Kalynh Ngô: ‘Về Nhà Trước Khi Lá Rụng’

Cựu Ngoại trưởng John Kerry nói: “Bài học từ Việt Nam và Iraq là: đừng nói dối người dân Mỹ. Đừng yêu cầu họ gửi con trai, con gái của mình ra chiến trường.” Bởi lẽ, không người dân nào muốn mình phải tin vào lời thề “về nhà trước khi lá rụng.” (Minh họa: Explosive Media)

Đệ Nhất Thế Chiến là một trong những sự kiện tàn khốc trong lịch sử nhân loại. Cuộc xung đột kéo dài bốn năm (1914 – 1918), khoảng 10 triệu quân nhân đã bỏ mạng và thêm 6.8 triệu thường dân thiệt mạng. Đáng chú ý là khi các cuộc giao tranh nổ ra vào cuối mùa hè năm 1914, nhiều người dân Châu Âu đã tin rằng cuộc chiến sẽ kết thúc trước mùa lễ Giáng Sinh. Hoàng đế Wilhelm II (1859 – 1941), vị quân vương của Đế Chế Đức, đã đưa ra một lời tuyên bố khét tiếng với binh lính của mình rằng họ sẽ được trở về nhà trước khi những chiếc lá trên cây kịp rụng khỏi cành.

Nhưng rồi cuộc chiến kéo dài sang mùa đông năm 1914 mà tín hiệu kết thúc vẫn mờ mịt từ hai phía. Những người lính nơi tiền tuyến đã phải đối mặt với thực tế phũ phàng là đón Giáng Sinh ngay trong chiến hào. Họ đã trải qua thêm bốn mùa lá rụng trên chiến trường.

Một sự kiện khác, khá gần gũi với người Việt Nam. Vào tháng 11 năm 1967, chỉ huy quân sự cấp cao nhất của Hoa Kỳ tại Việt Nam, Tướng William C. Westmoreland, đã trở về Washington. Tại đây, ông tuyên bố cuộc chiến đã “gần đi đến hồi kết” vì mọi hy vọng của kẻ thù đều đã hoàn toàn sụp đổ. Ông cùng các quan chức khác trong chính quyền khi ấy đều tin rằng mình đã nhìn thấy “ánh sáng ở cuối đường hầm.”

Thế rồi trong suốt năm tiếp theo đó, kẻ thù đã gây chấn động cả quốc gia bằng cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân. Tổng thống Lyndon B. Johnson quyết định không tái tranh cử. Cuộc chiến đã thực sự kết thúc, ít nhất là đối với Tướng Westmoreland, người bị sa thải sau đó. Năm năm sau, quân đội Hoa Kỳ thực hiện cuộc rút quân cuối cùng khỏi miền Nam Việt Nam. Tháng 4 năm 1975, những chiếc xe tăng Bắc Việt ào ạt tiến vào các đường phố Sài Gòn. Việt Nam trở thành một quốc gia Cộng Sản. Ánh sáng ở cuối đường hầm ấy, hóa ra lại mang màu đỏ rực.

Chính quyền của George W. Bush từng hứa cuộc chiến tại Iraq (năm 2003) sẽ diễn ra rất nhanh. Binh sĩ sẽ trở về nước chỉ trong vài tháng. Thế nhưng cuộc chiến này đã kéo dài gần một thập niên.

Chỉ là ba trong số rất nhiều cuộc chiến trên thế giới, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, mà tướng lĩnh, thống soái, tổng thống, đều đưa ra lời hứa với binh sĩ, người dân về một ngày “hòa bình không xa, không còn tiếng súng.” Chiến tranh rồi cũng sẽ kết thúc. Đó gần như là lời cam kết cơ bản mà bất kỳ tổng tư lệnh nào cũng đưa ra vào một thời điểm hạ lệnh cho những quả bom đầu tiên trút xuống.

Lịch sử đã chứng minh khá rõ, chiến tranh bắt đầu bằng tiếng súng, bom rơi, nhưng không dễ dàng kết thúc bằng lời hứa.

