THẾ GIỚI NHỎ BÉ của DON CAMILLO… (Kỳ 8): TỘI ÁC VÀ HÌNH PHẠT

T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI

GG: LỜI TỰ SỰ

TỘI ÁC VÀ HÌNH PHẠT

Một buổi sáng, khi vừa ra khỏi cửa, vị linh mục nhận ra một kẻ nào đó đã dùng sơn đỏ vẽ lên mặt tường trắng nhà cha xứ hàng chữ DON CAMILLO cao hai bộ, có nghĩa ám chỉ cha xứ là một gã phu khuân vác có sức mạnh đáng gờm mà mấy hôm trước vị linh mục đã chứng tỏ trong một cuộc đua tài với viên chủ tịch xã Peppone.

Đến buổi sáng hôm lễ Phục Sinh, Don Camillo lại thấy một cái trứng làm bằng sô-cô-la khổng lồ được cột một dải ruy-băng lụa để ngay trước cửa. Sau khi xem xét quả trứng kỹ lưỡng, cha nhận ra vật khổng lồ này không phải là một quả trứng, mà là quả bom nặng cả trăm ký được sơn màu nâu đậm giống sô-cô-la rất xinh xắn. Kẻ hảo tâm có tấm lòng độ lượng ấy là ai thì cũng không khó lắm để nhận ra, vì kèm theo món quà còn có một tấm thiệp, trên đó ghi: “Chúc Mừng Phục Xinh”. Đó là chưa kể đến sự chu đáo của người gửi: gã ta muốn mọi người trong giáo xứ chứng kiến và xác nhận rằng vị cha xứ của họ đã nhận được quà mừng lễ. Thế nên, khoảng đất trước cửa nhà thờ chật ních người thích thú dõi theo từng cử chỉ của Don Camillo.

Cha xứ giơ chân đá mạnh vào quả trứng. Dĩ nhiên, nó vẫn cứ nằm trơ trơ.

Có tiếng la: “Nặng lắm đấy nhé!”

Một giọng khác đề nghị: “Chắc cha phải nhờ đến đội tháo bom cảm tử rồi!”

Một kẻ thứ ba cao giọng khuyên nhủ: “Xin cha cứ làm phép thánh, nó sẽ tự biến đi thôi mà!”

Don Camillo biến sắc, hai đầu gối bắt đầu bủn rủn. Cha cúi người xuống, dùng hai bàn tay hộ pháp cố gắng ôm trọn quả bom, đôi môi thành khẩn khấn nguyện: “Lạy Chúa!”

“Don Camillo, nào hò dô ta, tới luôn đi!” Từ trên bệ cao của bàn thờ, một giọng nói trầm tĩnh đáp lại lời nguyện của vị linh mục.

Chậm rãi nhưng quả quyết, cha đứng thẳng người lên với cục sắt khổng lồ nằm gọn trong hai tay. Cha đưa mắt nhìn thẳng vào đám đông trước mặt một lúc rồi mới bắt đầu di chuyển. Từng bước từng bước một, từ tốn mà vững chãi, vị linh mục rời khuôn viên nhà thờ tiến về phía quảng trường mênh mông trước mặt. Đám đông im lặng theo sau, mặt ai cũng đầy vẻ kinh ngạc. Khi đến khu đất ở phía đầu bên kia của quảng trường, chỗ đối diện với tòa nhà tọa lạc ban chỉ huy đảng ủy, Don Camillo đứng lại. Đám đông cũng đứng lại sau lưng ông ta.

“Lạy Chúa!”, cha thành khẩn cầu nguyện,

“Don Camillo, nào hò dô ta, tới luôn đi!” Từ trên bệ cao của bàn thờ bây giờ đã cách một khoảng khá xa, một giọng nói đượm vẻ lo lắng đáp lại cha xứ.

Vị linh mục cố hết sức tập trung tư tưởng, rồi bất ngờ với chỉ một động tác, cha đưa cục sắt to tướng lên ngang ngực. Từ đó, cha bắt đầu từ từ nâng quả bom lên cao hơn trước những cặp mắt kinh hoàng của đám đông.

Một giây trước, quả bom còn lơ lửng trên đầu Don Camillo; chỉ một giây sau, nó đã nằm gọn ghẽ ngay trên khoảnh đất phía trước tòa nhà ban chỉ huy đảng ủy xã.

