Four Seasons – Tranh: Evelyn Berde (Nguồn: fineartamerica.com)
Về Hà Nội, hôm sau gã đảo qua căn nhà số 123 phố Bà Triệu của cái tuổi ấu thời. Từ bên ngoài cổng đóng im ỉm, gã mường tượng bên trong có mảnh sân lát gạch đỏ, cây bàng lá nâu vàng gần bể nước mưa. Như đoạn phim quay chậm, một khỏen ký ức thoáng hiện về trong khoảnh khắc, gã thấp thoáng bắt gặp hình ảnh cô bé ngày xưa, đang nhẩy dây hay chơi ô quan.
Rời Hà Nội, lúc này gã đang đứng ở sân ga của thành phố Vinh đợi tầu xuôi Nam. Nhìn thấy ngôi chùa sau rặng cây hoa sữa, lội bộ qua Quốc lộ 1. Bước vào cổng tam quan, gã lặng ngắm vệt nắng cuối ngày xuyên qua tàng lá đọng trên sân chùa. Chợt gã nhớ lại dòng thơ ngủ yên ắng trong tâm khảm bấy lâu.
Nhìn nắng đọng sân chùa
Khách có biết mấy lần dâu bể
Lắng chuông ngân đầu cỏ
Người không hay một thóang vô vi
Vật vờ với câu mở nhìn nắng đọng sân chùa…, gã mường tương bóng dáng ai đó lặng lẽ cùng nắng chiều. Ai đấy nhìn nắng u hòai về một ai. Khách có biết mấy lần dâu bể? Thì cứ cho gã là “khách” đi, bao lần dâu bể là bấy nhiêu đổi thay…
Ai đó hãy lắng nghe tiếng chuông ngân đầu cỏ. Có phải người không hay một thóang vô vi? Hay chỉ là tiếng chuông gợi nhớ đời tục lụy. Khách hay gã cũng vậy thôi.
Cột điện bên đường đã lên đèn, trở về sân ga, mấy bà bán hàng rong đang ngủ gà ngủ gật. Gã lười biếng ngả lưng lên chiếc ghế dài dưới mái hiên, chân đi giầy gác lên túi xách. Gã chập chờn thao thức…Vừa lúc ấy, sau bức tường khuất có cậu bé chân bước như lướt trên mặt đất tới chiếc ghế, miệng cười ranh mãnh và tháo…đôi giầy của gã. Gã choàng dậy, cái túi rơi xuống đất làm cái bánh khúc rơi ra, gã cau cảu: “Thằng ranh con, mày…”. Cậu bé cúi lượm cái bánh, cho vào miệng nhai và hỏi gã: “Ông làm gì ở đây hở?”. Hỏi xong, cậu bé móc trong túi…cái lá vàng đưa cho gã: “Ông muốn trở về với quá khứ không? Vé đây, thưa ông”. Gã há hốc mồm, ú ớ hỏi: “Là sao…”.
Bỗng có tiếng chuông chùa “boong…boong…” vọng từ bên kia đường. Nhìn con đường dài hun hút, khi không cái đầu gã bật ra chuyện Tây du ký:
“…Đêm cuối đi thỉnh kinh, ngày mai gặp đức Như Lai để lên kiếp Phật. Đường tăng trằn trọc vì giờ đây sắp bỏ kiếp người, ông bỗng day dứt, mở mắt thấy Ngộ Không đứng bên cạnh, ông thở ra: “Không sao đâu. Ta chỉ chợt nhớ tới ngày xưa”. Ngộ Không u uất: “Con từ đá sinh ra, chỉ mong được làm…người. Thầy đã là…người, lại tự bỏ đi tìm một hồn phách khác”. Đường tăng nhắm mắt như trăn trối: “Ngộ Không ơi, ta không có quá khứ, không có tuổi thơ, chưa biết làm người là gì, làm sao thành Phật”. Đường về, qua sông, Đức Như Lai chỉ cho đường tăng thân xác ông đang trôi dạt trên sông, ông không nghe thấy gì nữa, nước vẫn chẩy qua cầu…”.