Nhưng Donald Trump, tổng thống khao khát giải Nobel Hòa Bình, có vẻ như không tin vào quy luật đó. Trump vẫn luôn tự khắc họa bản thân như một bậc thầy đàm phán, một người giành chiến thắng bằng cách buộc đối phương phải ngồi vào bàn thương lượng. Sau hơn năm mươi ngày kể từ khi chính quyền Trump phát động cái mà họ gọi là “Chiến Dịch Búa Đêm” (Operation Midnight Hammer), Hoa Kỳ đang sa lầy vào chính cái kiểu vũng lầy Trung Đông không hồi kết mà Trump từng cam kết sẽ tránh xa khi tranh cử.

Chỉ vài giờ trước khi lệnh ngừng bắn kéo dài hai tuần ​​hết hiệu lực, Trump thông báo trên Truth Social rằng lệnh tạm dừng này sẽ tiếp tục “cho đến khi” các nhà lãnh đạo Iran đệ trình “một đề nghị thống nhất.” Người từng lên án, chỉ trích các cuộc đàm phán của chính quyền Obama với Iran là yếu kém và vô tận, giờ đây lại tự tạo ra một thỏa thuận thậm chí còn mơ hồ hơn.

Lệnh ngừng bắn phải gia hạn vô thời hạn nhưng không phải vì thiện chí của hai bên trên mặt trận ngoại giao, mà vì Trump đơn phương tung ra những lời ngông cuồng, sai sự thật trên Truth Social. Các cuộc đàm phán hòa bình rơi vào bế tắc, cùng một cuộc phong tỏa hải quân tại eo biển Hormuz đang âm thầm bóp nghẹt nền kinh tế toàn cầu, bao gồm cả nền kinh tế của chính nước Mỹ.

Mặc cho tổng thống Hoa Kỳ thét gào, giẫy giụa, đe dọa, đối phương vẫn bình tĩnh đáp trả bằng thế mạnh của chính họ. Các chiến lược gia quân sự của Iran hoàn toàn có lý khi nhận định rằng eo biển này mang lại cho họ giá trị lớn hơn trong các cuộc đàm phán so với bất kỳ vũ khí hạt nhân nào từng có.

Sự khác biệt giữa hai bên là, một bên biết họ có gì, một bên không biết đối phương có gì. Trưởng đoàn đàm phán của Iran thẳng thắn tuyên bố trên X rằng Tehran sẽ không đàm phán “dưới cái bóng của sự đe dọa.”

“Trump đã tự dồn mình vào chân tường,” Thượng Nghị Sĩ Elizabeth Warren đã nói thế. Và những bức tường ấy đang dần khép lại.

Bà Aniseh Bassiri Tabrizi thuộc Viện Nghiên Cứu Chatham House đã phát biểu một cách thẳng thắn với truyền thông: “Nếu cả hai bên không thay đổi lập trường, sẽ không thể có một thỏa thuận nào đạt được tại Islamabad.” Bà lưu ý rằng “cần phải có sự nhượng bộ từ cả hai phía, bởi lẽ vào thời điểm hiện tại, khoảng cách giữa hai bên là quá lớn để có thể đi đến một thỏa thuận.”

Căn phòng của Trump

Thế tiến thoái lưỡng nan về mặt chiến lược của Trump giờ đây đã hiện rõ một cách trần trụi: không thể thắng, mà cũng chẳng thể rút lui.

Trump không thể thắng bởi lẽ chiến dịch quân sự này, dù đạt được những thành công nhất định về mặt chiến thuật, lại không đạt được mục tiêu chiến lược đã đề ra. Iran vẫn chưa từ bỏ những tham vọng hạt nhân của mình. Eo biển Hormuz trên thực tế vẫn bị phong tỏa, hoặc luôn nằm trong tầm kiểm soát và có thể bị Iran gây trở ngại bất cứ lúc nào họ muốn. Chính quyền Tehran, dù chính Trump từng mô tả là đang “rạn nứt nghiêm trọng” vẫn chưa hề sụp đổ. Mahdi Mohammadi, một cố vấn cấp cao của chủ tịch Quốc Hội Iran sáng nay đã gọi việc gia hạn lệnh ngừng bắn là “một mưu mẹo nhằm câu giờ.” Thậm chí còn tuyên bố rằng việc Hoa Kỳ phong tỏa các cảng biển của Iran “chẳng khác nào hành động ném bom, cần phải được đáp trả bằng biện pháp quân sự.”

