Văn học lưu vong
Tiếp đến Võ Phiến cho in cuốn Văn học miền Nam tổng quan với mục đích khôi phục lại thực trạng văn học miền Nam, một nền văn học “đang bị tiêu hủy”. Tác phẩm đã được đón nhận nồng nhiệt tại hải ngoại khi mới ra đời. Mười ba năm sau, Võ Phiến hoàn tất bộ Văn Học Miền Nam gồm 7 tập gồm 3229 trang.
Bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến là một tuyển tập, có tham vọng kết hợp hai lối trình bày của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại và Hoài Thanh trong Thi nhân Việt nam, tức là vừa giới thiệu tác giả vừa in kèm tác phẩm tiêu biểu của họ, do đó có bề dầy. Về cuốn Tổng quan, trong chỗ riêng tư, Mai Thảo sinh thời đã có ý phàn nàn về những phán đoán thiên lệch trong sách, nhưng ông không phát biểu công khai. Nhưng sau khi Võ Phiến hoàn tất bộ Văn Học Miền Nam, nhiều người khác lên tiếng phản đối cách phê bình của Võ Phiến trong bộ Văn Học Miền Nam, nhất là về Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc…, đặc biệt những người cùng thời với ông như Viên Linh trong bài “Trăm năm thân thế” viết về Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Văn Trung trong bài “Hướng về miền Nam Việt Nam” và bài Mặc Đỗ trả lời phỏng vấn của Nguyễn Tà Cúc.
Cuốn Văn học miền Nam tổng quan của Võ Phiến ra đời đúng lúc người di tản đang còn bàng hoàng trước cuộc đổi đời, phẫn nộ trước những tin về cải tạo, đau đớn về chuyện thuyền nhân, phẫn uất về việc đốt sách ở quê nhà, nên nó đã đáp ứng đúng nhu cầu của người đọc di tản, nó gây ra một số vấn đề tranh luận. Tuy vậy, cuốn Văn học miền Nam tổng quan vẫn là một tác phẩm cần thiết, nó đã được viết ra sớm nhất trong hoàn cảnh lưu vong, và cũng là một tư liệu văn học viết về thời kỳ 54-75, ở miền Nam, xuất hiện sớm nhất sau chiến tranh.
Bởi vì, trong suốt thời kỳ cực thịnh của sách báo ở miền Nam, chưa có tác giả nào lưu tâm đến việc ghi lại lịch sử văn học của thời kỳ này. Cho nên có thể nói đây là cuốn sách đầu tiên viết về sinh hoạt văn học ở miền Nam trong giai đoạn 1954- 1975, tương đối khá đầy đủ.
(Thụy Khuê – Văn học miền Nam)
Truyện cực ngắn – Chiến tranh
Truyện chớp hay cực ngắn có truyện chỉ một vốc chữ, thậm chí một dúm câu. Nhưng truyện vẫn có hồn, có cốt, có tráng qua một chút văn chương. Nghĩa là đọc nó, người ta không có cảm giác ngột ngạt như bị vo nén lại rồi nhét vào trong cái ống điếu…
“Hắn chỉ thực là lính sau khi hắn vượt biên. Ở Mỹ, cuối tuần nào cũng thế, ngồi trong phòng khách, với ly bia trên tay, giữa đám bạn bè mới, hắn say sưa kể về cuộc đời lính chiến của hắn. Hắn kể say sưa và đầy tự tin: hắn biết chắc chắn trong những trận đánh ấy hắn không bao giờ thua trận. Bạn bè hắn cũng thích thú. Họ nâng ly, cổ vũ: “dzô!”.
Biên khảo
Trong lãnh vực biên khảo không có tác phẩm nào được viết bởi một cá nhân mà chẳng tránh được những thiếu sót và sai lầm. Mặc dù là những nhà biên khảo thành danh, kiến văn quảng bác và những học giả có học vị, lão thành, mà họ đã cẩn trọng, nghiên cứu có phương pháp, tài liệu dồi dào.
