(Ngộ Không và ngọctự tại Trúc Gia Trang –Houston)
TV&BH: VĨNH BIỆT NHÀ THƠ NGỌC TỰ
__________
Người viết có ông bạn chữ nghĩa khi hành văn, hành chữ qua điện thư, năm thỉnh mười thoảng ông tí toáy lấy bút hiệu…Tu Tran. Vì không có dấu nên nhiều người lơ mơ lỗ mỗ là…“từ trần”. Vào một ngày nhiệt độ Houston ước chừng 94 độ, đất trời có..“khả năng” mưa, ông bạn chữ nghĩa bèn:
Tiêu nhiên nhi lai, tiêu nhiên nhi vãng
Kỳ nhập bất cụ, kỳ nhập bất hà
Hiểu vụng là:
Thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi
Khi vào không lo lắng, khi ra không ngần ngại
“Lý lịch trích ngang” của ông một vắn hai dài, thổ quán ông ở Ninh Bình, Phát Diệm, ông sinh ngày 6-9-1948, mất ngày 7-6-2025. Người viết hình dung ông ngự trên “bàn độc”, dòm di ảnh ông bèn kính cẩn vái hai vái. Bởi chưng tập tục ta lạy người sống ba lạy, lạy người chết hai lạy, hiểu vụng hành ngôn hành tỏi về người sống dễ, nhất bộ nhất bái là xong, thế nên viết về người chết khó. Vì vậy bài tản bút này không là bài tưởng niệm với chữ nghĩa hàn lâm mà là tản văn để ngòi bút thả rong…
Vẫn lý lịch trích ngang theo Nguyệt san KQ Lý Tưởng với Khải Triều:
“…Ngoài mấy chúng tôi; lần lượt trước, sau, gồm những nhà thơ, nhà văn được tuyển dụng từ bên ngoài vào: Thế Phong, Hồ Phong, Kiêm Thêm, Phạm Hồ, Thanh Chương, Khải Triều; cơ hữu sẵn có: Dương Hùng Cường, Nguyễn đình Thiều, Minh Triệu, Phan-lạc Giang Đông, Đinh sinh Long, Lê văn Trước, Trần ngọc Tự (mới từ trường Võ khoa Thủ đức chuyển về), Chu Tấn (tức Trần như Huỳnh), Huy Sơn (Dương quang Thuận) trông coi tờ Phụng sự của Tổng cục Chiến tranh chính trị được chuyển sang Kq, cùng với đại tá Vũ Đức Vinh [nhà văn Huy Quang], và Vũ Đức Vinh là chủ nhiệm đầu tiên tờ Lý Tưởng. (năm1965.)…”
Lang thang như thần hòang làng khó với T-Van.net vài hàng về tác giả ngọc tự:
Tên thật Trần Ngọc Tự, sinh 6.9.1948 tại Văn Hải, Ninh Bình. Ngoài bút danh ngọctự, trước đây còn ký Ninh Văn, Trần Ninh Bình. Có làm thơ viết văn từ những năm cuối trung học. Trong nhóm chủ biên tập san sinh viên 1966-1968: Ý Thức (Luật Khoa), Đất Đứng (Quốc Gia Hành Chánh). Trong Ban biên tập tạp chí Quần Chúng 1967-1970 (bộ cũ & mới), tờ báo do Cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương bảo trợ sáng lập, chủ nhiệm Cao Thế Dung. Cộng tác viên tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng 1971, chủ nhiệm Trương Vĩnh Lễ, chủ bút Nhị Lang. Nhập ngũ tháng 3/1969, phục vụ ngành Chiến Tranh Chính Trị Không Quân. Viết cho các nội san của quân chủng Không Quân: Lý Tưởng, tập san Chính Huấn, tập san Quân Huấn (Bộ Tư lệnh Không Quân), Cánh Thép (Sư đoàn 5 Không Quân). Thư ký tòa soạn sau cùng của tờ Lý Tưởng (1974-4/1975).
Các tác phẩm thơ ấn hành trước 1975 dưới hình thức Ronéotype, phổ biến trong phạm vi bạn hữu: . Quê hương_tôi_và em (1968) . Điệp khúc đời (1969) . Những mảnh tình rời (1970) . Ở cuộc tình này (1971) Đi tù Cộng sản hai lần: tù cải tạo (6/1975-1/1981), án tù bốn năm (5/1984-5/1988), vì liên lạc và gửi bài cho Văn Bút Hải Ngoại, trong vụ án với các nhà văn, nhà báo, nhà thơ: Vũ Bằng, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường, Doãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Lý Thụy Ý. Định cư tại Hoa Kỳ tháng 12/2006. Hiện ở thành phố Richmond, Texas. Cộng tác với trang T.Vấn & Bạn hữu. Có hai ấn phẩm điện tử do trang mạng này thực hiện: Những dòng chữ từ năm tháng – Thơ (2016); Những đoạn đời qua (tạp văn) (2017); Có bài đăng rải rác trên trang mạng Hội Quán Phi Dũng các Đặc san Lý Tưởng (Úc Châu), Lý Tưởng (Hoa Kỳ).