Những lời lẽ này hoàn toàn không phải là phát ngôn của một chính quyền đang đứng bên bờ vực đầu hàng, hoặc lực lượng quân đội đã bị tiêu diệt, “nằm trọn dưới đáy biển” như Trump đã nói.

Trump không thể rút lui, bởi lẽ bất kỳ thỏa thuận nào chưa đạt tới mức một hiệp ước chấm dứt hạt nhân, kèm theo quyền tự do lưu thông qua eo biển Hormuz, sẽ chẳng khác nào sỉ nhục vào bản sắc chính trị mà Trump đã xây lên cho mình, dù đó là ảo tưởng.

Sáng thứ Ba, ông phát biểu trên đài CNBC rằng không muốn gia hạn lệnh ngừng bắn và dự kiến ​​sẽ nối lại các đợt ném bom. Nhưng chỉ vài giờ sau đó, lại quyết định gia hạn lệnh ngừng bắn. Một ngày trước đó, Trump chia sẻ với Bloomberg News rằng khả năng gia hạn là điều “rất khó xảy ra.”

Donald Trump vạch ra một lằn ranh, rồi chính ông lại bước qua lằn ranh đó. Sau đó lại vạch ra một lằn ranh mới ở một vị trí xa hơn. Sau cùng, không còn chỗ trống nào để Trump có thể vạch lại.

Khi hai bên đang thương lượng xem bên nào sẽ phải nhượng bộ trước, những tổn thất vẫn đang âm thầm leo thang theo những cách mà dư âm của chúng sẽ còn kéo dài rất lâu sau khi chính quyền hiện tại kết thúc nhiệm kỳ. Cuộc khủng hoảng tại eo biển Hormuz đến nay đã kéo dài gần hai tháng. Gánh nặng kinh tế đã bắt đầu đè nặng lên vai người tiêu dùng ở khắp mọi nơi, từ chi phí nhiên liệu leo ​​thang cho đến tình trạng lạm phát trong chuỗi cung ứng đối với các mặt hàng phụ thuộc vào vận tải đường biển.

Tiếng thở dài ở những trụ bơm xăng dầu mỗi ngày một nhiều hơn.

Có vẻ như lệnh ngừng bắn không thời hạn của Donald Trump không phải là một chiếu nghỉ trong cái cầu thang dài hun hút. Nó có vẻ như một sự thừa nhận, dù được khoác lên vẻ huênh hoang đặc trưng của Trump, rằng con đường phía trước vẫn còn mờ mịt.

Lịch sử sẽ không ghi nhớ những lời đe dọa được đăng tải trên mạng xã hội Truth Social. Thay vào đó, lịch sử sẽ ghi nhớ việc liệu giới lãnh đạo Mỹ hiện nay có đủ năng lực tạo ra một nền ngoại giao bền vững hay không?

Lệnh ngừng bắn này không phải là biểu hiện của sức mạnh. Đó chỉ là hình ảnh của một vị tổng thống đang loay hoay, không biết làm thế nào để thoát ra khỏi chính căn phòng mà ông đã tự nhốt mình vào đó.

Xuất hiện trong chương trình mới nhất The Late Night Show của Steven Colbert, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry kể rằng, “Netanyahu cũng đã trình bày lý do về cuộc chiến tranh Iran với chúng tôi. Câu trả lời là không.”

“Cũng là sẽ có sự thay đổi chế độ, rằng người dân sẽ nổi dậy. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Obama nói không. Bush nói không. Biden nói không. Chúng ta đã bị lừa dối về mục đích thực sự của cuộc chiến đó.”

Lời cuối của cựu ngoại trưởng là: “Bài học từ Việt Nam và Iraq là: đừng nói dối người dân Mỹ. Đừng yêu cầu họ gửi con trai, con gái của mình ra chiến trường.”

Bởi lẽ, không người dân nào muốn mình phải tin vào lời thề “về nhà trước khi lá rụng.”

Kalynh Ngô

(Theo Việt Báo Online)

*bài do CTV/TVBH gởi.

Bài Mới Nhất
Search