Ngộ Không: CHỮ NGHĨA LÀNG VĂN (Kỳ 320)

Mắt xanh

Khi Từ Hải tìm gặp Kiều ở Hành viện châu thai bèn hỏi:

Bấy lâu nghe tiếng má đào

Mắt xanh chẳng để ai vào có không

Mắt xanh đây không chỉ cho người con gái còn xuân xanh hay “Mắt em dìu dịu buồn Tây phương” của Quang Dũng (Tây Phương là tên chùa ở  Sơn Tây). Mà là theo tích Tầu: Đời Tấn, Nguyễn Tịch tiếp khách thấy ai không hợp ý mình thì…mắt trắng dã. Nếu ai hợp nhãn mình thì…mắt xanh lè.

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Gọt xoài đừng để xoài chua!! 
Chọn bạn đừng để bạn cua bồ mình.

Biệt kích văn hóa

Cô Lĩnh Mai áo trắng ngày nào, lỡ chọn phải ông chồng nghệ sỹ, đã thành một bà vợ tần tảo, vất vả. Thấy Trung ì ạch chở được tôi về tới nhà, Mai cười: “A. Đây rồi. Bà biệt kích văn hóa. Em trông chị mãi. Lên gác ngay. Ông ấy hì hục với cái portrait của chị mấy tuần lễ đấy. Hết xẩy. Ai thấy cũng lé mắt”.

Trên căn gác gỗ ọp ẹp, bụi bậm, bức tranh dựng giữa đống chai, hũ sơn cọ ngổn ngang. Tôi (Nhã Ca) đó sao, con mụ tóc tay tơi tả, chân tay xù xì ngồi bó gối chịu trận?

Nguyễn Trung bật ngọn đèn, chiếu vào tranh, cằn nhằn: “Hết cha nó vải bố. Phải hy sinh cái tranh cũ, vẽ phủ lên. Mầu lại thiếu, dầu cá cũng cạn. Chất sơn vì vậy không mịn màng được, lại hóa ra hay. Trung lấy sơn, nguệch ngọac góc trái tấm tranh: “Chân dung Nhã Ca, 20.4.76.” Khỏang ngày này, tôi đang nằm trong cát sô sở công an thành phố. Biệt kích văn hóa là tên một cuốn sách do Trần Văn Giầu, Vũ Hạnh, Lữ Phương viết về mười tác giả miền Nam. Trong sách này, nữ biệt kích duy nhất là tôi, được xếp hàng thứ sáu. Những người khác là:

Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường, Võ Phiến Doãn Quốc Sỹ, Nhất Hạnh, Duyên Anh..v..v..

Lĩnh Mai giúp chồng trải giấy gói báo chân dung biệt kích. “Nữa.” Nguyễn Trung tiếp tục kể. “Sau khi bọn mày bị bắt, có bữa tao đang ngồi vẽ mày, Mai Thảo ghé qua. Lâu lắm rồi không gặp lại. Nghe nói bọn nó vẫn đang lùng bắt chả gắt lắm. E khó thoát quá.” Cả năm rồi. Vẫn tiếp tục lùng bắt. Đúng là Mai Thảo chưa sa lưới.

Cuối năm, ngày ngắn. Trời chập chọang tối. Nguyễn Trung lại ì ạch đạp xe, chở dùm cả người lẫn tranh về tận nhà.

(Nhã Ca – Chân dung biệt kích)

Sự khác nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội

Tán gái

Gái Sài Gòn : Dễ bỏ, khó tán

Gái Hà Nội : Dễ tán, khó bỏ

Thơ phổ nhạc

Có một số thơ phổ nhạc nổi tiếng một thời. Nhưng tên thi sĩ bị bỏ quên, như:

Ngày mai đi nhận xác chồng

Say đi để thấy mình không là mình

….

Và tác giả là Lê Thị Ý…*

(Phụ chú: *em gái Lê Đức Vượng, bút danh Vương Đức Lệ)

Văn học miền Nam nhìn từ miền Bắc

Sự đa dạng phong cách thể hiện rõ nhất trong sáng tác của những nhà văn nữ. Ðã có những nhận xét xác đáng về văn phong từng tác giả, đem gom lại chúng ta sẽ có một bó hoa đẹp, màu sắc phong phú. Tôi (Hoàng Ngọc Hiến) nêu lên ở đây những nhận xét tình cờ tôi ghi lại được.
Về phong cách của Nguyễn Thị Hoàng Bắc:

