
Mười hai Bà mụ – Tranh: WIKIPEDIA
Tháng Ba
Với ta – tháng bắt đầu một năm mới
Một đêm mùa Xuân nơi xóm núi
Vạn vạn mầm cây cựa mình
Vạn vạn nụ hoa xoan hoa chanh hoa bưởi trong vườn thầm thì hát cho nhau nghe
Những bài hát dịu dàng chỉ những bé thơ vừa chào đời mới hiểu
Những bài ca tan vào bụi nước mưa xuân
Tan vào thoang thoáng gió
Ta ra đời
Mẹ ta sau cơn đau sinh nở
Cố ngồi lên và nhìn và sờ nắn khắp người đứa con sau chín tháng nằm yên cõi bụng
Ô! Đủ tay đủ chân đủ mắt đủ mũi đủ môi đủ tóc và vang tiếng khóc
Ơn Phật!
Ơn Trời!
An lòng Mẹ thiếp ngủ…
Bập bùng bếp lửa
Than lách tách nở hoa
Cha ta hơ tấm lá giong xanh biếc
Người gói núm nhau còn như đang thở phập phồng
Lặng lẽ người đem chôn dưới gốc cây vả già bốn mùa sum suê trái và thắp mấy nén hương
Khói thơm hòa vào li ti vạn vạn giây bột mưa xuân
Xóm núi đêm Tháng Ba
Bắt đầu một đời người
Bắt đầu một số phận
Tất cả bắt đầu không ồn ào không gióng trống mở cờ không trời cao mây lành không vụt sáng sao băng…
Chỉ có bập bùng bếp lửa
Chỉ có giăng giăng mưa bột tiết Xuân
Chỉ có bài ca của hoa xoan hoa bưởi hoa chanh vườn đêm bí ẩn
Ta nghe
Giấu kín trong lòng
Và lặng lẽ mang theo…
.
Sông Chảy mùa vơi
Tháng Ba nước trong veo loang loang nắng
Những đàn cá mảnh mai gầy ngược dòng đợi sấm mùa xuân
Thác Bà thác Ông tháng Ba sao hiền thế
Đá hòn đá tảng cứ như còn ngái ngủ
Sông Chảy quanh quanh nơi có ngôi nhà xóm núi một vùng nước mênh mang
Bờ lau cuối đông như những vệt trầm buồn
Miên viễn ngàn năm bên bờ nước
Bà mụ mát tay cách một chuyến đò ngang
Đón ta ra đời
Vẫn bình thản nhai trầu
Vẫn trong tay cây cật nứa
Cây cật nứa bà hơ trên ngọn lửa
Cắt rốn
Rồi buộc lại bằng một sợi lạt giang
Đánh dấu vào gan bàn chân ta một vệt nước quết trầu
Bà mụ vô danh
Ngôi làng nhỏ hình như cũng vô danh
Có một lần ta trở lại
Trầm mặc cúi đầu
Nhìn sông
Nhìn bãi bờ nhìn những vệt lau
Nhìn vu vơ phía bên kia sông
Bà mụ hẳn đã về nơi xa xa lắm
Ta lặng nhìn mấy cây cau già gầy guộc vút cao
Ta lặng nhìn dây trầu vấn vít
Bóng hình bà mụ hiện về
Nơi bàn chân ta hình như vẫn vệt nước quết trầu
Ngày nao…
.
Tháng Tư
Cuối Xuân
Những chùm xoan non đung đưa xanh ngọc biếc
Cây gạo nơi bến đò đỏ thắm một vùng hoa
Đàn chim sáo mỏ vàng từ rừng xa bay về ríu rít
Mẹ cha bày cỗ
Một chiếc nia mang màu nâu cũ
Mười hai bộ áo quần
Mười hai bọc kẹo
Mười hai phẩm oản đỏ xanh
Mười hai trái chuối
Mười hai trái khế
Mười hai trái vả
Mươi hai bát cơm
Mười hai chén nước
Mười hai bông hoa hái trong vườn
Mười hai nén hương
Mười hai bà mụ – tạ ơn.