Gã cũng muốn như đường tăng…trở về với quá khứ ngày nào…Nhưng khác với đường tăng, gã có cả một chuỗi…tuổi thơ có sư ông chùa làng miền Bắc trải dài tới miền Nam. Gã bụng bảo dạ chiếc lá là vé tàu ngược về quá khứ, như Marcell Proust Đi tìm thời gian đánh mất. Gã tặc lưỡi: “Thôi được…”. Và gã mân mê chiếc lá vàng.
Xa xa có tiếng còi vọng lại, con tầu tiến lại gần và dừng ở sân ga. Cậu bé giắt gã lên tầu. Quay lại, gã giật mình thón người khi nhòm thấy…chính gã: “Gã đang ngủ vùi trên băng ghế, già tom, già khú đế như ông lão”. Sau đấy, mọi thứ tan dần. Cả hai ngồi xuống, “lão” lập cập hỏi: “Mày tên gi?”. Cậu bé nháy mắt láu lỉnh: “Ngộ”.
Tầu lăn bánh rì rầm…Lão chìm vào giấc hòe.
Trong giấc hòe mờ nhân ảnh với buổi thiếu thời, lão được gọi là…nó.
Thầy u nó ăn ở với nhau cả mấy năm chả chịu đẻ đái gì sất, bác cả nó là sư ông chùa làng bắt sắp mâm xôi cúng quả. Năm sau nó i oe ra đời, con cầu tự, con trời con Bụt có khác, thằng bé ngộ nghĩnh trông thấy, nên nhà gọi nó là thằng Ngộ. Vào Nam u nó mất. Chả hiểu có phải vì thầy nó gá nghĩa tào khang với dì nó không, vì suốt ngày nó dỗi, ngồi xếp bằng trên giường lậu bậu như đọc kinh. Áng chừng nó có căn tu, một ngày, thầy và dì nó đi thăm bác cả nay là sư cụ trụ trì ở Núi Thị Vãi. Sau bữa thọ trai, thầy và dì nó len lén về, bỏ thằng Ngộ ở lại…chùa!
Sau đấy nó được thầy bổn sư dẫn ra sau chùa, chỉ bên hông trái là dẫy hậu liêu, có một dòng thác nhỏ để các chú tiểu bơi lội với sóng nước. Phía hông phải là dẫy nhà cho các tiểu ni, có một dòng suối hiền hòa để các tiểu ni tắm táp. Bọc quanh đồi là mấy am lá, cốc tranh dành cho bá tánh tu tỉnh hay cho nó vào đó…sám hối. Từ dòng suối êm ả ấy, quãng đời nó tiếp đến đầy xáo động như dòng thác đổ và đẩy đưa qua một khúc quanh khác. Bởi sau này là chú tiểu, chú là con bướm đuổi theo mùi hương, chuyện xảy ra tất phải xảy ra như cái nghiệp. Chú hay ai cũng vậy thôi, mãn giấc bướm, mãn chuyện chúng sinh. Như áng mây bay qua mái chùa. Chẳng qua là cái nghiệp thọ tưởng hành thức diệc phục như thị của câu kinh Bát Nhã còn kia. Chú…nhập thế, như thế cũng tốt thôi, như ở, như đi với xuân, hạ, thu, đông.
Nghe thầy và dì dặn dò trên xe đò, mặc dù ông bác nhưng nay đã thụ bồ tát, nên phải gọi là sư cụ, ai thụ giới thanh văn là sư ông, trẻ hơn kêu là sư bác. Quen thói ở nhà với ông, với bác, nên gặp sư lớn tuổi, chú cứ gật đầu chào bừa một điều sư bác, hai điều sư ông. Thầy bổn sư nghe vậy dậy rằng, sư ông tuần tự được gọi là đại đức, thượng tọa, hòa thượng. Bên ni bộ cũng in hịt vậy, theo thời gian được gọi là ni sư, sư cô, sư bà. Cùng tông môn đồng đạo, gọi nhau bằng sư huynh, sư đệ, sư tỷ, sư muội. Còn chú, chưa được tu tâm tu tính ra cái hồn người nên kêu là…sa di.
Chú tiểu Ngộ thấy…ngộ thật và lẩm nhẩm học cái tên mới: Sa di, Sa di.
