Ảnh minh họa (Nguồn: phatgiao.org.vn)
Thật tình mà nói ” Bà chẳng khùng ” tí nào. Chỉ là vì tính khí thất thường, trong cảnh “khổ, nghèo” nhưng tự ái rất cao, luôn giữ phong cách trong từng nếp sinh hoạt. Lý do đơn giản mà bà thường phân bua khi có ai đó thắc mắc về cung cách của bà: “Tôi vốn giòng… Tôn Thất”.
Ngày tôi 5-10 tuổi, thì bà cũng tầm tuổi Bà Nội tôi, nhưng xem ra già hơn nhiều, dáng người khắc khổ, đen đúa, lam lũ, bà có dáng đi lầm lũi, quần áo chỉ mỗi một màu đen, nên chẳng ai biết được bà có bao nhiêu bộ đồ? Bà hiện diện trong nhà tôi là do bà Nội thương cảnh khó khăn, cô quả của bà mà đưa về nhà, nhưng bà thật sự không hoà nhập được, hết cự cãi người này lại xì nẹt người kia, không ai được nói “động” tới bà, kể cả Bà Nội tôi cũng kiêng nể đôi phần, không vì gì mà vì thương cảnh ngộ của bà, vì không muốn chạm vào lòng tự trọng của một người đang cảnh sa cơ, thất thế, lại chẳng kế sinh nhai. Ăn uống, bà lại đòi riêng mâm, vì không thể ăn chung với “tụi kia”, trong khi nhà tôi lại không hề phân biệt, tất cả đều cùng ăn, cùng làm, trừ Ông Nội và tôi. Vậy là, bà không thể “ở trong nhà được”, nhưng Bà Nội lại không nỡ bảo bà đi khi mà bà sống đơn thân, cô quả, chẳng con cháu họ hàng gì mà theo như bà nói: bà vốn giòng Tôn Thất, là con gái đất Thần Kinh, chẳng qua vì thời cuộc gia đình thất tán mới lâm cảnh bơ vơ, nhưng không thể “quên xuất thân sang quý” của mình. Vậy là, bà Nội, vốn thương người cơ nhỡ, đã sắp xếp cho bà công việc khác: Cho bà “mượn đầu heo nấu cháo”, nghĩa là giao hàng cho bà đi bán, lời ăn vốn trả, lại bao cơm cho bà. Sáng, khoảng 9g, có khi sớm hơn bà đến nhận hàng đi bán. Tối về, trả tiền vốn, lời bà giữ, ăn cơm tối, bữa nào cũng dọn riêng một khay (là vật dụng bằng gỗ, hình chữ nhật như một chiếc mâm con), mà phải là cái khay bằng mun đen do bà tự chọn (đúng là ra dáng). Bữa cơm của bà… lâu lắm. Trước khi ăn, bà đi rửa mặt, tay, chân, vuốt và bới lại tóc, rồi mới giở lồng bàn, bưng mâm, ngồi ngay ngắn trên bộ phản gỗ, thỏng chân xuống, có khi còn “tréo chân”, rung đùi, rồi mới từ tốn bưng chén… chầm chậm ăn, mỗi miếng ăn trong miệng hình như bà phải nhai thành “nước” mới nuốt… khi ăn, hình như là lúc bà suy tư, ôn lại quãng đời đã qua hoặc nhớ về ngày cũ nên khi ấy bà như một người khác, thân ngồi đó mà hồn đã “xuất” đi đâu… Mọi người trong nhà lúc đầu còn tò mò nhìn ngó, sau như một “mặc định”, thôi thì kệ bà vậy. Ăn xong sớm, bà về sớm, trễ bà về trễ… chẳng vướng bận đến ai. Nhà tôi khi ấy làm việc đến tận khuya, sớm là 11g đêm, trễ, có khi hơn.
Phải nói, bà là chuyên sư gia “đi bộ”, nhà bà khá xa, và vẫn cái dáng lầm lũi, khắc khổ, bà như chìm hẳn vào bóng đêm. Ngày ấy, tôi thương bà lắm. Chẳng hiểu sao, chắc vì bà ít gần gũi với ai, không chuyện trò tâm sự, cứ âm thầm lặng lẽ đến rồi đi, mà thật tình dù bà có nói cũng chẳng ai nghe được với chất giọng Huế, khàn đục, khi nói lại chẳng hở môi răng, cứ rì rì lẩm nhẩm… Tôi thường lẽo đẽo theo bà hỏi han, công nhận ngày xưa tôi thuộc loại “xí xọn”, hôm nào bà thân thiện, chịu trả lời thì tôi lại lén thêm vào phần cơm trên khay của bà không cá cũng thịt, có khi là cái trứng do vậy trong nhà xem ra bà thân với tôi nhất.