Cha mẹ rì rầm khấn vái
Giọng cha rất trầm
Văn khấn nhịp nhàng nghe như hát
Bài hát truyền đời
Bài hát chỉ hát khi người ta làm mẹ làm cha
Bài hát chỉ hát khi bày cỗ trên nong trên nia cúng mười hai bà mụ
Râm ran tiếng khấn nguyện
Râm ran như lời ca
Chiều tháng Tư gió nam dạo hơi thở ấm nồng đầu tiên
Sông Chảy bắt đầu con nước lũ đầu tiên
Xa xa ì ùng những tiếng sấm đầu tiên
Cha ta thắp một nén hương nơi gốc vả
Núm nhau của ta đã tan vào đất…
.
Sông nước vẫn mải miết trôi xuôi
Bờ lau lá dựng xanh trong gió
Hòa âm muôn đời
Năm ta xa nhà đi học
Lần đầu tiên cha đọc cho nghe bài văn khấn mười hai bà mụ năm nao
Nghe một lần một lần thôi đến giờ vẫn nhớ
.
Bài văn khấn mười hai bà mụ:
.
Hôm nay đầy tháng ngày lành,
Lễ bày cúng mụ lòng thành con dâng.
.
Trước xin được tạ ơn Trời Đất,
Ơn chở che chất ngất non xanh.
Chúng con có chốn an lành,
Có nhà cửa có cơm canh bốn mùa.
.
Lại cúi đầu xin thưa các mụ,
Tiểu nhi con đầy đủ tốt tươi.
Mắt trong, mặt sáng, miệng cười,
Chân tay lành lặn làm người. Tạ ơn!
.
Con bày lễ tinh tươm bình dị,
Xin dâng lên chư vị – nhất tâm.
Người nơi xa người nơi gần,
Cúi xin chư vị một lần nhận cho.
.
Điều lành đến như bờ thuyền đậu
Điều dữ cùng điều xấu bay đi.
Tiểu nhi lòng dạ khắc ghi,
Mười hai bà mụ bù trì cho con”
.
Nam mô Phật mười phương chư Phật,
Lời chúng con chân thật nôm na.
Dám mong công đức hải hà,
Cúi đầu xin nhận
Chúng con
Không dám kêu ca
Ít nhiều”
.
Năm tháng dần trôi
Thời gian tàn phai
Trí nhớ ta rụng rơi bay theo mùa lá
Bao nhiêu chuyện buồn chuyện vui không còn nhớ
Bài văn khấn mười hai bà mụ
Khảm khắc lòng ta
Rồi sáng lên khi ta thắp hương cúng mụ cho đứa con đầu lòng
Cũng một ngôi nhà đơn sơ mái lá
Cũng những món lễ bày trên chiếc nia màu nâu nho nhỏ
Ta nghiêm trang lâm râm bổng trầm bài văn khấn
Lời nôm na mộc mạc
Và tin
Mười hai bà mụ mát lòng
Mười hai nén hương khói bay thẳng đứng
Rồi vẫn thế bài văn khấn mụ
Ta được đọc lần thứ hai cho thằng con út
Rồi lần thứ ba cho cháu nội của ta
Bài văn cúng mụ từ bao giờ sinh ra?
Ta không thể biết
Ơi mười hai bà mụ
Âm thầm
Lặng lẽ
Nơi nao
Nặn thành những tiểu nhi đủ tháng đủ ngày đủ mắt đủ miệng đủ mũi đủ chân đủ tay đủ tóc đủ tai…
Lành lặn con người
Một lần chào đời
Một lần sống
Một lần khôn lớn
Một lần già đi
Một lần lại bay bay mãi
Như lá theo mùa rụng rơi về cội
.
Mùa Thu!
Chín năm chinh chiến mịt mù
Lô giang thuyền no gió
Song thân trở lại cố hương
Nơi muôn ngả nước về tụ hội
Ngã ba Hạc mênh mang nhấp nhô tung sóng
Cây Chiên đàn lớn cao ngàn trượng cành vươn xa tỏa bóng vạn vạn cánh chim theo triền nước bay về
Mẹ kể chỉ mình cha cầm chèo giữ lái
Anh cả vừa tròn mười bốn tuổi đã ra dáng đàn ông thức khuya dậy sớm đủ no mọi việc đỡ đần
Mẹ đặt ta nằm trong thúng đói thức dậy ăn chơi một mình và ngủ
Mươi ngày bình yên Lô giang xuôi dòng
Ta nhìn thấy gì thủa xa xôi ấy?