Ngày nọ chú đang lui cui quét lá đa, gặp một…”cô sư” trạc tuổi chú nhưng chẳng quét tước quái gì. Cô sư tới cây đa, quẳng cái chổi một bên, móc trong vạt áo ra mẩu giấy ghi mấy chữ Tàu tàu, kèm theo cả âm lẫn nghĩa. Cô sư thủ thỉ với gốc cây: “Đa ơi, giúp Ni mau thuộc nghe đa” và bắt đầu học, cô sư lấy cái que viết ba chữ ngoằn ngòeo trên mặt đất như…giun bò.
Chả là mấy cái chữ Tàu tàu này làm khổ chú không ít. Chú đánh bạo hỏi thầy bổn sư là người ngày đầu bờm đầu chú làm lễ xuất gia và truyền dậy giáo lý cho chú. Thầy trả lời: “Đức Thích Ca là người xứ Tây Trúc, Phật tổ đâu có biết chữ Hán. Cậu cứ đọc cho nhiều rồi sẽ nhập tâm để đi vào con đường giải thóat”. Xong, thầy hỏi chú: “Sao cậu không đi học ra đời làm việc, khi nào chán về đây tu không muộn”. Thầy tiếp: “Chẳng lẽ cứ đi tu là bỏ việc đời, tu hành cũng có lúc xuất thế, nhập thế chứ”.
Chuyện thầy bổn sư…xuất thế còn dài, hãy tạm gác qua một bên để nhập thế với cô sư. Cô sư rì rầm với cây đa: “Đa ơi, đa còn có bình vôi là bạn, Ni chẳng có ai”. Chú thấy lạ vì người lại đi nói chuyện với…cây và lớ ngớ buột miệng làm quen: “Chào…Sa di”. Cô sư chun chun cái mũi hếch, hất cái đầu nhấm nhẳng: “Ta là tiểu ni. Ngươi mới là sa di”. Cô…tiểu ni ngoe nguẩy bỏ đi. Từ cái hôm đó, tối tối trong chú mang bên mình hình bóng cô…tiểu ni.
Đến tuổi 20, chú được thụ giới “cụ túc” hay “tỳ kheo” để được gọi là thầy. Nhưng khách thập phương cứ nhè chú gọi là sư trẻ. Có thể vì…”trẻ” nên cái thiện nghiệp duyên mai hậu lù lù có mặt trong một ngày gió rừng im tiếng. Sư trẻ bỏ giấc ngủ trưa thơ thẩn bên bờ suối, ngả lưng trên phiến đá thô nhìn lên trời xanh, mây trắng, nắng vàng. Trong giây phút xuất thần, sư trẻ hòa nhập về một vùng hoang vu thái cổ, chìm đắm trong một thời hoang sơ hòan tòan xa lạ. Sư trẻ lồm cồm ngồi dậy và cất bước lang thang…từ bên này núi non sông nước qua bờ bên kia của một thế giới chẳng ai biết. Vừa đi chú vừa ngẫm nguội, tưởng chuyện gì. Chuyện đó cũng bình thường thôi.
Chú nghĩ vậy. Nhưng chẳng phải vậy…
Sư trẻ len lỏi lên thượng nguồn, ngược dòng suối và tự hỏi mình đang đi đâu đây? Bò lên triền dốc, chú thóang nghe tiếng lao xao, cười nói, đùa nghịch với sóng nước. Đang lưỡng lự định quay về, vì chú biết rằng giờ này nóng nực, các tiểu ni đang ngâm mình dưới dòng suối cạn. Sư trẻ vội chắp tay niệm chú trong Bát Nhã Tâm Kinh Đi qua, đi qua! Qua bờ bên kia! Qua bờ bên kia!. Câu niệm sư dựa vào tích đức Bồ Đề Đạt Ma sang sông trên một cọng lau để về một bến giác…Bến giác đâu chẳng thấy, chỉ thấy cái nghiệp nhà Phật không hẹn mà gặp nó ì ạch đến với sư trẻ.