(T.Vấn ghi)
Ông bạn chữ nghĩa rách giời rơi xuống với người viết thế này đây…
Số là bạn cũ trường xưa từ Cali qua Houston rồi dẫn ông tới nhà, ông ngồi như con gọng vó trước mặt người viết: Đập chát vào mặt người viết là ông đeo cái kính gọng đồi mồi to đùng. Mặt ông to không kém, thuôc diện quá khổ như có gì…bất thường.
Ăn như cũ ngủ như xưa thì ông ăn nói từ tốn từ từ khoai cũng nhừ như không muốn người đối thoại len chân vào chuyện của ông. Nhưng phải nói ông thông thiên địa nhân viêt nho, ông tọa đàm như ông đồ bùn chữ như trấu chát với ngôn bất thuận danh bất chinh của người Khổng Khâu ở đất Trâu bên Tàu. Tạm lộng ngôn ông là bất thế kỳ nhân
qua tự ngôn với văn sách : “ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu”, nôm là chữ dùng không làm thiên hạ giật mình thì chết không an tâm.
Ông và người viết là láng gừng láng tỏi nên với trời đất sinh ra rượu với văn, không văn không rượu sống như thừa (Bạch Cư Dị). Vì vậy cả hai thường gặp nhau để chén tạc chén thù và hít thuốc lá vặt…Năm ngày chày tháng con heo phải đèo khúc chuối thì ông ăn uống rất “tịch bất tọa”, tạm hiểu là chiếu không ngay ngắn không ngồi là…không ăn, uống còn khó khăn hơn nữa. Nói cho ngay ông chỉ nhân sinh qúy thích chí rượu vang Pinot Noir ở vùng Burgundy vì rượu vang này có vị hiền lành, nho nhã.
Ông bạn chữ nghĩa như T-Van.net ghi, ông giao du rộng nên quen biết nhiều, rất nhiều nhà thơ, nhà văn như Vũ Bằng, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường, Doãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thủy, Khuất Duy Trác, Lý Thụy Ý…
Ừ thì hãy đảo qua tạp bút “Lão Dê Húc Càn và tôi” của ông:
“…Một ngày tháng Năm năm 1985, công an trại giam Phan Đăng Lưu chuyển tất cả anh em chúng tôi sang Chí Hòa. Từ lúc ngồi chờ ở sân rồi trên chuyến xe vận tải suốt lộ trình di chuyển, chúng tôi đã vui mừng vì được gặp nhau sau cả năm trời xa cách. Đủ thứ chuyện trò hàn huyên không dứt.
Anh Dương Hùng Cường thỉnh thoảng lại nheo mắt nhìn tôi cười cười. Anh Duy Trác thăm hỏi ít câu rồi cũng chỉ mỉm cười chứ không nói gì nhiều.
Tôi nắm nhẹ bàn tay Nhạn và định nói một điều gí đó để động viên tinh thần, nhưng nhìn vào đôi mắt đầy tự tin cùng nụ cười nhẹ thật tươi vui của cô bạn trẻ, tôi hiểu ngay là việc này không cần thiết. Anh Hoàng Hải Thủy thì khoái trá bảo rằng đã có lần muốn nhờ tên cán bộ vẫn hay hỏi cung, cho anh được gửi cái răng bọc vàng về nhà, để ở nhà có thể bán đi mà chi dùng cho đời sống. Hắn ta không chấp thuận và nói như vậy gia đình sẽ hô hoán rằng anh đã bị đánh đến gẫy cả răng, rất khó lòng mà giải thích.
