Tố Như không phải tên tự Nguyễn Du.
Tôi (khuyết danh) có “trực giác” thấy mối liên hệ giữa nàng Tiểu Thanh lấy lẽ họ Phùng ở Tây Hồ và Hồ Xuân Hương lấy lẽ Cai Tổng Cóc. Rồi câu đầu: Tây Hồ hoa uyển tẩn thành khư (Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu) của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh Ký với câu: Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa, trong bài Chơi Tây Hồ nhớ bạn của Hồ Xuân Hương.
Sáng hôm đó tôi đến gõ cửa sớm nhà Giáo sư Võ Thu Tịnh ở Paris. Tác giả nhiều sách giáo khoa miền Nam. “Bác Tịnh ơi, tra giùm với cháu chữ Tố Như “. Giáo sư Võ Thu Tịnh ngẩn người: Tố Như là tên tự Nguyễn Du tra làm gì ?
Nhưng rồi bác Tịnh cũng tra tự điển Thiều Chửu và các tự điển khác: Tố là tơ trắng, là người phẩm hạnh cao quý, Như là như thế, như vậy. Vậy thì câu: Bách tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như, chỉ có nghĩa: Ba trăm năm lẽ nữa, thiên hạ ai người khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh.
Thì ra năm 1804 Nguyễn Du làm tri phủ Thường Tín, vợ mất, tìm về Cổ Nguyệt Đường, mong gặp Hồ Xuân Hương để nối lại duyên xưa, thì Hồ Xuân Hương đang làm lẽ Tổng Cóc Nguyễn Công Hoà. Nên Nguyễn Du đứng bên song cửa Cổ Nguyệt Đường viết bài Độc Tiểu Thanh Ký gửi Hồ Xuân Hương. Vì vậy Tố Như không phải tên tự Nguyễn Du.
***
Truyện Kiều với Hoàng Xuân Hãn
Thế còn ai mang quyển sách ấy về? Theo tôi, trong ấy có hai người. Một là anh ruột cụ Nguyễn Du là Nguyễn Đề, theo Tây Sơn từ lúc đầu. Ngô Thì Nhậm đưa ra thì cụ (Nguyễn Đề ) nhận liền, giúp các công văn từ lúc đầu giao thiệp với nhà Thanh, rồi cụ được đi sứ sang Thanh. Lúc về, cụ mang theo quyển Kiều vào khoảng đầu đời Quang Trung, 1792-93. Hai là người anh rể của cụ Nguyễn Du, tên là Đoàn Nguyễn Tuấn, con Đoàn Nguyễn Thục, người Quỳnh Lôi, hồi ấy ở phủ Thái Bình. Cụ Nguyễn Du là con rể cụ Đoàn Nguyễn Thục. Cụ này cũng đậu tiến sĩ, làm quan đến thượng thư đời Lê Trịnh, có nhiều con, trong những người con ấy, có Đoàn Nguyễn Tuấn hiệu là Hải Ông, theo Tây Sơn từ lúc đầu với Nguyễn Đề và Ngô Thì Nhậm, rồi cũng đi sứ về.
Nguyễn Du, thời kỳ ấy còn ít tuổi nhưng đã hiểu biết rồi, và lúc ở nhà người anh là ông Nguyễn Đề, ở Hà Nội, không làm gì, chính lúc ấy gian díu với Hồ Xuân Hương . Rồi ít lâu, cụ ra mặt không bằng lòng với Tây Sơn thì cụ cũng sợ liên lụy đến người anh, cho nên cụ về quê, ở nhà người anh rể ở Thái Bình khá lâu, cụ làm những bài thơ chữ Hán. Trong Bắc Hành Thi Tập vừa có thơ đi sứ, nhưng có một đoạn, nhiều bài viết ở Bắc Kỳ trong thời gian lưu lạc ở nhà quê. Người anh rể, Đoàn Nguyễn Tuấn, cũng có thể mang quyển Kiều chữ Hán về, rồi cụ thấy quyển Kiều ấy ở nhà người anh rể mà viết ra.
(Thụy Khuê – Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu Kiều)
***
Về cái chết của Nguyễn Du
Mùa đông năm 1919, Gia Long băng hà, Minh Mệnh nối ngôi (1820), triều đình cần thực hiện một nghi thức ngoại giao là cử sứ thần sang Tàu cầu phong cho vua mới.
Rủi thay, khi ông chuẩn bị lên đường cũng là khi nạn đại dịch (dịch tả) đang hoành hành từ Nam chí Bắc. Lan qua Huế, ôn thần dịch lệ đã kịp chép tên ông vào sổ các nạn nhân! Đây là những thông tin “lạnh lùng” có được từ Đại Nam chính biên liệt truyện: “Đến khi bệnh kịch, không chịu uống thuốc, sai người nhà mở duỗi chân tay, nói đã lạnh cả, Du bảo rằng “tốt”, nói xong thì chết, không nói một câu nào đến việc sau khi chết”. (Sđd, t.2, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997, tr.357). Gia phả và các tài liệu khác, về cái chết của Nguyễn Du, đều chép đại để như vậy.
(Về cái chết của Nguyễn Du – Trần Ngọc Vượng)
***
Nguyễn Du là chú vợ vua Gia Long
Theo cuốn gia phả của gia tộc Nguyễn Du: Cụ tổ 9 đời của Nguyễn Du là Trạng nguyên Nguyễn Thiến (đỗ năm 1532) vốn quê xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay là Hà Tây); có người cháu nội là Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm, thời Lê Trung Hưng có dự mưu phục tại nhà Mạc, bị thua trận chạy về phương Nam, giấu hẳn tông tích, đến sinh cơ lập nghiệp tại Tiên Điền, trở thành người khai sáng ra dòng họ Nguyễn Tiên Điền.
Đến đời thứ 6 thì dòng họ này đã nổi tiếng với tiến sĩ Nguyễn Nghiễm đỗ Hoàng giáp năm 1731 lúc 24 tuổi và Nguyễn Huệ (anh ruột Nguyễn Nghiễm, bác Nguyễn Du), đỗ tiến sĩ năm 1733.
Cụ Nguyễn Nghiễm làm quan thời vua Lê – chúa Trịnh lên tới chức Tể tuớng – Đại tư đồ, tước Xuân quận công. Quan Tể tuớng giỏi ca trù, hát xuớng ra Thăng Long nhậm chức đã say mê giọng ca quan họ của các liền chị ở vùng Kinh Bắc nên cưới bà bà Trần Thị Tần, quê Hoa Thiều, Hương Mạc, Từ Sơn và sinh ra Thi hào Nguyễn Du.
Thân thế bà vợ thứ năm của cụ Tể tướng: “Nguyễn Trừ (1760-1809), anh trai thứ năm của Nguyễn Du. Năm 1779, cụ Trừ đỗ Tứ trường, thời Chiêu Thống được bổ Tri huyện Siêu Loại, thăng Tri phủ Kinh Môn, đổi làm Tri phủ Nam Sách. Năm Gia Long thứ 8 (1890), ông mắc bệnh và mất. Nguyễn Trừ có con trai Nguyễn Trù làm Tri phủ Vĩnh Tường; con gái Thị Uyên giỏi nghề thuốc được tuyển vào làm cung tần của vua Gia Long, rất được yêu quý”.
Như vậy cụ Nguyễn Trừ là Quốc trượng nhà Nguyễn (bố vợ vua) và Nguyễn Du là chú vợ vua Gia Long.
***
NGỘ KHÔNG PHÍ NGỌC HÙNG (Biên Soạn)