Vì rằng bỗng dưng không đâu có hòn đá to bằng đầu sư trẻ ì ầm lăn theo triền dốc xuống dòng suối. Dưới nguồn có tiếng các tiểu ni la chói lói. Sư trẻ chới với đảo mắt nhìn về phía bụi cây, nơi hòn đá của cái nghiệp xuất phát. Mặt mũi chú ngáo ệch: Vì có bóng người từ trong bụi rậm nhẩy bổ ra, mắt mở thao láo trắng dã. Người không nắm đầu chú vì sư trẻ đâu có…tóc nên túm lấy vạt áo nâu sòng của sư trẻ. Người hùng hổ kéo thốc chú về am, cốc để…sám hối. Và chuyện không bình thường chút nào: Vì người không ai khác hơn là…thầy bổn sư.
Nhòm cái am lợp tranh, một vách là tường đá của ngọn đồi, ba vách còn lại là gỗ tạp, chú thấy buồn tênh chẳng ra dáng am cốc gì sất. Ngồi không trong am, chú lan man tiếp khi nhòm thấy nụ non mới nhú của tiểu ni dưới suối, chú thóat xác bướm nhận mình đúng là…sư, không còn “cụ túc” hay “tỳ kheo”, tỳ khiếc nữa. Đêm về, trong bóng tối âm u, nào sư có sám hối được, vì tối nay có bão từ mạn Long Hải kéo về…Sư miên man về dòng đời và biển. Chưa có giông bão, mặt biển im ắng lạ lùng, nhưng chính lúc ấy, làn sóng ngầm đang chuyển động ở dưới đáy. Đời các sư cũng vậy, chỉ phẳng lặng ở bên ngòai và chỉ đợi một cơn giông. Sư dựa vào vách đá thiếp đi. Trong giấc miên du, sư ngụp lặn trong những đợt sóng ngầm âm ỉ trong sư. Cái tâm địa của sư, mớ địa chất nóng hôi hổi nằm dưới lòng biển đang nhấp nhổm đợi bùng lên. Vì sư vừa nhớ lại…Thóang bắt gặp…nụ non mới nhú. Sư mang mang hình dung tiểu ni nay là…”sư cô”. Bình thường thôi mà…Sư thầm nghĩ thế. Và cho là như thế.
Gió thốc qua am đánh thức sư dậy, ngắm chừng ra ngòai, sư bắt gặp có ánh lửa nhập nhòa dưới bậc tam cấp. Nhướng mắt nhìn kỹ hóa ra sư cô, tay cầm cây đèn Hoa kỳ to như thế, tay ôm bó chiếu nặng như vậy mà không té…cái bịch sao?. Đang cỏ hoa lạc lối đến đây, sư cô thò cái đầu trọc vào. Sư vội nhỏm dậy, miệng định “Mô Phật”, thì lắp bắp bật ra hai tiếng: “Sư cô”. Thế là bị sư cô lườm một cái và giọng lạnh ngắt: ”Gọi là Ni được rồi”. Dưới ánh đèn, sư thoáng nhìn nét mặt sư cô nhiễm vẻ huyễn hoặc. Còn ni cô từ nãy đến giờ vẫn ngồi yên, chẳng nói nửa lời, mắt nhìn xuống triền dốc xa vắng, nghĩ ngợi mông lung. Một hồi lâu, ni cô đứng dậy nói trống không, như không có mặt sư: “Thôi về, tắt đèn đi, nhỡ có ai trông thấy” và ni cô quay quả đi ra. Bình thường sao được! Còn một mình, sư cười tũn, mang đèn tới rồi bắt tắt đèn đi. Và sư vặn óc nghĩ không ra: Người gì…quái.
Tối hôm sau, sư thầm mong sư cô đến, như người khát vộc nước suối trong. Sư chẳng sám hối nữa, dựa lưng vào tường đánh một giấc. Bỗng có tiếng đập vào vai: “Dậy”. sư cô dí vào tay sư một quyển sách và nói: “Này” làm sư ngáo ra trông thấy, vì ngỡ kinh kệ. Hóa ra quyển Hồn Bướm Mơ Tiên. Sư tự hỏi: “Chuyện gì đây!”. Ni cô mặt choành hoảnh, mũi chun chun: “Đọc đi…” Vậy thôi. Trong cái đầu củ chuối sư mọc măng câu hỏi bộ sư cô…mù chữ sao? Lại nữa, giữa đêm khuya thanh vắng lại đi…“tụng” chuyện tiên mơ bướm ở đây!
