Những gì được viết sau đây được góp nhặt vụn vặt từ những lời kể không trọn vẹn và đầy chủ quan. Hy vọng không quá làm sai lệch cuộc đời Trần Thái Đỉnh sau 1975.
——
Những ngày sau 1975 của Trần Thái Đỉnh (1921- 2005) không chỉ là một trạng thái tâm lý cá nhân, mà còn là sự kết tinh của cả một hành trình trí thức – thiêng liêng kéo dài qua nhiều biến động lịch sử, văn hóa và nội tâm. Ở đó, ta có thể nhận ra một kịch tính thầm lặng, không ồn ào nhưng dai dẳng và có chiều sâu.
Sau năm 1975, Trần Thái Đỉnh không còn dạy ở Đại học Văn Khoa. Trước đó vào năm 1974, cuộc đời biến động và bệnh tật đã đẩy ông vào chỗ bế tắc và cuối thập niên 1970 ông đã từ bỏ tác vụ linh mục. Ông đã lui về sống ẩn dật bằng việc day Tiếng Pháp tư cho tới khi qua đời.
Trước hết, cần nhấn mạnh đến cảm thức về thời gian và sự hữu hạn. Ở những năm sau 1975, đối với một người từng suy tư nhiều về hiện sinh và trải qua nhiều biến cố, thời gian không còn là một dòng chảy trừu tượng mà trở thành một thực tại mang tính hiện sinh rất cụ thể: thời gian như đang “khép lại”. Điều này không chỉ đem đến hoảng loạn, nhưng cũng đưa ông đến một dạng tỉnh thức đặc biệt. Mỗi ký ức, mỗi công trình đã viết, mỗi bài giảng, mỗi cuộc tranh luận trí thức, tất cả hiện lên như những mảnh ghép của một đời sống đang được “đọc lại”. Và ông đã đọc chúng tới cuối đời. Đây là dạng hồi cố không đơn thuần mang tính hoài niệm, mà mang tính phán định nội tâm: Điều gì là cốt lõi? Điều gì chỉ là phụ thuộc vào hoàn cảnh? Điều gì còn giá trị vượt thời gian?
Trong tiến trình vừa u uất vừa minh định đó, xuất hiện một cảm thức dang dở rất tinh tế. Trước 1975, Trần Thái Đỉnh không chỉ làm mục vụ thuần túy, ông còn mang hoài bão xây dựng một nền triết học Công giáo Việt Nam có khả năng đối thoại với tư tưởng hiện đại, đặc biệt là các trào lưu hiện sinh phương Tây. Nhưng những biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX như chiến tranh, thay đổi chế độ, giới hạn của đời sống học thuật sau 1975… đã khiến nhiều dự án trí thức bị gián đoạn hoặc không thể phát triển trọn vẹn. Vì thế, sau 1975, ông luôn nhìn “tồn tại” với một nỗi băn khoăn: liệu những gì mình khởi xướng có thực sự được tiếp nối hay sẽ bị lãng quên trong những đứt gãy của lịch sử?
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là cảm thức dang dở này không nhất thiết dẫn đến cay đắng. Với một người từng là linh mục, đặc biệt là một người thấm nhuần chiều kích thần học, mọi công trình con người đều mang tính “tạm thời” trước viễn tượng vĩnh cửu. Do đó, tâm trạng của ông có thể chuyển từ thất vọng sang một dạng phó thác mang tính siêu việt: những gì chưa hoàn thành trong lịch sử vẫn có thể được hoàn tất trong kế hoạch của Thiên Chúa. Đây là điểm mà triết học hiện sinh, vốn nhấn mạnh đến sự phi lý và hữu hạn, được “vượt qua” dưới ánh sáng của đức tin. Nỗi thao thức này không hẳn là thất vọng, mà đúng hơn là một dạng hy vọng mang tính cách chung, đó là niềm tin rằng hạt giống trí thức và đức tin rồi sẽ sinh hoa kết trái trong một thời điểm khác.