Bé tí hin ngọ nguậy một mình
Ta nghe thấy gì cuộc viễn du thủa ấy?
Nằm trong thúng nhỏ bé tí hin?
Trời thu xanh vời vợi?
Mây trắng nõn như bông?
Lô Giang thăm thẳm sóng?
Hình dáng Cha vững chãi?
Anh trai mười bốn tuổi đã ra dáng đàn ông?
Rào rào vạn cánh hạc?
Tiếng gió thu dịu dàng?
Rầm rì tiếng nước chảy?
Ngả bóng mát Chiên đàn?
.
Mùa Thu cố hương thuyền cập bến
Xa thật xa
Kí ức tỏ mờ
Đẹp như một giấc mơ
Buồn như một giấc mơ
Dịu dàng miền cổ tích
Trong máu thịt ta
Thúng nhỏ ngon giấc bé tí hin….
.
Ta lớn lên giữa thiêng liêng Quê Ngoại!
Ông bà bác bá chú dì cậu mợ cả một đàn em gái em trai
Nền đất ở cha ta kể lại
Người bà con xa, thật xa vừa bán vừa cho
Ba gian nhà dựng lại từ cột kèo rui mè cửa rả…ngôi nhà cũ từ miền ngược mang về
Ngôi nhà nhỏ ba bốn lần chìm trong nước lũ
Đôi ba lần bay mái vì giông
Đôi ba lần xiêu vẹo vì bom Mĩ ném
Cầu Việt Trì gẫy sụm hai lần
Nhà máy quanh vùng ngùn ngụt cháy
Hố bom sâu hoắm khắp bờ bãi ruộng đồng…
.
Ba gian nhà cứ như cổ tích
Ta lớn lên
Không hề nhớ những năm khó ngặt
Không hề nhớ sắn sượng khoai hà
Không hề nhớ tái tê đông giá
Không hề nhớ mái thủng những đêm mưa
Ta lớn lên
Anh chị ta lớn lên
Em út ta sinh ra và lớn lên
Sáng sủa khôi ngô rạng ngời
Áo rách quần manh
Lấm lem gio than bùn đất
Cuốc bộ đến trường
Cắt cỏ chăn trâu
Nhặt từng bông thóc rụng
Rau tập tàng đựng bằng nón đội đầu…
Ta lớn lên
Mắt sáng da nâu tóc bù xù bụng thon ngực nở
Lội ruộng chân đất đầu trần…
.
Cây gạo vươn cao tháng Ba chim sáo tháng Mười trắng nõn tung bông
Mênh mang nước cánh đồng mùa lũ
Ràn rạt chim bay
Cá tôm búng nước
Đêm trăng Ngã ba Hạc
Sương khói mùa Xuân
Lỗng lẫy mùa Hè
Thăm thẳm mùa Thu
Ngăn ngắt mùa Đông
Ta lớn lên giữa thiêng liêng Quê ngoại
Giữa ruộng đồng sông nước hoa lá cỏ cây
Mỗi lần về quê ta lại thèm được đi chân đất
Tìm vạt cỏ xanh nằm xuống và nhắm mắt
Ngàn cánh hạc lại bay về…
.
Câu nói của Cha đã thành trong ta máu thịt
Trên thế gian này nếu không cùng họ thì thôi
Đã – là – người – mang – họ – Đặng – đều – anh – em – chung – gốc – chung – cành
Cha dạy ta bài gia huấn ca Đặng tộc
Ta cũng thuộc nằm lòng
“Thấy người đói rách thì thương,
Thấy ai lỡ bước bên đường cho ăn”
Cuốn sách đầu tiên ta đọc hình như khi lên chín lên mười
Chăn trâu cắt cỏ mang theo
NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ
Những người mang tên hoàn toàn xa lạ
Jean Valjean, Javert, Fantine, Cosette, Marius Pontmercy, Thénardier, Éponine…
Ô sao lại nhớ như in
Càng nhớ như in xế chiều hôm ấy
Mải mê theo bước chân Javert dượt đuổi ông cháu Jean Valjean
Ta đắm chìm trên những nẻo phố Paris hoàng hôn buông và màn đêm xa lơ xa lắc
Con trâu ta chăn ăn hết một vạt ngô và bị người ta bắt
Cha ta hoảng vía hoảng hồn vội vã kiếm tìm
Ao chuôm
Bờ bụi
Thằng con chết đuối?