Đọc thì đọc, sư ê a như tụng kinh: …trên con đường đi Đông Triều, chiếc ô tô hàng bon bon chạy. Bỗng một người hành khác vận âu phục nhìn thấy nóc chùa Long Vân ở xa xa, ngơ ngác nhìn rồi kêu: cho tôi xuống đây…Trong khi ấy, ni cô nhìn ra bệ cửa theo đuổi những vu vơ của mình qua chuyện kể, ông Ngọc xuống xe và găp ni cô giả trai tên Lan. Chỉ là chuyện bên ngòai cửa chùa vì chú tiểu Lan nào có khác gì cô lúc này với những tục lụy. Tiếng chuông chùa chỉ gợi cho cô những lạnh lẽo, khô khan, hòa lẫn những vu vơ. Chả hiểu sư cô nghĩ gì, nhìn cái gáy trắng lôm lốp của sư cô, sư nuốt nước bọt và ngừng đọc để thả hồn theo…bướm và giả bộ thiền định như thiền sư. Xong, sư bình thản đọc tiếp, như không có gì xảy ra trong cõi chúng sinh này:…Ngọc biết ngay đây là chú tiểu Lan đến đón mình, toan cầm cái quai xách lên thì chú tiểu đã vội đặt thúng sắn xuống, xách cái va li lên và….hai tay chạm vào nhau…
Mưa nặng hột, gió rít lên ào ào, đèn lập lòe muốn tắt. Ni cô ngó chừng ra ngòai. Mưa tạt, gió lộng, kéo theo một con bướm nằm ngay đơ bên bệ cửa. Thấy con bướm lạ, cô nhòai người đặt nó lên mu bàn tay nhìn kỹ hơn. Cánh bướm điểm những đốm mầu nâu u tối. Cô mường tượng đến một mảnh đời khác, khác hẳn cảnh đời cô đọng ở cái am vắng ở đây là tiếng chuông, tiếng mõ. Đang miên man với những đẩy đưa, cô có linh cảm có ai đó đang nhìn cô như con bướm ma cánh nâu.
Đôi mắt ấy lặng lờ, không nài xin, cái con người ấy cũng nửa nâu, nửa u tối. Đôi mắt ấy đẩy đưa cô vào khỏang không, cô bị cuốn hút theo… Cánh con bướm động đậy, dường như những phấn bướm, phấn hương đọng trên da, trên thịt khiến cô ngứa ngáy, bần thần, rạo rực. Tiếng gọi của đời tục lụy trước kia cô muốn lánh xa, cô đang kìm hãm những ham muốn… Lan ôn lại những mảnh đời dĩ vãng, trí lại tưởng tượng đến cái cảnh lá rụng khi mới tới chùa Long Vân,lá thông khô, theo dòng nước trôi đi…
Nói vãi thì hay nói vơ, cô đang…theo dòng nước trôi đi. Với việc chùa nào phải là ít. Hết thỉnh chuông, tụng kinh mỗi ngày bốn thời, đến quét sân, tưới cây, nấu cơm, giặt rũ. Ấy vậy mà quanh năm chỉ gạo hẩm với rau muống già chấm tương. Thỉnh thỏang có “cá” kho. Ấy là trái khổ qua, cắt khoanh om tương, ăn đắng từ trong ruột đắng ra. Thịt mỡ dính trên miệng mép đã lâu, ăn trái khổ qua thành…khổ quá. Con gái tuổi dậy thì, ăn bao nhiêu chẳng biết no. Thân xác cô như thôi thúc, cứ hừng hực như bốc lửa, lửa bốc từ trong bốc ra. Thức thâu đêm, đọc bao nhiêu kinh Di Lặc cứu nhân độ thế của một thời mạt pháp cũng không dập tắt được lửa lòng. Nhiều đêm lửa âm ty thiêu đốt cả kinh kệ, chữ nghĩa của nhà Phật. Cô phải bỏ giã đậu làm tương, hay đóng ỏan vào khuôn, càng xay càng giã, cầm cái chày, lửa trong cô càng bốc cao. Khốn khổ vì cái chày hình thù cổ quái to bằng cổ chai, ba bốn giờ sáng, trời lạnh cứa da cứa thịt. Cô ngâm mình xuống dòng suối mong dập tắt ngọn lửa đời thường đang đốt cháy trong cô.