Một chiều kích khác là sự hòa giải giữa trí tuệ và đức tin. Trong suốt cuộc đời, Trần Thái Đỉnh đã sống trong một căng thẳng sáng tạo: một bên là khát vọng triết học muốn đặt câu hỏi đến tận cùng, kể cả những câu hỏi gây bất an; bên kia là đức tin Công giáo với những chân lý mặc khải. Ở tuổi trẻ và trung niên, căng thẳng này có thể mang tính đối kháng hoặc ít nhất là giằng co. Cuối đời, có thể ông đạt tới một trạng thái mà ở đó, những câu hỏi lớn không còn gây xáo trộn như trước, mà được an vị trong một niềm tín thác. Đây là dạng bình an không phải vì đã giải đáp hết mọi vấn đề, mà vì chấp nhận sống cùng mầu nhiệm. Triết học không còn là một cuộc nổi loạn chống lại đức tin, mà trở thành một con đường đào sâu đức tin. Ngược lại, đức tin không còn là giới hạn của tư duy, mà là chân trời mở rộng cho tư duy.
Chính trong tiến trình hòa giải đó, ông có thể trải nghiệm một dạng bình an rất đặc thù. Đây không phải là sự bình an của người đã giải xong mọi bài toán mà là bình an của người chấp nhận rằng có những câu hỏi không cần – và không thể – được giải theo nghĩa triệt để. Nói cách khác, ông đi từ ý chí hiểu biết tuyệt đối sang sự khiêm tốn trước mầu nhiệm. Đối với một triết gia, đây là một bước chuyển quan trọng: từ chỗ muốn nắm bắt chân lý sang chỗ để mình được chân lý “nắm bắt”.
Tuy vậy, không thể bỏ qua một yếu tố mang tính hiện sinh rõ nét: nỗi cô đơn trí thức. Những người đi trước thời đại thường không tìm được nhiều cộng hưởng ngay trong thời của mình. Trần Thái Đỉnh có thể ý thức rằng những suy tư của ông, đặc biệt là nỗ lực đối thoại giữa hiện sinh và Kitô giáo, chưa thực sự được hiểu đúng hoặc phát triển sâu trong môi trường Việt Nam. Điều này có thể tạo nên một dạng cô đơn không chỉ xã hội mà còn tri thức: cảm giác mình nói trong một không gian chưa sẵn sàng lắng nghe. Nhưng chính ở điểm này, đời sống của ông lại mang một ý nghĩa đặc biệt. Rũ bỏ lớp hào quang giáo sư triết, cô đơn không chỉ là thiếu vắng người khác, mà còn là không gian để gặp gỡ Thiên Chúa. Trong truyền thống Kitô giáo, nhiều kinh nghiệm thiêng liêng sâu sắc nhất xảy ra trong cô tịch. Vì thế, nỗi cô đơn của ông, thay vì là một bi kịch, có lẽ đã trở thành một ơn gọi thanh luyện: tách khỏi những kỳ vọng về thành công trí thức hay ảnh hưởng xã hội, để trở về với cốt lõi của đời sống hiệp thông với Thiên Chúa.
Nếu phải tóm lại, tâm thế sau 1975 của Trần Thái Đỉnh không thể giản lược thành một cảm xúc đơn lẻ. Đó là một cấu trúc phức hợp gồm sự hồi cố và phán định nội tâm, cảm thức dang dở nhưng không tuyệt vọng, tiến trình hòa giải giữa lý trí và đức tin và nỗi cô đơn được chuyển hóa thành chiều sâu thiêng liêng. Tất cả những yếu tố này quy tụ lại trong một trạng thái có thể gọi là “minh triết muộn”, là điểm tới hạn mà con người không còn cố gắng chiếm hữu chân lý, mà học cách sống trong chân lý, ngay cả khi chân lý ấy vẫn còn vượt quá mọi khái niệm và ngôn ngữ, tất cả được bao bọc trong một niềm tin bền bỉ.
Vương Tuấn
*Bài do CTV/TVBH gởi.