Vị cha xứ nhìn thẳng vào đám đông, cất tiếng nói rất to: “Hoàn trả lại cho người gởi. Phục Xinh phải viết là Phục Sinh. Sửa lại cho đúng trước khi gởi đi lần nữa.”

Đám đông rẽ lối nhường cho vị linh mục đang hân hoan và ngạo nghễ quay về lại khu nhà của mình.

Don Camillo nhấm nháp hương vị ngọt ngào của kỳ công vô địch này và coi đó là  một sự đáp trả công khai cho hành động dùng sơn đỏ viết tên mình trên tường nhà xứ với một ngụ ý xúc phạm đến lòng kiêu hãnh, điểm yếu hiểm nhất mà cha xứ khó lòng tha thứ. Ông đã cố sức bôi sạch những mẫu tự đỏ thẫm trên tường bằng cách dùng cây cọ thật to quét lên đó một lớp vôi trắng. Nhưng màu đỏ lại được pha bằng chất hóa học Alinin, nên vôi trắng chẳng những vô dụng mà còn làm cho nước sơn đỏ rực rỡ hơn một cách hết sức khiêu khích. Cuối cùng, cha  phải đành cất công cạo sạch lớp tường và công việc này ngốn của vị linh mục hàng nửa ngày trời.

Khi xong việc, cha đến gặp Đức Chúa mà khắp người trắng xóa như một anh thợ bánh mì tương phản với những ý tưởng ảm đạm đen như đêm đen trong đầu.

Cha nói, “Nếu như con biết kẻ nào là thủ phạm, con sẽ đánh cho hắn không bao giờ được thấy ánh sáng ban ngày nữa.”

Đức Chúa khuyên can:

“Này Don Camillo, chớ có cường điệu như thế! Đây chỉ là một trò đùa tai quái của một thằng ranh con. Chả ai thực sự có ý định xúc phạm đến con đâu!”

Don Camillo phản đối:

“Vậy Cha có nghĩ rằng gọi một vị linh mục là gã khuân vác thì đúng đắn chứ? Và còn nữa, cái biệt danh ấy, nếu người ta nghe được, nó sẽ vận vào người con cả đời chứ chẳng chơi.”

Đức Chúa mỉm cười an ủi:

“Con có một đôi vai rất vững chãi và mạnh mẽ, Don Camillo à! Ta không có được đôi vai vạm vỡ như con nhưng vẫn phải vác thánh giá trên người mà không hề có ý định đánh cho ai không bao giờ thấy được ánh sáng mặt trời.”

Don Camillo phải nhìn nhận rằng Đức Chúa nhận xét rất chính xác. Dù vậy, ông ta vẫn cảm thấy ấm ức và tối hôm đó, thay vì lên giường ngủ thì cha chọn một vị trí “chiến lược’, kiên nhẫn đứng ở đó chờ đợi. Khoảng độ 2 giờ sáng, có một bóng người xuất hiện trong khu vực khuôn viên nhà thờ. Người này mang theo một cái xô và bắt đầu miệt mài công việc của mình trên tường nhà cha xứ. Don Camillo không cho người này đủ thì giờ hoàn tất chữ D trước khi cha lật úp cái xô lên trên đầu gã và giúp gã bay lên trên không bằng một cú đá trời giáng vào hạ bộ.

Chất hóa học Anilin quả là một sáng kiến đáng nguyền rủa; nó khiến Smilzo phải nằm nhà suốt 3 ngày và liên tục lau mặt bằng bất cứ loại nước pha chế nào mà anh ta có thể nghĩ ra được. Khi Smilzo có thể ra khỏi nhà và đi làm việc lại, anh ta được mọi người chào đón bằng biệt danh “Da Đỏ”. Don Camillo vẫn tiếp tục đổ thêm dầu vào lửa cho đến khi khám phá ra, tuy hơi muộn, cái nắm cửa trước nhà mình đã bị trét lên một lớp sơn đỏ. Không nói một lời, cha lẳng lặng đi tìm Smilzo ở quán rượu đầu phố và chỉ với một động tác giơ cánh tay lên đủ mạnh để làm mù mắt một con voi, cha đã phủ kín khuôn mặt Smilzo bằng lớp sơn đỏ trét trên nắm cửa nhà mình. Lẽ dĩ nhiên, ngay lập tức sự việc được gắn cho một ý nghĩa xung đột chính trị, và bởi vì Smilzo được một nửa tá đồng chí trong đảng hiện diện tại đó bênh vực khiến vị cha xứ phải viện dẫn đến cái băng ghế làm vũ khí tự vệ.