Cô liếc trộm sư, đôi gò má cô ửng lên đỏ rịm…Lan thì thầm đọc kinh, thỉnh thỏang lại đặt quyển sách ngơ ngác nhìn, như sợ ai…nhìn trộm mình….Sư cũng đang ngơ ngác nhìn, như sợ ai bắt gặp mình đang…nhìn trộm sư cô. Chao ơi, mặt mày sư cô như lá chuối hơ lửa đang bừng bừng thiêu đốt sư. Bờ vai nhễ nhại, nụ non mới nhú bên bờ suối là giọt dầu thêm vào lửa đang cháy trong sư. Chuyện không bình thường đây!.
Sửa lại thế ngồi pháp tọa, nhiếp mình vào chính niệm: “Yết đế! Yết đế! Ba la yết đế!”, là qua đi! qua đi! qua nữa đi cho rồi. Nhưng vẫn không qua được, giọng sư lạc đi:…Bị ám ảnh với tưởng tượng cái ngày Ngọc đạp xe lên thăm Lan. Lan buột miệng: “Không được, không được…”. Sư cũng khẽ nhắm mắt, cái đầu đậu phụ sư dàng dênh đến đọan chú tiểu Lan đến đón anh chàng Ngọc, cô xách cái va li của anh chàng và….hai tay chạm vào nhau. Thế là cái đầu dầu tẩm bột gạo sư xúi bẩy cái tay nắm lấy cổ tay tròn lẳn sư cô. Cô thảng thốt kêu: “Không được, không được”.
Sư nhởn nha: Vậy là không bình thường thật. Hình như cuộc sống đến một lúc nào đó phải chấp nhận những gì…không bình thường và cứ xem nó như…bình thường thôi. Nhưng chuyện đời thường ấy, dường như sư đã biết rồi nên chẳng nói một lời.
Nói gì, có gì để mà nói, bình thường như xuân hạ thu đông trôi qua mái chùa…
Chợt có cơn gió mạnh ào vào am. Đèn đang leo lét bùng lên rồi tắt ngúm. Một tia chớp lóe lên. Tiếp đến là những tiếng sấm ầm ầm vang dội trời đất…
Cô thất thần ôm chòang lấy sư. Cả hai lăn ra chiếu. Sư cong lưng xuống. Cái đầu sư gật gừ lên xuống, va vào mắt sư có cái chiếu rách bươm tơi tả. Cô oằn người ngửa mặt lên. Cô thấy mái rạ lùng bùng nhấp nhô theo gíó, theo mưa. Trong hư không hòa lẫn tiếng chuông chùa của chú tiểu nào đó như tiếng gọi của đời tục lụy. Trong khuya vắng…hòa lẫn tiếng hổn hển rời rạc tan lõang vào hư vô:
– Thầy.
– Ni.
Im ắng…Đằng góc am…Dưới đất thô…Không ngoài có hai tấm áo nâu sồng nằm vắt lên nhau lạc lõng ở góc am. Giữa xáo động và tĩnh lặng…cảnh nói thay người, người chẳng có gì để nói. Chẳng có gì để nói giữa mưa gió và sấm chớp.
Sáng tinh mơ hôm sau. Một bóng người lầm lũi men theo triền dốc xuống núi. Dáng đi tưởng sắp đổ, như cây chuối hột bị một nhát dao sắc chém ngang thân. Bóng người mờ nhạt dần vào thôn xóm trong sương sớm. Bóng người ấy rong ruổi trong một cõi có đi, chẳng có về. Chẳng ai nắm bắt được chuyện đời thường cũ rích. Nhất là ông sư đang cắm cúi đi trong câm lặng kia.Nói gì? Có gì để nói giữa sư và ni cô? Chuyện sẩy ra là lẽ tất nhiên của đất trời với xuân hạ thu đông có bốn mùa.