Cuộc sống của bà cứ thầm lặng trôi qua, lạ điều, hình như bà chẳng hề đau ốm. Nếu tôi nhớ không lầm, không khi nào bà nghỉ bán, trừ khi hôm ấy bà giận ai đó trong nhà. Nhà tôi ngày ấy đông người lắm. Có cả bốn người phụ việc, hai trai, hai gái, và người trong gia đình nữa. Các chú cũng thật là… cả hai chú đều gốc Bình Định gặp bà Huế “quý tộc”, nói theo ngôn ngữ ây giờ là “chảnh” nên cứ kiếm chuyện trêu chọc, trêu cho bà nói rồi cười cho vui, bà tự ái, có hôm chửi um sùm rồi còn sỉ vả Bình Định này kia, Huế tao mới là danh giá… vậy là chiến trận bùng nổ, Bà Nội phải bỏ việc giảng hoà. Sau, Nội nói rõ cho mọi người biết tấm lòng Nội đối với bà, rằng: Nội không thiên vị, mà chỉ muốn giúp đỡ bà, hoàn cảnh bà thật đáng thương, tụi bây trêu ghẹo chỉ tự làm tổn phước của mình thôi. Bà già rồi, lại sống cô đơn biết được bao ngày nữa, chớ dại mà trêu chọc người ta… Lời bà Nội tôi đơn giản chỉ vậy, nhưng là một quan niệm sống từ bi, đầy nhân ái.
Lời Nội như một tiên tri, cũng ngót mười năm sinh nhai bên gia đình tôi, bà nghỉ bán, có lẽ tự cảm thấy đuối sức. Lần cuối bà ghé thăm vẻ đã mệt mỏi, sự già nua như tăng phi mã, lưng bà còng hẳn xuống, vẫn bộ bà ba đen… Nội mời bà bữa cơm chiều, cũng vẫn “không ăn chung với tụi nó”, chiếc mâm gỗ mun được đem ra, kỳ mài cẩn thận để dọn riêng cho bà. Khi bà về, Nội cũng dúi cho bà ít tiền. Bà từ chối, nhưng Nội ân cần quá nên cuối cùng bà cũng nhận. Vậy rồi từ đó bà biệt tăm tin nhạn. Nhà cũng tất bật với công việc nên chẳng ai còn nhớ đến bà, tôi thỉnh thoảng nhìn cái khay mun cũng gợi nhớ ít nhiều nhưng rồi cũng chỉ thoáng qua…
Mãi lâu sau này, câu chuyện được đồn đại, ở trên Thiền Củ (tôi nghe mọi người nói vậy còn viết có đúng địa danh không thì không dám chắc) nay là phường Phủ Hà, có một bà cụ neo đơn, sống một mình trong căn nhà nhỏ, mái tranh, vách đất đã qua đời trong sự lặng lẽ, âm thầm nhờ hàng xóm phát hiện. Khi vào xem, thì bà đã chết tự lúc nào nhưng mắt vẫn không nhắm mà mở to, nhìn trừng trừng lên hồi nhà… Mọi người, bằng kinh nghiệm của những cụ Ông, cụ Bà nghi ngờ: có điều gì khuất tất khiến người mất nuối tiếc…, nên đã cử người leo lên dò tìm. Thật không thể tưởng tượng được: khuất sâu trong mớ cột kèo, trong mái lá là một gói nhỏ bằng vải đen, trong đó có cả 9 lượng vàng là loại vàng lá Kim Thanh (thương hiệu vàng uy tín ngày ấy).
Cụ già đó truy nguyên thêm phần dự đoán tương đối chính xác là Bà Tư Khùng. Nghĩ thương và xót cho bà quá. Một đời lam lũ, ki bo, chắt chiu dành dụm đến giây phút cuối cùng chỉ giương mắt nhìn món tài sản vô cùng quý giá mà không thể làm gì được… Phút lâm chung của bà hẳn nhiều trăn trở, tiếc nuối.
Tuổi già, cái chết, “Sinh, Lão, Bệnh, Tử ” chẳng chừa một ai. Nẻo vô thường ai cũng phải dấn thân. Cầu mong tất cả chúng ta đến giờ phút ấy nhẹ nhàng mà bước, không trăn trở, tơ vương, lưu luyến bất cứ điều gì dù là của tiền vật chất, yêu thương, giận ghét… Tất cả chỉ trong một chữ “buông”, liệu mấy ai làm được?.
Thai Ly.