Tôi nhớ có lúc anh Doãn Quốc Sĩ đến đứng sát bên cạnh, rồi kể về việc cơ quan an ninh Cộng sản đề nghị anh viết bản kiểm điểm, thành khẩn nhận hết mọi tội lỗi, đồng thời cam kết sẽ không bao giờ còn chống đối gì nữa để được khoan hồng và mọi người trong vụ án đều sẽ về sớm, cũng như hồ sơ xuất cảnh đoàn tụ của anh không bị chậm trễ trở ngại. Họ nói anh nên nghĩ tới những người còn trẻ trong vụ án và gia đình những người này nữa. Tuy vậy, anh đã thẳng thừng từ chối và khẳng định rằng, dù ngày mai lên đường để đi, nhưng hôm nay có điều gì phải bầy tỏ thì vẫn cứ lên tiếng như thường. Anh mỉm cười thanh thản và hỏi tôi chắc hẳn cũng đồng ý với anh như thế. Tôi đã trả lời vâng với anh.
Đầu năm 2007, khi gia đình tôi vừa sang định cư ở Houston, anh chị Duy Trác đưa chúng tôi lên vùng North thăm anh chị, lúc ấy đang ở với gia đình người con trai lớn. Anh vui mừng nhận ra được tôi ngay. Tuy vẫn còn dáng vẻ khỏe mạnh nhưng anh đã có dấu hiệu hơi lẫn thêm rồi. Chỉ một lời hỏi thăm y như nhau, thế mà trong suốt câu chuyện từ lúc ở nhà cho đến khi ngồi trên xe để cùng đi ăn tại tiệm phở và quay về, trong khoảng chừng hai giờ đồng hồ, anh đã lập đi lập lại với tôi tới sáu bẩy lần. Năm ấy, anh Doãn Quốc Sĩ đã ngoài tám mươi rồi còn gì…”.
Nhờ vậy người đọc mới hay biết năm 1986, ông ở trong nhóm “Những tên biệt kích cầm bút” ra tòa với cái tội “gián điệp”.
1. Doãn Quốc Sĩ: tù năm, năm 1981 từ trại Gia Trung – Gia Lai trở về đường An Dương Vương, Sàigon.
2. Khuất Duy Trác: năm năm, năm 1981 từ miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa trở về đường Lý Thái Tổ, Sàigon.
3. Trần Ngọc Tự: Năm năm, từ Phú Quốc, Hoàng Liên Sơn trở về khu bên trong Cổng Xe lửa số 6, Sàigòn.
4. Dương Hùng Cường: Ba năm.
6. Hoàng Hải Thủy: tù nhẹ nhất, 23 tháng ngồi rù trong trại giam số 4 Phan Đăng Lưu, cuối 1979 trở về khu Hồ tắm Cộng Hòa Ngã Ba Ông Tạ.
7 và 8: Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và Nguyễn Thị Nhạn là hai người mới nếm mùi tù cộng sản lần thứ nhất.
***
Ông bạn chữ nghĩa Trần Ngọc Tự là cuốn tự điển sống về “người và việc”, thảng như qua nhà văn Vũ Bằng…Ông viết về nhà văn này đầy đủ nhất để giải tỏa cho Vũ Bằng. Vì phía bên kia họ cài Vũ Bằng vào Nam trước năm 1954 để làm gián điệp:
“…Thỉnh thoảng tôi cũng ngồi với anh Dương Hùng Cường tại một góc quán cà phê bên đường hay cái quán cóc bình dân xập xệ, chỉ có xị rượu thuốc và đĩa đậu phụng rang, đủ cho hết một hoàng hôn của hai anh em. Nhưng nhiều hơn là vào những buổi chiều tại Thương nhớ mười hai. Anh Dương Hùng Cường gọi chỗ này theo tên một tác phẩm của bác Vũ Bằng, vì ngẫu nhiên trùng hợp với số nhà của nơi mà bác cũng là một trong những người thường hay ghé đến. Thương nhớ mười hai thực ra chỉ là căn phố mang số 12 đường Trương Minh Ký Phú Nhuận, trước cửa là cái quán cóc của chị Tâm, quán chỉ có tủ thuốc lá lẻ, và cà phê vợt.
Tôi gần gũi bác Vũ Bằng mà tôi biết là một trong số những người anh Dương Hùng Cường đã giới thiệu với anh Trần Tam Tiệp. Bác thật xuề xòa bình dân và dễ tính. Thỉnh thoảng bác Vũ Bằng hay rủ anh Dương Hùng Cường và tôi đi ăn chỗ này chỗ nọ, như tại cái quán cháo cá ở chợ cũ, một tô phở xe trong xóm nhỏ xứ đạo An Lạc…mỗi lần rủng rỉnh tí tiền sau khi nhận được món quà thuốc tây của anh Trần Tam Tiệp bên Pháp gửi về cho bác.