***
Lão Ngộ đang trên đường trở về chốn cũ tìm người xưa…Qua khỏi Long Thành tới chân rặng núi, lão ngơ ngác nhìn rồi kêu: cho tôi xuống đây. Khung cảnh xa lạ với lão, vì ngày nào lão chỉ hai lần…đến và đi. Tới ngã ba, không biết đi đâu, may gặp chị gánh củi lên chùa Núi Thị Vãi. Trên đường mòn dẫn lên núi, vẫn năm ngày bảy tật với cái tật lây dây, lão Ngộ dây mơ rễ má tới chùa tên tự là chùa Linh Sơn, thời Gia Long có cô gái Lê Thị Nữ, tên gọi là Bà Vãi tu ở đây, nên núi gọi là núi Thị Vãi hay Bà Vãi.
Khi không chị gánh củi reo lên như ấm nước sôi: “Trên núi cũng có…bà vãi”.
Tới chùa, bên đống củi cao ở thẻo đất có năm bẩy ngọn tháp. Theo chị gánh củi, đo là mộ phần của người nhà chùa đã viên tịch. Chị cho hay năm 75, mấy ông dép râu, nón tai bèo ở trên núi kéo về, tên rơi đạc lạc, người nhà chùa đành gửi thân xác nơi đây. Chị góp nhóp vì bom đạn nên chùa Núi Thị Vải hay Linh Sơn tự không còn nữa, chẳng còn ai nữa, chỉ còn lại dẫy hậu liêu và…bà vãi.
Lão bước vào hậu liêu, bà gật đầu chào lão và chỉ cái ghế ngay trước mặt. Lão ngồi xuống đăm đăm nhìn bà tìm lại những nét xưa nhưng chẳng thấy đâu, chỉ thấy những nếp nhăn của năm tháng. Sau cái húng hắng ho khan, lão bóng gió xa xôi về lão:
“Bạch sư bà, nhờ ngọn đèn tỏ dẫn dắt chúng tôi trở lại đây vãn cảnh chùa cũ…”.
Lão đằng hắng dọ dẫm:
“Chẳng dấu gì…Mô Phật, chẳng là xưa kia hồi còn trai trẻ chúng tôi cũng ăn mày cửa Phật nơi đây nhiều năm…Bạch sư bà…”.
Bà lặng lẽ chẳng nói gì, lúc này lão mới nhớ ra bà đã tịnh khẩu cả mấy chục năm nay. Vừa lúc chị gánh củi mang trà vào. Bà lẳng lặng ngồi dậy, đi lại bàn thờ gần đấy thắp nhang. Đợi đầu nhang cháy đỏ, phẩy nhẹ một cái, bà đưa lên ngang mặt, cúi đầu vái, miệng lâm râm khấn. Trên bàn thờ không có ảnh hay bài vị. Ngòai chiếc đèn Hoa kỳ. Với lão Ngộ, chiếc đèn Hoa kỳ có cái bóng đèn cao cổ, có dáng quen quen.
Trở về chỗ ngồi, bà nhíu mày hấp háy nhìn lão. Lão lẩn mẩn dòm cái ấm tích vẽ ông tiên bế cậu bé, cậu bé ôm trái đào non. Từ trái đào, lão bồn chồn cùng…nhân với quả của nhà Phật với…lão. Số là “quả” đây qua thư nhà bóng gió xa xôi nên lão càng mù mờ thêm. Đắn đo trong giây lát, nhòai mình qua gần nửa cái bàn.
Lão lập cập từng tiếng một chẳng ra hơi:
– Bạch sư bà…tôi…tôi hỏi khí không phải…xin bà thứ lỗi…
Lão ngập ngừng, ngọng nghịu đến líu lưỡi và tiếp:
– Bạch sư bà…con…con…của…có còn không?
Bà nhắm mắt lại, tâm trí bà dường như đang gửi gấm về một nơi xa xăm nào đó. Một cơn gió nhẹ của ngày xưa cũ len lỏi qua cánh cửa sổ đưa bà về với thực tại. Mở chòang mắt, dưới ánh sáng mờ mờ đôi mắt già nua long lanh ngấn lệ.
Bà cúi người xuống, nửa cái lưng còng chóan gần nửa cái bàn bên kia.