Rắn độc nọc phun?
Người như khuỵu xuông khi nhìn thấy ta đang chúi mũi chúi đầu trang tiểu thuyết…
Ta run lên
Tái xám mặt mày
Người dẫn ta ra trước vạt ngô cụt đầu cụt ngọn
Con nhìn xem chúng sẽ chẳng bao giờ còn trổ cờ ra bắp…
Chẳng bao giờ
Chẳng bao giờ
Một vạt ngô
Sẽ chẳng bao giờ
Sẽ chẳng bao giờ còn kịp
Những cây ngô cụt ngọn
Sẽ chẳng bao giờ ra bắp trổ cờ
Những cây ngô – con trâu có đôi mắt hồn nhiên nhìn không chớp – những người khốn khổ hình như theo ta vào cả giấc mơ
Mỗi khi chợt nhớ
Lại cười rất đỗi vu vơ.
.
Năm một ngàn chín trăm bảy mốt
Tái ngắt mùa đông
Xác xơ sau mùa gặt cánh đồng hoang vu gió
Hố bom cạn nước
Ô kìa một đàn cá
Thoi thóp
Lẫn bùn
Ta mừng khôn xiết
Cởi quần
Làm túi
Bắt cá mang về
Quên rét
Quên lạnh tái tê
Bữa cơm chiều nay thơm mùi cá kho cá nướng
Ta hớn hở khoe
Mẹ ta nghe
Rùng mình run rẩy
Hố bom năm nào
Người chết
Máu thịt vãi vung trộn bùn
Mất dạng
Trời đất quỷ thần
Cá
Bùn
Máu thịt người
Mẹ đem cá ra góc vườn chôn
Nấm đất con con
Năm nén hương thơm
Lầm rầm khấn vái
Ôi cá!
Ôi máu thịt người!
Ôi hố bom!
Ôi đất bùn…
.
Đêm
Ta rùng rùng cơn sốt
Chập chờn cơn ác mộng
Bom rơi
Vung vãi máu thịt người
Hố bom đen ngòm địa ngục
Đàn cá ăn thịt người
Lẫn trong bùn đất
Mê man cơn sốt
Trận ốm đầu tiên
Ôi nỗi – buồn – chiến – tranh
Ngấm vào ta từ thủa đầu trần chân đất
Cắt cỏ chăn trâu
Ta trở về quê sau những năm tháng dài dặc xa
Vẫn đứng nhìn cánh đồng có hố bom thủa ấy
Dấu tích không còn
Cả nấm mộ cá góc vườn
Rồi cả mẹ ta cũng về miền mây trắng
Một mình ta thẩn thơ và im lặng
Nỗi – buồn – chiến – tranh
Cứ lần lượt hiện hình
Chiều mùa đông
Hố bom sâu
Đàn cá
Run rẩy mẹ ta
Nghi ngút khói hương bay…
Chiều mùa đông năm một ngàn chín trăm bảy mốt.
.
Cũng mùa đông năm một ngàn chín trăm bảy mốt
Chính quyền đến nhà báo tin
Anh cả tôi tử trận trong trận chiến Mậu Thân tại chiến trường miền Nam
Một tuần tóc mẹ bạc trắng
Một tuần cha vóc vạc hao gầy trong im lặng
Trên bàn thờ thêm một bát hương do chính tay cha làm từ trụ sứ (*)
Tuổi thơ ta là thế
Chất thơ lặng và buồn
Ta đâu cần mua vé để trở về
Ta đâu cần đi tìm
Thời gian với ta chưa bao giờ mất
Như đàn sáo mỏ vàng cứ trở về mùa hoa gạo tháng Ba
Như rợp trời hạc trắng bay về
Nơi Lô giang gặp Thao giang trùng trùng sóng nước.
(*) Thiết bị điện dùng để mắc dây cho lướt điện trung – hạ thế.
Đặng Tiến (Thái Nguyên)