Vì những dữ kiện sai lạc đôi khi hai, ba chục năm sau mới tìm ra.
(Trần Bích San – Văn Khảo)
Thơ thiền
Từ những Thiền Sư Khuông Việt thế kỷ thứ 9 đến các Thiền Sư Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Huệ Sinh, Ngộ Ấn, Mãn Giác… thế kỷ thứ 10 đến các Thiền Sư Đạo Hạnh, Không Lộ, Diệu Nhân, Huyền Quang… vào thế kỷ thứ 11, chưa kể hai vì Vua Lý Thái Tông năm (1001-1054) và Trần Thái Tông (1218-1277) cũng trước tác nhiều bài thơ thiền xuất chúng để đời. Và các Thiền Sư Trúc Lâm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hương Hải và Chân Nguyên trong các thế kỷ 13, 14, 15 và 16 nối tiếp phát triển thơ thiền lưu lại hậu thế.
(Thái Tú Hạp – Thơ thiền Việt Nam, Đường thi Trung Hoa)
Việt khác Hoa thế nào
Trị thủy thì người Trung Quốc khơi sâu và khơi nhiều dòng chảy. Người Việt đắp đê.
Người Hoa ở nhà hầm. Người Việt ở nhà sàn.
Trung Quốc đúc đỉnh, Việt Nam đúc trống.
Kẻ sĩ Trung Quốc nằm ở các đô thị. Trí thức Việt – phần lớn nằm ở làng quê.
Trung Quốc tâm lý làm lớn, làm lố. Việt ta tâm lý dân tộc, chủ tình ưa dung hòa nửa vời.
(Trần Quốc Vượng – Văn hóa Việt Nam)
Giòng hay dòng
Thụy Khuê, nhà phê bình văn học, với bài viết “Nhất Linh, Giòng Sông Thanh Thủy” . Trong bài bà đổi tên tác phẩm Giòng Sông Thanh Thủy của Nhất Linh từ Giòng thành chữ Dòng với lời chú thích như sau:
“Nguyên tựa của Nhất Linh là Giòng Sông Thanh Thủy, chúng tôi sửa lại là Dòng Sông Thanh Thủy cho đúng chính tả”.
Đọc lời chú thích đó chúng tôi phân vân tự hỏi Thụy Khuê theo chính tả nào và chính tả nào là đúng? Viết “Dòng” đúng chính tả vậy viết “Giòng” có là sai chính tả hay không? Nếu chữ “giòng” viết nhỏ trong một câu văn ta không chú ý nhưng nếu đã thành tên một tác phẩm in chữ lớn ngoài bìa như Giòng Dỏi (Học Phi), Bên Giòng Lịch Sử (Linh mục Cao Văn Luận), Giòng Lệ Thơ Ngây ( Thanh Nam), Dòng Sông Đinh Mệnh (Doãn Quốc Sỹ) là sự lựa chọn của tác giả, chúng ta chấp nhận cả hai mà không coi là sai.
(Đặng Trần Huân – Chữ nghĩa bề bề)
Đầu cua tai nheo
Hầu như mọi người đều hiểu “tai” ở đây là cơ quan của thính giác trong khi thực ra nó lại có nghĩa là cái mang của con cá. Đó là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ âm Hán Việt là “tô lai thiết” (xem Khang Hy tự điển), có nghĩa là mang cá.
Đã rõ “tai” là mang cá, “tai nheo” tất nhiên là mang của cá nheo.
(Phan Trọng Hoa – Thành ngữ, tục ngữ khó hiểu)
Hội nhập
Ngôn ngữ của tôi là thứ ngôn ngữ hơn năm chục năm về trước. Tôi nói: “Tôi đi nhà thương mổ mắt” nhưng bây giờ “người trong nước” nói :”Tôi đi bệnh viện làm phẫu thuật mắt”, nghe văn vẻ hơn khiến tôi có mặc cảm mình “quê một cục” !