Sáu đồng chí đảng viên trong quán bị chiếc băng ghế của Don Camillo áp đảo khiến máu họ sôi lên sùng sục, quán rượu biến thành địa điểm một cuộc nổi dậy. Cùng buổi chiều hôm đó, một kẻ vô danh đã làm vui tai Don Camillo bằng cách ném một cây đại pháo trước cửa nhà cha xứ.

Cho đến lúc này, sự chuyển hóa từ pháo lên thành lựu đạn có triển vọng dễ dàng thực hiện và hứa hẹn sự việc có cơ thoát khỏi sự kiểm soát của các bên liên quan. Thế nên, một buổi sáng đẹp trời, linh mục Don Camillo nhận được lệnh triệu tập khẩn cấp lên thành phố vì Đức Giám Mục trông coi địa phận muốn được nói chuyện với cha.

Vị Giám Mục lưng còng vì tuổi già nên ngài phải cố hết sức ngước lên mới nhìn rõ được khuôn mặt của linh mục Don Camillo. Ngài bảo:

“Don Camillo, trông cha có vẻ không được khỏe. Cha nên đi nghỉ ngơi vài tháng ở một ngôi làng miền núi xinh đẹp nhé. Phải rồi, phải rồi! cha chính xứ ở Puntarossa mới đây qua đời, vậy là chúng ta giết được hai con chim chỉ bằng một viên gạch: cha giúp ta tổ chức lại giáo xứ ở đó và đồng thời cũng là dịp để cha hồi phục sức khỏe. Rồi cha lại quay về giáo xứ cũ của mình tươi rói như một bông hoa hồng buổi sáng. Thế nhé! Don Pietro, một tu sĩ trẻ tuổi rất nghiêm chỉnh đứng đắn sẽ tạm thời thay thế cho cha. Hài lòng chứ, Don Camillo?”

“Không, thưa Đức Cha; nhưng con sẽ làm theo như Đức Cha mong muốn.”

Vị Giám Mục trả lời:

“Tốt lắm, tinh thần kỷ luật của cha thật rất đáng khen ngợi khi cha sẵn sàng thi hành mệnh lệnh mà không hề tìm cách biện luận với ta, dù làm như vậy là trái với ý muốn cá nhân của mình.”

“Thưa Đức Cha, thế ngài có cảm thấy không hài lòng nếu như người trong giáo xứ của con cho rằng con ra đi vì sợ?”

Vị Giám Mục mỉm cười:

“Không đâu! Không một ai trên trái đất này có thể có ý nghĩ rằng Don Camillo sợ hãi. Chúa lúc nào cũng ở cùng cha, Don Camillo à. Nhớ đừng đụng tay tới những chiếc băng ghế; chúng không bao giờ là vũ khí tranh luận của người Ki Tô Giáo.”

Tin Don Camillo bị thuyên chuyển đi nơi khác lan truyền rất nhanh trong thị trấn sau khi được đích thân Peppone thông báo trong một buổi họp đặc biệt.

“Don Camillo sẽ ra đi. Ông ta bị thuyên chuyển đến một vùng núi non chết tiệt nào đó. Don Camillo sẽ rời khỏi đây lúc 3 giờ chiều mai.”

Tất cả những người tham dự buổi họp đều hô to: “Hoan hô! Cầu cho ông ta chết dí ở đó cho rồi…”

Peppone nói:  “Nói chung, đó là giải pháp tốt nhất. Lão ấy tưởng rằng mình vừa là một ông vua, vừa là Giáo Hoàng cộng lại. Nếu lão ta còn ở đây, chúng ta sẽ buộc phải bắt lão ta trở về đúng vị trí của mình. Giờ thì mình tránh được việc rắc rối đó rồi.”

Brusco tru tréo: “Và chúng ta sẽ để cho lão lẻn đi như một con chó ghẻ bị đá đít. Phải báo cho cả làng biết rằng kẻ nào xuất hiện trước khu công viên nhà thờ lúc 3 giờ sẽ được Đảng hỏi thăm đấy!”

Đã đến lúc cho Don Camillo đến chào từ biệt Đức Chúa ngự cao trên bàn thờ.

Cha thở dài nói:

“Con ước gì có thể đem Cha đi với con,”

Đức Chúa trả lời:

“Ta sẽ ở bên con, không có gì thay đồi. Đừng lo lắng, Don Camillo à!”