Ngày bác mất, con bác đến một tòa soạn đăng cáo phó. Tòa soạn không cho viết hai chữ nhà văn trước tên Vũ Bằng. Thành thử nội dung cao phó chỉ vỏn vẹn có vài chữ: Vũ Đăng Bằng sinh ngày…mất ngày…Đám tang bác vắng người đưa vì bằng hữu hầu hết đang bị cải tạo. Khi công an cộng sản phá án Vụ án hồ con rùa (hay Những tên biệt kích cầm bút) đã đến nhà bác Vũ Bằng định bắt nhưng thấy bác Vũ Bằng đang hấp hối nên chỉ lấy cung ở nhà. Vì vậy trong cáo trạng được đọc trước tòa có tên Vũ Bằng là tác giả bài Cái tai sứt của thằng cùi phương Bắc. Vũ Bằng gửi bài ra hải ngọai để có nhuận bút gửi về bằng những thùng đồ. Thành ra nếu không mất thì bác Vũ Bằng đã bị đưa ra tòa rồi.
Bác Vũ Bằng từ trần vào khoảng đầu tháng Tư năm 1984, đúng vào thời điểm bọn an ninh đã bắt đầu theo dõi rồi liên tục bám sát tôi từng ngày, nên dù có biết tin mà vẫn không dám đến viếng bác cũng như dự tang lễ. Một nhà văn nhà báo từ thời 1930-1940, với nhiều tác phẩm ghi đậm dấu cho từng thời kỳ văn học và trường phái văn chương Việt Nam, lúc chết thật cô đơn âm thầm lặng lẽ quá.
Sau này khi ra tù tôi có sang tìm nhà bác ở bên kia bờ sông Sàigòn, trên đoạn đường Trình Minh Thế cũ, gần đến cầu Tân Thuận, để thắp một nén tâm hương, nhưng vì không còn nhớ chính xác được địa chỉ và dọc con đường này đã thay đổi hết tất cả, chẳng còn nhận ra các dấu vết cũ nên đành tạ lỗi với vong linh bác Vũ Bằng…”.
Hoặc giả như với Văn Quang với một già một trẻ:
‘’… Sáng thứ Ba 15.3.2022 mới rồi, một người bạn tôi, vai em của anh Văn Quang, ở Cali gọi điện thoại báo cho biết anh Văn Quang đã từ trần, vào buổi sáng cùng ngày bên Việt Nam. Vừa dứt chưa được bao lâu, chị Ngân hốt hoảng gọi sang báo tin buồn.
Nhà văn Văn Quang và Trần Ngọc Tự (Ảnh chụp tháng 5/2019)
Chỉ hơi sửng sốt, nhưng không phải điều bất ngờ. Anh Văn Quang đau yếu lâu rồi và sức khỏe mỗi ngày càng suy kiệt thêm. Hồi tháng 5/2019, khi về Việt Nam thăm con cháu, tôi có đến thăm anh. Lúc đó anh đã không còn đi lại bình thường như trước được nữa. Anh nói với tôi suốt ngày chỉ nằm dài trên giường, dán mắt nhìn màn hình TV, xem các thứ chương trình. Anh không còn đủ sức đi bộ lên xuống cầu thang chung cư, chỉ loanh quanh vài bước ngắn trong nhà.
Anh Hoàng Song Liêm, bạn thâm giao với anh; một hiền huynh, cũng là sếp cũ của tôi ở văn phòng Chiến tranh Chính trị Bộ Tư lệnh Không quân (CTCT/BTLKQ), cũng kể rằng anh và anh Văn Quang vẫn cùng nhau facetime hàng tuần, tán gẫu qua lại. Đúng là giọng nói có vẻ như còn bình thường, nhưng khuôn mặt nhìn choắt cheo, thân hình tiều tụy, chắc chưa tới bốn mươi kí lô. Thực quản bị teo lại, không nhai nuốt nổi, anh thèm muốn món gì, chị Ngân phải xay cho nhừ nhuyễn sau khi nấu chín, để anh dùng ống hút đưa vào cơ thể. Anh Văn Quang biết về tình trạng bệnh hoạn và sự yếu dần của sức khỏe mình, cũng như điều sẽ phải đến, nên đã chuẩn bị sẵn sàng tất cả mọi thứ và dặn dò từ trước những gì cần thiết phải làm khi anh ra đi; thản nhiên chờ đợi.
Đến hôm nay, tang sự anh đã xong xuôi. Thân xác đã thành tro bụi, nhưng hình ảnh và tên tuổi anh còn ở mãi trong tâm tưởng của nhiều người. Anh là một trong những gợi nhắc quen thuộc, để những người Việt tha hương nhớ về Sài Gòn, qua những trang viết của anh, liên tục đều đặn một thời gian dài, sau ngày anh đi tù cải tạo trở về và chọn ở lại quê nhà, không sang Hoa Kỳ định cư.