Hai mái đầu chụm vào nhau. Bà giọng đứt quãng:
– Thưa ông…còn…còn…ạ.
– Trai hay…gái…gái…
– Trai…trai…ạ.
– Tôi muốn…muốn gặp…con…con…
– Được…được…ạ.
Lão lắng tai lắng nghe. Nhưng thấy bà hóng mắt ra ngoài cửa sổ. Chạm vào mắt lão là ngọn tháp đứng chơ vơ, dưới là ngôi mộ nhỏ trong nghĩa địa cạnh vườn hoa.
Và lão thốt lên một tiếng:
– Ni.
Trời đất hay ai cũng vậy thôi, nói gì đây. Giữa lão và bà ẩn hiện qua ngôi tháp nhỏ lặng lẽ, im lìm để chẳng có gì để nói. Có chẳng khác không. Không chẳng khác có.
Bình lặng như áng mây hững hờ bay qua mái chùa mỗi xuân, hạ, thu, đông.
***
Vì một tiếng “Ni” thảng thốt khiến gã tỉnh dậy. Gã chập chờn với những “áng mây hững hờ bay qua mái chùa mỗi xuân, hạ, thu, đông” chỉ là giấc mơ.
Qua giấc mơ, gã quắn đầu thu vén thế này đây:
Chả là bấy lâu nay gã mang hình bóng vạt áo nâu sồng, người đi qua đời gã xuống tóc nương bóng thiền môn. Dáng dấp ấy, ở cái tuổi nhi nhĩ thuận, gã ngồi xuống bàn gõ viết về một quãng đời có tựa đề Trồng cây trên đá với kết cấu:
“…Ngược về căn nhà số 123 phố Bà Triệu có cái sân lát gạch đỏ, có cô bé ngày xưa. Vào Sài Gòn, giữa gã và cô bé mà gã gọi là tình đầu. Tình đầu ngu ngơ theo năm tháng, không một lời đẩy đưa, cứ hồn nhiên đến với nhau qua ánh mắt, nụ cười như thầm gửi. Một ngày gã vừa tới đầu ngõ, vừa lúc bà mẹ bương bả bước ra, tay xách nách mang với hương đèn, hoa qủa. Chưa kịp chào, thấy gã, bà nói ngay:
– Bác lên chùa…Hôm nay em xuống tóc xuất gia.
Phản ứng bất chợt sau đó gã ấp úng lập đòi đi theo. Bà mẹ lắc đầu: “Để bác hỏi em nó trước đã”. Tuần sau gặp lại, bà nắn no…
– Em nó nhắn: Anh Hùng quên em nó đi và về tìm đọc Hồn Bướm Mơ Tiên…”
Vì vậy trong chuyến xuôi Nam vào Sài Gòn này, gã có ý tìm gặp người cũ của một thời một thưở. Ngừng chân ở thành phố Vinh, gã bước qua bên kia đường vào ngôi chùa ẩn nấp sau rặng cây hoa sữa, trong khoảnh khắc gã bặt gặp lắng chuông ngân đầu cỏ, người không hay một thóang vô vi với ai đó.
Ngồi dậy, mơ hồ nghe như có tiếng còi tầu của chuyến xe lửa trở về quá khứ. Gã hoang vắng trong một ngày đất trời nhùng nhằng qua nỗi vu vơ nhẹ tênh. Cuối cùng phân vân tự hỏi nên gặp lại người xưa ở cái tuổi nhạt nắng ở đâu đó chăng. Nhớ người trong điếu thuốc khói huyền bay lên cây, gã lầm lũi bước ra lề đường đứng thu lu cạnh cái cột đèn. Gã thò tay vào túi quần tìm những thiếu vắng nhưng chẳng thấy bao thuốc lá đâu? Mà chỉ thấy…chiếc lá.
Trong khi chờ đợi tầu xuôi Nam, gã mân mê chiếc lá vàng.
Trúc gia trang
Bính Tuất 2006
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
(sửa chữa 2012, 2020, 2024)
Nguồn:
Diệu Trân Như, Vĩnh Hảo, Dương Duy Ngữ
Robert Rojdestvensky, Thị Am. Phim Đại Hàn:
“Spring, Summer, Fall, Winter…and Spring”.