“Những truyện ngắn của Nguyễn thị Hoàng Bắc “không có chuyện hiểu theo nghĩa thông thường, nghĩa là có gặp gỡ, trắc trở, và hạ hồi kết cuộc. Ðời sống của cả dân tộc lẫn tác giả có quá nhiều bất trắc chông chênh để văn chương Nguyễn Thị Hoàng Bắc là những mẫu đời tròn trịa hợp lý. Truyện Nguyễn thị Hoàng Bắc là những mảng đời mong manh bắt đầu bằng những kỷ niệm,trải dài qua thăng trầm của thời thế, và thường không biết kết thúc ở đâu. Nhiều truyện chấm dứt ở chỗ lửng lơ. Nhiều chuyện khác dứt ở một tiếng thở dài. Giọng văn tinh nghịch linh hoạt của Long lanh hạt bụi thuở đầu, qua Bên lở bên bồi, trở thành trầm lắng hơn, bùi ngùi hơn; tiếng cười chưa tắt nhưng đã nhuốm đôi chút cay đắng, hoang mang”. – Nguyễn Mộng Giác.

Sau đây là phong cách đa dạng của Miêng (bút danh của Nguyễn Thị Xuân Sương):

“…Từ không khí ngột ngạt, đặc quánh của “Cu Bợm” ta bước vào xốn xang, lo âu ủa “Song Sinh”, rồi thoát đến cái nhí nhảnh hồn nhiên trong ỡm ờ, chất thơ của “Hải nữ”. Ta bỡ ngỡ tự hỏi tất cả chừng ấy là do cùng một người viết? Miêng có cái khéo léo lôi cuốn ta đi gần đến cuối truyện để kết luận mọt cách đột ngột, phần lớn trái với dự tưởng của người đọc… Ðâu đây,ta như thấy chị đang nheo mắt cười vì đã đưa thêm một độc giả vào tròng” – Nguyễn Nam Trân.

Cái thần của văn phong Phan Thị Trọng Tuyến thể hiện ở nụ cười của tác giả:

“…người ta có thể ưu tư mà không hề phải rầu rĩ… Phan Thị Trọng Tuyến gần như luôn luôn có một nụ cười… Cái cười cho là của Hồ Xuân Hương nghe khiêu khích cợt nhả, cái cười của Linh Bảo lại chua chát đắng cay. Ở Phan Thị Trọng Tuyến nụ cười vốn giản dị.Cười như nghịch ngợm hồn nhiên, như nét tinh quái thường ánh lên trên các gương mặt thông minh. Ở đây, ta bắt gặp người phụ nữ Việt Nam trong một không khí tinh thần mới: tự do, khoáng đạt, cởi mở.” – Võ Phiến.

Còn thiếu rất nhiều bông hoa. Tôi lại không biết trình bày, sắp bó vụng về. Mong được sự lượng thứ của quý vị độc giả và tác giả.

(Hoàng Ngọc Hiến – Đọc văn học Việt Nam hải ngoại)

Ấu

Ẩu: người đàn bà còn trẻ

(bà Triệu Ẩu)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San,  Đinh Văn Thiện)

Giòn…

Người xinh cái bóng cũng xinh,
Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn.

Vậy giòn nghĩa là gì ?

Từ điển tiếng Việt của Văn Tân là xinh đẹp và có duyên.

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê :

1 ) Dễ gẫy, dễ vỡ vụn ra, khi gẫy vỡ thường phát ra thành tiếng.
2 ) Âm thanh: vang và gọn, nghe vui tai.
3) Vẻ đẹp về phụ nữ.

Hiển nhiên định nghĩa của hai cuốn Từ điển tiếng Việt còn thiếu.

Huỳnh Tịnh Của giònbộ ráo rể, xốp thịti, không cứng.

Génibrel dịch chữ giòn dễ gẫy, dễ vỡ, nhanh nhẹn, linh động.

Bài dân ca cải biên Trấn thủ lưu đồn có câu :

Mi đẹp, mi giòn
So (cái) bề nhan sắc mi (hãy) còn kém xa.

Giòn vẫn không phải là đẹp. Tóm lại, chữ giòn có nhiều nghĩa…

(Nguyễn Dư – Chimviet.free.fr)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Không cười,,,không phải là người.

Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam

Bến Nghé theo Trịnh Hoài Đức là cái bến uống nước của trâu con, do một tên rất cũ là Kompong Krabey (bến trâu) đã được Việt hóa. Nhưng ông Đốc phủ Trần Quang Tuất (1765-1825) cho rằng nơi đây có lắm con cá sấu chúng thường kêu nghé nên gọi là Bến Nghé. Trịnh Hoài Đức dịch là “Ngưu-tân”.

Bến Nghé là cái bến sông Sài Gòn có tên là sông Bến Nghé, cũng có tên là Tân Bình Giang hay là Đức Giang lấy nguồn ở Ban Bót (theo Gia-Định Thông Chí). Còn cái rạch Bến nghé nối dài bởi kinh Tàu-hủ (Arroyo chinois) ngày xưa có tên là Bình Dương và chỗ nó chảy ra giáp sông Bến Nghé gọi là Vàm Bến Nghé.