Một cháu bé sáu tuổi nói với mẹ :”Con có ảo ảnh, con biết chỉ có một cái cốc mà con nhìn thấy có hai cái”. Người lớn trẻ con bây giờ ai ai cũng dùng những từ ngữ Hán Việt một cách rất chuẩn và rất tự nhiên như tiếng mẹ đẻ, xưa kia những từ ấy chỉ thấy trên sách báo của các nhà trí thức. “Hàn Lâm Viện” đã xuống đường!
(Nguyễn Thị Chân Quỳnh – Câu chuyện “hội nhập”)
Từ tiếng Việt nào dài nhất?
– 7 mẫu tự coi như dài nhất như: Nghiêng thành – Khuyếch trương
(Nguồn ĐatViet.com)
Quá quan trì, quan quan bê…
Chuyện kể, trong lần Mạc Đĩnh Chi đi sứ năm 1308, do đường xa, mưa gió nên sứ bộ đến cửa ải Nam Quan chậm mất một ngày. Viên quan giữ cửa ải không cho mở cửa để sứ bộ qua. Mạc Đĩnh Chi nói mãi chúng cũng không chịu cho qua. Sau đó họ ném từ trên cửa ải xuống một vế câu đối, bảo hễ đối được thì sẽ mở cửa cho qua, còn nếu chưa đối được thì hãy ở tạm bên dưới qua đêm, đợi đến sáng hôm sau..
Vế ra đối viết :
– Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.
Nghĩa là :
– Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng, mới khách qua đường qua cửa quan.
Thật là một câu đối hiểm hóc, nội dung nói lên việc Mạc Đĩnh Chi đang cần qua cửa quan để sang Yên Kinh. Song khó ở chỗ trong 11 chữ của vế đối mà có tới bốn lần nhắc lại chữ quan. Mạc Đĩnh Chi nghĩ vế ra quả là khó đối lại nhưng im lặng thì mất thể diện.
Ông ứng khẩu đọc lại vế đối :
– Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.
Nghĩa là :
– Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin tiên sinh đối trước.
Mọi người đều đang bí thì nghe Mạc Đĩnh Chi đọc vế đối lại. Quân lính nhà Nguyên phải chịu và mở cửa ải để ông đi qua. (Vế đối cũng có bốn chứ đối).
(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)
Chữ nghĩa máy vi tính
Xưa, giai thoại được truyền miệng từ người này sang người khác nên được gọi là văn học dân gian. Nay, truyện dân gian thời internet có thêm một nguồn khác được gọi là…chat, thí dụ như.
Email anh viết thật bay
Bướm em mong đợi cả ngày lẫn đêm
Ngũ
Nhà ở, người ta thường làm 5 gian.
(Nếu 3, thì vẩy thêm 2 cái chái, gọi là ba gian hai chái).
Tín ngưỡng, có tục thờ quan ngũ dinh (5 ông hổ)
Đối với tổ 5 đời, người ta lấy gỗ mơ rồi khắc (hoặc viết) họ tên, năm sinh, năm mất lên đấy làm bài vị để thờ, gọi là: “Ngũ đại mai thần chủ”
Đời người, đến tuổi 50, đã biết được thế nào là mệnh Trời, cho nên mới có câu: “Ngũ thập tri thiên mệnh”.
Mở rộng thêm còn có 5 canh (trong đêm 5 canh, ngày 6 khắc)
Thêm những cái “Ngũ” trong ngày tết: Ngoài mâm ngũ quả, trước bữa ăn, để khai vị còn có rượu ngũ xà. Sau khi ăn xong, tráng miệng có mứt ngũ vị. Chơi tam cúc, nếu lên bài được đủ 5 quân tốt đen (hoặc 5 quân tốt đỏ) gọi là ngũ tử.