Tôi thành tâm hồi tưởng vài nét chấm phá nơi bức tranh cuộc đời anh Văn Quang, có mẩu chuyện nhỏ nhoi của tôi với anh, thật đáng nhớ, khó quên của tình huynh đệ.
Trong cuộc sống có điều gì bắt đầu mà không đến lúc phải kết thúc. Đời người cũng vậy thôi, dù trải qua từng thời đọan, hoàn cảnh khác nhau, theo với năm tháng thời gian. Những gì còn lại của mỗi người như thế nào, tùy thuộc ở sự hiện diện của người ấy trước đó, nơi ngày tháng đời. Anh vừa đi khuất nẻo thời gian, nhưng mãi mãi hiện diện với muôn năm cũ Sài Gòn. Thưa anh Văn Quang quý mến, nơi anh vừa đến, không biết chân trời có mầu tím hay một mầu nào khác. Nhưng chắc hẳn vẫn sẽ có những chuyện lẩm cẩm phải không anh. Anh nhớ ghi nhận và tiếp tục viết thêm những trang chữ nữa, để cho mọi người đọc khi có dịp nghe anh. Mọi người vẫn chờ đợi và không bao giờ quên được anh. Những trang chữ cũ của anh vẫn còn đó, làm nhân chứng cho một thời đất nước tươi đẹp, hạnh phúc, dẫu cho lửa đạn chiến tranh. Và cũng làm nhân chứng về những tháng ngày quê hương khổ hạnh, cay đắng trong nước mắt, sau ngày ba mươi tháng Tư năm 1975…’’.
(Richmond, Texas 18.3.2022)
***
Cách đây một năm
Ga cuối
“… Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất”
(Sách Sáng thế 3,19)
chuyến tầu kéo một hồi còi dài rồi ngừng bánh
đám hành khách nhấp nhổm bắt đầu lục tục đứng lên
gượng gạo thất thểu theo nhau bước ra phía cửa xuống
có những khuôn mặt uể oải mỏi mệt
có những khuôn mặt thờ thẫn chán chường buồn bã khổ đau
có những khuôn mặt thiểu não u sầu
hình như họ đều miễn cưỡng và không hào hứng thích thú gì với chuyến đi này
tôi là người sau cùng bước xuống lặng lẽ thản nhiên
chẳng có một sự rộn rã đón đợi nào ở đây
đám hành khách đã mất hút trong bóng chiều chập choạng cô tịch bên ngoài
sân ga vắng lặng quạnh quẽ
cũng hiu hắt như hôm tôi bước lên chuyến tầu này để đi hành trình cuối
không một lời chào giã từ
và cũng đâu phải là một điều cần thiết
cho một người và với một người
đã đến cuộc đời rồi lặng thầm ra đi
thoảng qua như viên sỏi ném xuống mặt hồ
thoáng gợn lên chút sóng xôn xao rồi im ắng
không dấu tích nào để lại
và có gì để quên để nhớ
thì xin cho tôi được tạ lỗi muộn màng
với bạn hữu thân quen còn ở lại
khi quá tệ bạc không một lời nói chia tay tạ từ
mà đã từng có cùng nhau thật nhiều những thân tình bằng hữu quá đỗi thắm thiết
vô vàn
qua được bao nhiêu năm tháng trần gian
bây giờ chung quanh chỉ còn một nỗi thinh lặng mênh mang
tôi bâng khuâng nhìn tấm bảng xiêu vẹo ghi hàng chữ lạnh lùng khô khốc:
“ga cuối cuộc đời”
một cơn gió nhẹ thổi tung lớp bụi đất bay bay
có phải tôi đã vừa về lại nơi chốn cũ này
thôi vậy thế cũng là xong.
ngọctự
(Richmond, Texas)
Tháng 12/2024.
***
Thôi vậy thế cũng là xong…Trong cuộc sống có điều gì bắt đầu mà không đến lúc phải kết thúc. Đời người cũng vậy thôi, dù trải qua từng thời đọan, hoàn cảnh khác nhau, theo với năm tháng thời gian. Những gì còn lại của mỗi người như thế nào, tùy thuộc ở sự hiện diện của người ấy trước đó, nơi ngày tháng đời. Ông bạn chữ nghĩa Trần Ngọc Tự vừa đi khuất nẻo thời gian, nhưng ám quẻ với người viết, với Pinot Noir ở vùng Burgundy có vị hiền lành, nho nhã như ông vậy…’’.
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

