm ngặt, dùng lao động cưỡng bức.
Không thể dùng huy hoàng của một số mặt để gột sạch mọi góc khuất.
Cũng như không thể dùng tội lỗi của một số quốc gia thực dân để quy kết toàn bộ văn minh phương Tây.
Lịch sử, nếu không cẩn trọng, rất dễ biến thành đòn thù tập thể. Những người viết theo hướng cực đoan thường bỏ qua các yếu tố lịch sử bối cảnh:
Dịch bệnh gây t.ử vong lớn không hoàn toàn do cố ý.
Không phải tất cả người châu Âu đều là kẻ cướp bóc, nhiều tu sĩ, học giả đã nỗ lực bảo vệ người bản địa.
Sự chồng lấn, giao thoa, tiếp biến giữa văn hóa bản địa và phương Tây là một tiến trình phức tạp không thể tô đen trắng giản đơn.
Khi lịch sử bị rút gọn thành các lát cắt cảm xúc như “họ giết chúng tôi, họ đốt sách chúng tôi, họ cướp l.inh hồn chúng tôi” thì lịch sử đã không phải ánh sáng, họ tạo ra đám cháy.
Nguy hiểm hơn, đám cháy ấy có thể lan sang hiện tại:
Tạo tâm lý chống phương Tây cực đoan.
Nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc cực đoan bản địa.
Chia rẽ các cộng đồng sắc tộc trong xã hội hiện đại.
Lịch sử phiến diện, dù nhân danh công lý, cũng có thể giết hòa giải.
Nếu ta cứ kể về Columbus như kẻ diệt chủng, mà quên đi những người bản địa đã hợp tác, liên minh, chiến đấu cùng thì ta đã bỏ rơi chính người bản địa ra khỏi bản đồ chủ động.
Nếu ta ca ngợi người Aztec như thiên thần thuần túy, mà phớt lờ những người bị hiến tế, bị trị, bị đàn áp trong xã hội ấy thì ta đã tái tạo một ảo tưởng lịch sử.
Lịch sử cần sự thật, nhưng hơn cả, cần cái nhìn trọn vẹn, tỉnh táo và hướng tới tương lai
Khi lịch sử bị đơn giản thành tập hợp danh tính đối lập, kẻ xâm lược và kẻ bị trị, thì các không gian trung tính như khoa học, học thuật, giáo dục cũng bị kéo vào vùng tranh chấp. Người ta đòi đập tượng Columbus. Người ta đốt sách của các học giả phương Tây. Người ta đòi xóa bỏ cả bộ môn lịch sử phương Tây trong trường đại học với lý do “quá thực dân”. Đó không còn là hành vi phản kháng, họ muốn tẩy não trí tuệ bằng danh nghĩa công lý.
Cái nguy hiểm nằm ở chỗ, khi một cộng đồng bắt đầu coi quá khứ là chứng cứ đạo đức vĩnh viễn, thì họ sẽ nhìn mọi người khác bằng con mắt của nạn nhân hóa và hận thù tiềm ẩn. Điều này bóp nghẹt khả năng đối thoại, triệt tiêu nền tảng xã hội đa nguyên. Chúng ta không thể cùng nhau sống, cùng nhau kiến tạo tương lai, nếu cứ sống mãi trong tâm thế “anh là con cháu của kẻ g.iết ông tôi”.
Lịch sử cần được kể lại, nhưng không phải để chia phe. Kể để hiểu người, hiểu mình và hiểu thời đại. Việc nhìn lại những sai lầm trong quá khứ là điều đúng đắn nhưng phải đi kèm với tinh thần chữa lành, chứ không phải nung nấu hận thù.
Không ai phủ nhận chủ nghĩa thực dân đã để lại những vết thương sâu sắc cả về văn hóa lẫn cấu trúc kinh tế trên nhiều vùng đất. Nhưng từ việc nhận thức đúng đắn về lịch sử sang việc phủ định sạch trơn toàn bộ giá trị phương Tây, đó là một bước trượt dài, dẫn tới hệ quả nguy hiểm đó là chủ nghĩa phản phương Tây cực đoan.
Gần đây, một số phong trào mang danh “giải thực” hay “tái cấu trúc tri thức” đã đi quá xa. Họ đòi, họ muốn lật đổ các cấu trúc bất công, muốn phủ nhận sạch những gì từng gắn mác châu Âu từ triết học, khoa học, nghệ thuật, đến nền dân chủ nghị viện và các thiết chế pháp quyền hiện đại.