(Phùng Thành Chủng – Phiếm bàn về con số 5)
Hoán dụ
Hoán dụ là phương thức tu từ thực hiện bằng việc chuyển nghĩa của các từ, dựa vào sự gần nhau của đối tượng, sự vật. Tương tự như ẩn dụ, hoán dụ là đặt một nghĩa bóng cho một từ vốn có nghĩa đen, như Đàn bà dễ có mấy tay/Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan (thơ Nguyễn Du), thì các từ tay, mặt, gan không mang nghĩa đen chỉ đối tượng (cái tay, khuôn mặt, bộ gan) mà dùng để trỏ con người trong nghĩa bóng của nó, như vậy bộ phận của con người được dùng để trỏ chính con người).
(nguồn Wikipedia)
Chữ và nghĩa
Trong quân đội chức vụ hạ sĩ quan có thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ.
Những chữ này từ đâu mà có? Theo Nguyễn Công Trứ, nước ta thời xưa có năm tước “Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt” là:
Thượng đại phu, hạ đại phu, thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ.
Ông Tàu già bán lạc rang
Còn phải kể thêm một nhân vật gần Hồ Gươm khác nữa mà các học sinh chúng tôi (TG) của những năm đầu thập niên 1950 chắc không sao quên được.
Nhân vật này là ông Tàu già bán lạc rang, còn gọi là phá-xa, mùa hè cũng như mùa đông, lúc nào cũng quanh quẩn ở bên tháp Hòa Phong (*). Ông Tàu này già hơn và mập mạp hơn anh Tàu bán thịt bò khô gần quán Mụ Béo phía đền Ngọc Sơn, đeo trước bụng một cái thùng thiếc có bao quanh bằng một lớp vải bông để ủ giữ cho lạc lúc nào cũng ấm. Cũng với giá một đồng một múc bằng cỡ một vốc nắm tay, cái thứ lạc trộn húng lìu được rang lên, hột lạc tròn và đều nhai dòn tan. Vào những chiều đông lạnh, ông Tàu già này đứng tránh gió trong lòng tháp, nhưng khách hàng quen thuộc vẫn biết để dễ dàng tìm ra.
Năm 1957, ở Sài Gòn, một lần tôi trông thấy ông Tàu già bán lạc rang này đang lang thang trên đường Lê Văn Duyệt trông sang cửa vườn hoa Tao Đàn phía bên kia đường. Không thấy ông đeo cái thùng thiếc trước bụng nữa, và trong Nam trời nóng quanh năm, hẳn ông không còn bán cái thứ quà chỉ thích hợp với khí hậu Hà Nội mà thôi. Tôi không bao giờ gặp lại ông Tàu gìa này nữa, cũng như không còn thấy lại Mụ Béo, anh Tàu bán thịt bò khô mà tôi đã ăn không biết bao nhiêu lần! Tôi không khỏi ngậm ngùi mỗi khi nghĩ đến những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ? – Thơ Vũ Đình Liên.
(*) Tháp này xưa kia nằm trong phạm vi và thuộc về chùa Báo Ân (chùa Bảo Ân nơi bây giờ là tòa nhà bưu điện). Không rõ vì sao và vào lúc nào ngôi chùa Báo Ân này không còn nữa và di tích duy nhất ngôi chùa để lại chỉ là tháp Hòa Phong. Đây là tòa tháp vuông mỗi chiều dài chừng 3 thước, 4 cạnh trổ ra 4 cửa có thể đi xuyên qua bên dưới trong lòng tháp, phía trên có 2 tầng thu nhỏ lại hơn và trên cùng là mái tháp bao tròn chung quanh.
(TG – Hà Nội những năm tháng cũ)
Truyện ngắn, truyện dài
Nhiều nhà phê bình văn học cho rằng: “Cho đến nay, các nhà văn Việt Nam sở trường về truyện ngắn hơn là truyện dài. Các tiểu thuyết có thể rất hay ở khúc đầu, nhưng càng đọc đến chương hai, ba gì gì đó càng thấy … “hụt hơi”.
(Trần Quốc Vượng – Văn hóa Việt Nam)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2024
