Tượng Ngô Thì Nhậm (Nguồn: Wikipedia)
Ngô Thì Nhậm
Điện thờ Tây Sơn (Bình Định)
Ngô Thì Nhậm là con Ngô Thì Sĩ, người làng Tả Thanh Oai, ngày nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội.. Ông thi đỗ giải nguyên năm 1768, rồi tiến sĩ năm 1775.. Năm 1787, ông theo phò Nguyễn Huệ., khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai. Nguyễn Huệ phong ông làm Tả thị lang Bộ Lại.
Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại Việt , với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp (Ninh Bình) góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn . Năm 1790 , vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư . Tuy làm ở bộ Binh, nhưng Thì Nhậm chính là người lo về các chính sách và giao dịch ngoại giao với Trung Hoa. Ông là người đứng đầu một trong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Hoa.
Ngô Thời Nhiệm
Vì sao ông còn được gọi là Ngô Thời Nhiệm? Ấy là vì thế này: Đến đời ông vua thứ tư của triều Nguyễn là Tự Đức trở về sau người ta gọi ông là Ngô Thời Nhiệm chẳng qua sợ phạm húy, đó là vì vua Tự Đức có cái tên cúng cơm là Nguyễn Phúc Thì và tên hiệu là Hồng Nhậm.
Ông được đánh giá dưới nhiều phương diện khác nhau, một nhà nho uyên bác, một nhà chính trị tài ba và một nhà ngoại giao lỗi lạc. Ngoài ra ông còn được coi như một trong những cư sĩ đóng góp nhiều cho Thiền học phái Trúc Lâm. Sau khi vua Quang Trung mất, ông không còn được trọng dụng như trước nên chuyển sang nghiên cứu Phật giáo, hoàn thành một tác phẩm rất có giá trị là Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh (1796).
Đinh Cường vẽ lại dựa theo bản in gỗ “Điếu ngự giác hoàng, in vào đời Cảnh Thịnh (Bính Thìn 1796) của Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm.
***
Phan Huy Ích
Phan Huy Ích sinh năm 1750, người Hà Tĩnh, vợ ông là con gái Ngô Thì Sĩ. (Ngô Thì Nhậm la con Ngô Thì Sĩ). Ông đỗ thi Hương trường Nghệ An năm 22 tuổi, đỗ thi Hội năm 26 tuổi, vào thi Đình đỗ tiến sĩ.
Bắc Bình Vương dẫn quân ra bắc lần thứ nhất rồi về Nam. Trước khi lên đường, Vương chọn năm sáu viên văn thần là Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Ninh Tốn, Nguyễn Bá Lan… phong cho quan tước. Phan Huy Ích làm chức Tả thị lang bộ Hộ, tước Thuỵ Nham hầu, được đưa về Nam còn bọn Lịch, Tốn, Lan… thì đều được phong chức Hàn lâm trực học sĩ, theo Đại Tư Mã Sở ở lại đất Bắc. Ông cộng tác với nhà Tây Sơn được bổ thị lang bộ binh, lo việc ngoại giao với nhà Thanh.
Ông là dịch gỉa bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Ông mất năm 1822.
***
Ngô gia văn phái
Ngô gia văn phái (Phái văn nhà họ Ngô) là một nhóm nhà văn thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai thuộc huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội).
Bộ sách do Ngô Thì Trí đề xướng và khởi công biên soạn tập đầu tiên. Ngô Thì Điển (con Ngô Thì Nhậm và là cháu Ngô Thì Trí) chủ biên. Trong sách có 2 bài tựa, một là của Phan Huy Ích, hai là của Ngô Thì Trí.
Đây là bộ sách có tính chất sưu tập nhằm nêu cao truyền thống văn hóa, văn học của họ Ngô Thì, chứ không có tính chất một hợp tuyển hay một tổng tập của những tác giả cùng một trường phái, một khuynh hướng tư tưởng và sáng tác.
Lúc đầu, chỉ gồm các tác giả từ Ngô Thì Ức đến Ngô Thì Điển, về sau được bổ sung thêm cho đến tác giả cuối cùng là Ngô Thì Giai, tổng cộng là 15 người, trong đó có nhiều tác giả nổi bật như Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Hương,…
Các trước tác đều bằng chữ Hán, bao gồm đủ các thể loại, nhiều nhất là thơ, rồi tới phú, truyện ký, tự, bạt, khải, biểu, tấu, sớ…
***
Ngô Thì Sĩ
Ngô Thì Sĩ (1726–1780), tự: Thế Lộc, hiệu: Ngọ Phong, là con trai của Ngô Thì Ức, là con trai của Ngô Thì Nhiệm . Ông làm quan nhà Hậu Lê, trải đến chức Đốc trấn Lạng Sơn. Ngoài ra, ông còn là một danh sĩ nổi tiếng ở thế kỷ 18 tại Việt Nam. Tác phẩm chính của ông là: Đại Việt sử ký tiền biên, Việt sử tiêu án, Khuê ai lục, Ngọ Phong văn tập…
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
***
Hồ Tông Thốc
Hồ Tông Thốc (1324 – ?) người làng Quỳ Trạch, huyện Đông Thành, (nay là xã Thọ Thành, huyện Yên Thành) nổi tiếng thông minh, học giỏi từ nhỏ. Lớn lên, ông được gia đình cho đi tầm sư học đạo ở huyện Đường Hào, lộ Hồng Châu (nay là huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên), rồi đỗ trạng nguyên năm 1341 vào thời Trần (1225 – 1400).
Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng (đầu thế kỷ XV) chép: “Hồ Tông Thốc thi đỗ từ hồi rất trẻ, rất có tài danh. Mới đầu chưa nổi tiếng lắm. Nhân tiết nguyên tiêu, có đạo nhân Pháp quan họ Lê giăng đèn mở tiệc để mời khách văn chương. Hồ Tông Thốc nhận giấy mời đề thơ. Trong một đêm, ngay trên bàn tiệc làm trăm bài thơ, uống trăm chén rượu, mọi người đều xúm xít thán phục, không ai địch nổi. Từ đấy danh lừng chốn kinh đô. Về sau dùng tài văn học làm thầy thợ cho người. Thơi Trần Nghệ Tông, quan đến chức Hàn lâm học sĩ, thừa chỉ kiêm Thẩm hình viện sứ, thơ & rượu không ngày nào vắng. Tuổi ngoài tám mươi mất tại nhà…”.
Đáng tiếc là tập thơ Thảo nhàn hiệu tần & các tác phẩm Việt Nam thế chí, Việt sử cương mục của Hồ Tông Thốc đã mất từ thời Đại Việt bị quân Minh đô hộ (1407 – 1427).
***
Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) là một nho sĩ miền Nam, người làng Bình Thủy, Cần Thơ, biệt hiệu Hi Chi, người đương thời gọi là Thủ khoa Nghĩa vì ông thi đỗ thủ khoa thi hương ở Gia Định năm 28 tuổi thời Minh Mạng thứ 16 năm 1835.
Ông được bổ làm tri huyện Phước Long, sau thăng tri phủ Trà Vang (Vĩnh Long).
Vốn là một trong những nhà nho sĩ cự phách miền Nam, ông để lại bổn tuồng Kim Thạch kỳ duyên được xem như kiệt tác và nhiều bài thơ chữ Hán, chữ Nôm.
***
***
NGỘ KHÔNG PHÍ NGỌC HÙNG (Biên Soạn)