Don Camillo hỏi:

“Cha có nghĩ rằng con đã phạm lỗi đủ nặng cho con bị chuyển ra khỏi đây không?”

“Có.”

“Vậy là tất cả mọi người đều không ai ưa con cả,” Don Camillo thở dài.

Đức Chúa đáp:

“Tất cả mọi người. Ngay cả chính Don Camillo cũng không đồng ý với việc con làm.”

Don Camillo công nhận:

“Chính xác. Con có thể tự đánh mình để trừng phạt.”

“Để yên tay cho nó nghỉ ngơi, Don Camillo. Lên đường vui vẻ nhé!”

Ở thành phố, sự sợ hãi có thể ảnh hưởng đến 50 phần trăm dân số, nhưng ở làng quê con số phần trăm ấy phải nhân đôi. Mọi con đường làng đều vắng như chùa bà đanh, Don Camillo bước lên xe lửa, lòng cha chùng xuống khi nhìn thấy tháp chuông nhà thờ từ từ biến mất sau lùm cây. Cha thở dài: “Ngay cả một con chó cũng không buồn nhớ đến mình. Rõ ràng là ta đã không làm tròn phận sự; và cũng rõ ràng ta là một quả trứng ung.”

Chuyến xe lửa này chạy lộ trình địa phương nên nó dừng lại ở mỗi ga đi ngang qua. Đến Boschetto, một khu vực gồm 5 căn nhà cách thị trấn của Don Camillo khoảng 4 dặm, xe lửa ngừng lại. Bỗng nhiên, Don Camillo thấy người đứng chật cả khoảng sân ga ngang toa tàu mình ngồi. Ông ta chạy vội đến cửa sổ nhìn ra và thấy một đám đông đang vỗ tay và ném hoa lên tàu.

Một nông dân ở Stradalunga giải thích:

“Người của Peppone nhắn nhe rằng bất cứ ai trong làng ra tiễn cha ở sân nhà thờ sẽ gặp rắc rối với họ. Vậy nên để tránh việc ấy, chúng tôi phải ra tận đây để tiễn cha.”

Don Camillo bàng hoàng xúc động, cảm thấy bên tai mình vang lên một điệu nhạc reo vui. Lúc xe lửa lăn bánh, toa tàu đã đầy ngập nào hoa, nào chai, nào túi xách, nào hộp quà đủ cỡ đủ loại; còn gà vịt thì bị cột chân cột cánh ném lên trên kệ cao khiến chúng giẫy giụa kêu la ầm ĩ.

Nhưng trong tim linh mục Don Camillo vẫn còn một mũi gai đâm vào. “Còn những người khác thì sao? Chắc họ phải ghét bỏ mình lắm mới nỡ làm một việc như vậy. Mình đâu có làm gì đến nỗi để phải chịu hình phạt như thế này.”

15 phút sau, xe lửa ngừng lại ở Boscoplanche. Don Camillo nghe có tiếng gọi tên mình. Cha bước đến cửa, nhận ra đó là viên chủ tịch xã  Peppone và toàn bộ lâu la tùy tùng của anh ta. Chủ tịch Peppone đọc bài diễn văn như sau:

“Trước khi cha lên đường, thiết tưởng điều đúng đắn chúng tôi phải làm là chuyển đến cha lời chào tạm biệt của dân làng và chúc cha sớm hồi phục sức khỏe để sớm trở về tiếp tục sứ mạng tinh thần của cha.”

Thế rồi, khi xe lửa bắt đầu chuyển bánh, Peppone cởi mũ, tay khoát một động tác chào rất điệu bộ. Don Camillo cũng giở mũ cầm tay, đứng yên hồi lâu bên cạnh cửa sổ để cho bóng mình rọi lên không như bóng các bức tượng anh hùng ở Risorgimento.

Ngôi thánh đường ở Puntarossa nằm trên đỉnh một ngọn núi, nhìn xa trông giống như một bức tranh in trên bưu thiếp. Khi đặt chân đến đó, Don Camillo hít mạnh vào phổi không khí đậm đặc mùi nhựa thông, rồi khoan khoái kêu lên:

“Sự nghỉ ngơi ở đây chắc chắn sẽ đem lại cho ta nhiều điều tốt lành,  vì chúng sẽ cho phép ta sớm trở về tiếp tục sứ mạng tinh thần của ta.”

G.G.

Bài Mới Nhất
Search