Triết học Hy Lạp bị gán là nền móng “nam quyền, da trắng”. Phép biện chứng logic bị coi như sản phẩm của “hệ tư duy áp bức”. Chủ nghĩa khai sáng từng là nền tảng cho nhân quyền, tự do học thuật và bình đẳng pháp lý bị gọi là “bình phong của chủ nghĩa đế quốc tư tưởng”.
Và điều trớ trêu, những người phản phương Tây cực đoan này đang sử dụng chính công cụ trí thức phương Tây để công kích phương Tây. Họ tranh luận bằng ngôn ngữ pháp lý, viện dẫn lý thuyết hậu thực dân, sử dụng quyền tự do học thuật và diễn ngôn cá nhân, những giá trị được thai nghén từ chính truyền thống phương Tây mà họ chối bỏ.
Chủ nghĩa phản phương Tây cực đoan trở nên nguy hiểm khi nó không dừng ở phê phán, chúng biến thành hủy diệt văn hóa, đốt sách, gỡ tượng, xóa sổ các khóa học, và trừng phạt bất cứ ai có quan điểm trung dung. Nhiều trường đại học buộc phải gỡ bỏ tên các học giả lớn chỉ vì họ từng sống trong thời kỳ thực dân, bất chấp đóng góp học thuật của họ vượt xa thời đại.
Thế giới không được tiến bộ nhờ phê phán cực đoan mà nhờ đối thoại, chỉnh sửa và học hỏi lẫn nhau. Nếu phương Tây từng phạm sai lầm, thì cách văn minh nhất để đáp lại không phải trả đũa bằng trí tuệ cảm tính, nên nâng tầm lý trí toàn cầu. Giải thực không phải là chặt đứt toàn bộ mạch nguồn tri thức, nên mở rộng không gian để các tri thức khác cùng tồn tại.
Lịch sử của loài người không phải cuộc đối đầu vĩnh viễn giữa “bên xấu” và “bên tốt”, mà là chuỗi va chạm – học hỏi – hòa giải – kế thừa. Việc từ chối toàn bộ di sản phương Tây chỉ vì quá khứ của họ từng sai lầm, chẳng khác nào từ chối chính khả năng tiến hóa đạo đức của con người.
Trong khi nhiều quốc gia đang sa vào vòng xoáy của cảm xúc lịch sử, xem quá khứ như bản cáo trạng để kết án hiện tại thì một số quốc gia khác đã chọn cách tiếp cận trưởng thành hơn, họ nhìn nhận quá khứ bằng sự thật và hướng tới tương lai bằng lý trí.
Sau chế độ Apartheid tàn khốc, Nam Phi đối diện với nguy cơ chia rẽ sâu sắc. Nhưng Tổng thống Nelson Mandela và Tổng Giám mục Desmond Tutu đã chọn một con đường khác: không phải bạo lực cách mạng, mà là ủy ban Sự thật và Hòa giải (Truth and Reconciliation Commission).
Điều đặc biệt ở đây, những tội ác kinh khủng được công khai, nhưng không phải để lôi kéo lòng thù hận, họ chọn nhận diện tổn thương, phục hồi nhân phẩm, và kiến tạo tương lai. Mandela từng nói: “Tha thứ không thay đổi quá khứ nhưng nó mở ra tương lai.”
Nam Phi không đập đổ toàn bộ tượng đài cũ, không đốt sách của người da trắng, cũng không phủ nhận những đóng góp tích cực từ nền văn minh châu Âu. Thay vào đó, họ mở ra một diễn ngôn mới, diễn ngôn chữa lành bằng sự thật.
Còn Úc từng có một lịch sử thực dân khắc nghiệt với người Aboriginal. Họ bị cưỡng ép di dời, trẻ em bị bắt khỏi gia đình gọi là Stolen Generations. Nhưng thay vì nhấn chìm quốc gia trong hận thù, nước Úc hiện đại đã thừa nhận công khai sai lầm và thực hiện các hành động phục hồi như trao quyền tự chủ bản địa, cải cách giáo dục lịch sử, và công nhận đất truyền thống.
Tuy vậy, người Úc không chọn xóa bỏ toàn bộ cấu trúc nhà nước gắn với Anh Quốc, họ giữ lại mô hình dân chủ nghị viện, hệ thống pháp luật Anh, đồng thời mở rộng không gian để tiếng nói bản địa được lắng nghe. Đó là giải thực có chọn lọc, trưởng thành, không cực đoan.
Nguyễn Quynh
