Hai mươi năm sau, Ẩn Lan là ai? Tôi vẫn không biết, và không cần biết. Chỉ cần biết điều ông để lại, “mối tình là một bài thơ vô đề.”
Người ta nhớ ông khi nhắc về hình ảnh gần như bất tử của nàng Hoàng Thị Ngọ với dáng người thanh mảnh, tóc thả ngang vai. Mối tình với Ngọ trong thơ, và trong nhạc khi qua tay “phù thủy” Phạm Duy, là câu chuyện phản chiếu của biết bao nam thanh nữ tú thời Sài Gòn còn rợp bóng me xanh.
Có người nhớ ông khi nhắc đến một gã nào đó, trong trí tưởng tượng của nhạc sĩ họ Phạm, đã từ quan để đưa em tìm động hoa vàng.
Thật ra thì trong 400 câu thơ Động Hoa Vàng của ông, chẳng có gã nào từ quan cả. Với ông, cõi này, chỉ có “Như Lai thường trụ trên tà áo xuân” cũng đủ làm cho “Người về sao nở trên tay/Với hài đẫm nguyện thêm dài gót mơ.”
Phạm Duy ngây ngất với hình ảnh thiền, chùa, động hoa vàng mát rượi cho tâm hồn, có lẽ thêm vào chất si tình nghệ sĩ, nên ông nói:
“Tôi tự coi mình là kẻ từ quan tìm được nơi ẩn náu là cõi thơ Phạm Thiên Thư. Gặp Phạm Thiên Thư tôi như thoát xác, vượt ra khỏi những đắng cay chán chường và bế tắc của tâm ca, tâm phẫn ca, vỉa hè ca. Tôi muốn thử đi vào đạo với một tu sĩ mà cái uyên thâm về đạo giáo chắc chắn phải hơn tôi rất xa.”
Động hoa vàng và em, hay chốn quan trường và bổng lộc, cuối cùng cả hai đều chọn “ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan” sau khi khẽ trách “nhìn trăng sao nỡ để lời thề bay.”
Cả hai, một thi sĩ, một nhạc sĩ. Cuộc gặp gỡ của họ “là của một ngọn núi và một đám mây,” như Phạm Duy từng kể lại lời của ông.
Còn tôi, một ngọn cỏ dại vô cùng bé nhỏ, từ lâu từ phương trời xa, biết về ông, qua hình ảnh của một “Ẩn Lan giờ vẫn đẹp tươi/Một chiều bên suối ngỏ lời hằng mơ.”
Trong Đạo Phật, “chữ tình” (情) thường bị nhìn nhận là nguyên nhân gốc rễ của u mê, lầm lỡ, mong cầu và sở hữu, của luân hồi sinh tử, căn nguyên của đau khổ. “Ái bất trọng bất sinh Sa-bà” Nhưng sao chữ tình trong thơ ông nhẹ như khói hương trầm, “mối tình là một bài thơ vô đề.”
Chữ tình trong thơ ông là con đom đóm nhỏ,“cho em, em cất tiếng cười”. Mà nếu lỡ “hất tay em thả đóm trời tung bay” thì cần chi phải càu nhàu nhau? Chỉ cần “Vòi ta đuổi bắt lại ngay/Thả đi, đòi lại mãi đày đọa nhau.”
Khi nhắc về tác phẩm Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu, nhạc sĩ Phạm Duy viết trong hồi ký rằng:
“Sau khi đã theo Phạm Thiên Thư ‘đưa em tìm động hoa vàng’, tôi lại cùng anh ‘gọi em là đóa hoa sầu’… Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu là những câu thơ của thi sĩ Phạm Thiên Thư, cho rằng dù sao đi nữa thì cuộc đời này rất là đáng sống trong cái mênh mông bao la của phù vân hư ảo. Hành âm nghe rất âm yếm và nhẹ nhàng, hợp với không khí nồng nàn và an ủi của bài ca. Dù ta thấy được sự phù vân của cuộc đời nhưng ta vẫn thấy được cái nồng nàn của tình yêu.”
Tôi yêu Ẩn Lan từ ngày đó.
Ẩn Lan đẹp như bài thơ vô đề. Ẩn Lan sương khói trong “màu áo nhuộm hoàng hôn.” Màu hoàng hôn là màu gì? Vì sao hoàng hôn rồi Ẩn Lan lại “cắp rổ lên cồn hái dâu”? Chắc màu hoàng hôn là một màu lam chiều quyện giữa màu lúa chín với màu ánh nắng đang dần tắt sau đồi, có cả màu khói bếp trắng như sương.
Không gian thơ và tình của ông, tìm mãi không thấy sự đau khổ cằn cỗi của con người. Khi Ẩn Lan “Thế rồi – tăm cá bóng chim/Theo Thầy ẩn dật dời miền đi xa”, để Vương Quan phải “thế rồi vâng lệnh song thân/Se duyên cùng với giai nhân xóm ngoài”
thì ông vẫn không để cho họ phải nếm trải cảm giác chia ly đứt đoạn như Kim-Kiều của Đoạn Trường Tân Thanh.
Có nhớ. Có tìm lại kỷ niệm xưa. Có thấy nơi “năm xưa em tựa cội đào/Tên ai còn dấu khắc vào da cây.”
Ẩn Lan xuất hiện trong thơ ông không nhiều. Chỉ một lần Vương Quan thốt lên gọi “Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề.” Chỉ nỗi nhớ rất đơn sơ đó thôi cũng đã làm cho nhạc sĩ họ Phạm ngây ngất. Mái tóc của Ẩn Lan là hình ảnh thực tế duy nhất ông miêu tả về nàng. Mái tóc ấy “buộc chùm hoa ngâu vàng.” Mùi hương mái tóc ấy, qua cảm nhận của chàng nhạc sĩ, nó là “nỗi buồn thơm lâu,” để rồi “gọi em là đóa hoa sầu.”
Nhưng thật ra Ẩn Lan của ông không buồn, không sầu. Ẩn Lan trong Động Hoa Vàng là sương là khói, trong như nước, nhẹ như mây. Từng thanh âm trong bài thơ thoát lên sự nền nã của phù vân. Phù vân trong cuộc đời. Tiếng cười, ánh mắt, mái tóc, đêm trăng… tất cả đều còn đó không hề mất đi. Có chăng là một hình hài khác, ở một nơi khác.
Cái buồn trong thơ ông đẹp và thanh như tiếng chuông chùa vọng lại. Tiếng chuông sẽ dứt, nhưng tiếng ngân để lại âm vang sâu thẳm, để lại trong “mái đình rêu vọng trống chầu nhịp mưa.” Sau khi “sông dài cởi yếm hoàng hôn” thì “bầy chim ngủ đậu bên cồn lại bay” thôi.
Tình trong thơ của ông, nặng như sông như biển, nhưng cũng nhẹ như mây trời.
“Nền trời nhàn nhạt màu mơ
Sông đem ráng đỏ sóng hờ hững đi.”
Hai mươi năm sau, Ẩn Lan là ai? Tôi vẫn không biết, và không cần biết.
Chỉ cần biết điều ông để lại, “mối tình là một bài thơ vô đề.”
Và một khung trời có màu nắng nhuộm hoàng hôn, có cả tiếng chuông chùa vọng Thiên Thư.
Nơi đó, người ta sẽ yêu và sống từ tâm.
Kalynh Ngô
(Theo Việt Báo Online)
*Bài do CTV/TVBH gởi