(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)

Đông miên

Đông miên – Đông: mùa đông. Miên: một loài sâu.

Có loài sâu mùa đông ngủ như chết, đến mùa xuân mới tỉnh dậy.

Thơ có câu: “Đông miên cảnh vật mầu tang tóc”.

Cô miên: giấc ngủ cô đơn.

Sự khác nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội

Yêu

Hà Nội : Yêu vẫn phải giữ
Sài Gòn : Yêu là hết mình luôn

Ca dao tình yêu miền Nam

Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị, hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu miền Nam. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, qua những từ ngữ mộc mạc, chân thật. Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người “Ra đi gặp vịt cũng lùa; Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu”…

“Nếu mà không lấy đặng em

Anh về đóng cửa cài rèm đi tu”

Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:

“Tu đâu cho em tu cùng

May ra thành Phật thờ chung một chùa”

(Đoàn thị Thu Vân – Chất hóm hỉnh trong ca dao miền Nam)

Tiếng Việt tiếng Pháp

Hiện tại, trong vốn từ của Việt Nam, ngoài là từ gốc Hán còn khoảng 200 từ là từ của gốc Pháp. Các từ này còn đang sử dụng đâu đó, nhiều khi miệng nói, tay viết ra nhưng không biết câu ấy có tiếng Pháp trong đó, như: “Thằng đó chuyên lấy le để cua đào, nhưng con nhỏ kia lại hay làm reo.”

Một câu như vậy đã 3 chữ Pháp: “le”, “cua”“reo”.

(Nguyễn Đức Tuấn – Đặc san Phù Sa Sông Cửu)

Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam

Chợ Bến Thành (mới) xây năm 1914 trùng tu năm 1950, Nhà thờ Đức Bà khởi công năm 1877, hoàn thành năm 1883, Sở Bưu Điện và Tòa án cất năm 1883, Dinh Norodom khởi công ngày chủ nhật 23-2-1868. Thủy sư Đô Đốc De La Grandière với sự hiện diện của kiến trúc sư Hermitte từ HongKong tới, đã đặt viên đá đầu tiên vuông vức mỗi bề nửa mét, trong đó đựng một hộp chì chứa nhũng đồng tiền vàng và bạc dập hình vua Napoléon III.

Tòa Đô Sảnh (1901-1908) trên có một gác chuông do họa sĩ Ruffier trang trí mặt tiền. Viện Bảo Tàng Quốc Gia xây năm 1927, khánh thành ngày 1-1-1929, có tới 4.000 cổ vật đã kê thành mục lục và trình bày trong 14 gian phòng. Vườn Cầm Thảo (Sở Thú) tương tự với rừng Vincennes ở Pháp, được lập năm 1864. Sau khi đã san bằng, việc đứa thú tới nhốt nơi đó hoàn tất năm 1865. Đây đó ta còn gặp một số địa danh nguồn gốc Tây Phương như: Ba-Son (Arsenal) trong có một bến sửa tàu (bassin de radoub) xây bằng ximăng cốt sắt từ năm 1858, Chữ Ba-Son do chữ Bassin mà ra. Vườn Bờ Rô (do chữ Jardin des Beaux Jeux) hay là vườn Ông Thượng, xưa kia là hoa viên của Tổng Trấn Lê Văn Duyệt, nay là vườn Tao Đàn.

(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)

Ẩm uớt

Át: ẩm, ướt

(Mình ở chỗ át, đem con tới chỗ khô ráo)

(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San,  Đinh Văn Thiện)

Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam

Khu phố Dakao (Đa Kao, có bản đồ viết là Đa Cao), thời Tây còn được gọi là Đất Hộ. Vì đường trên phía đất cao (route haute).

Route haute được người Việt gọi là đường hô (haut). Đất cao được gọi là đất hộ. Tiếng tây tiếng ta gọi là Đất Hộ.

Khu phố Đa Kao nằm tại vùng đất cao mà người Pháp gọi là Zone de plateau, ta gọi là vùng đất cao

Đất cao được người Pháp phát âm là Dakao (Đa cao).

Hát nói

Bài hát nói, xét quy tắc gần gụi thể song thất lục bát, có thể coi như một bước tiến, một biến thể của lối song thất.
Lối gieo vần đúng là vần trong vè hay nói lối. Trong các tuồng hát của ta, bên cạnh những điệu ngâm, vãn, có một điệu gọi là viết, hay nói, hay bạch, hay nói lối. Ở điệu này thể văn và vần gieo chính là cách nói lối.

Tóm lại bài hát nói có thể coi như con đẻ của song thất và nói lối.

(Phạm Thế Ngũ -Việt Nam văn học sử giản ước tân biên)

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

Bài Mới Nhất
Search