Nữ Sĩ MỘNG TUYẾT và Nhà Thơ ĐÔNG HỒ (Ảnh: baovannghe.vn)
Ông Đông Hồ ngoài việc làm thơ, Ông còn viết văn xuôi. Thời của Ông, đầu Thế Kỷ Hai Mươi, ông rất nổi tiếng trên văn đàn cả Bắc và Nam. Ông người Rạch Giá nhưng ở Sài Gòn. Ông cưới vợ ở đây, đường Nguyễn Thái Học tên cũ là Kichener. Người vợ thứ nhất mất, ông cưới tiếp cô em vợ. Người vợ thứ hai mất, sau rất nhiều năm, ông cưới tiếp vợ thứ ba… là cô em út của hai chị đầu. Ông gọi cô này là Thất Tiểu Muội Mộng Tuyết. Cô cùng chồng viết văn, làm thơ, mở hiệu sách Yiễm Yiễm Thư Trang ở số 192 đường Nguyễn Thái Học gần Cầu Ông Lãnh. Ông Đông Hồ mất vì tuổi già, tại ngôi nhà này. Bà Thất Tiểu Muội Mộng Tuyết dọn về ở hẳn quê chồng Rạch Giá, gìn giữ tài sản tinh thần của hai vợ chồng, từng giúp đỡ cho Thi Sĩ Kiên Giang và Thi Sĩ Nguyễn Bính trong những cơn ngặt nghèo. Kiên Giang thì thỉnh thoảng có nhắc về ân nhân của mình. Nguyễn Bính tuyệt đối không, kể cả sau 1954 . Nguyễn Bính khéo léo che giấu lai lịch Đảng Viên Đảng Lao Động Việt Nam, tức Đảng Cộng Sản (Hồ Chí Minh tránh công khai Đảng Hiệu vì dân không ưa và chính quyền Pháp thì luôn luôn tìm cách triệt hạ). Các Đảng Phái khác như Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng… đều chống đối Cộng Sản vì họ dư biết cái Sạo của Đảng này thể hiện nơi lá cờ có Ngôi Sao tổ chảng nặng cả tấn. Nhân vụ Ôn Như Hầu, Ông Huỳnh Thúc Kháng không để ý mắc mưu Công An Cộng Sản giết sạch hết các Đảng Phái quốc gia vì lời dặn vu vơ của Hồ Chí Minh: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Khi hiểu ra thì hết cách chuộc tội. Hùynh Thúc Kháng từ chức Bộ Trưởng Nội Vụ Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Độc Lập Tự Do Ấm No Hạnh Phúc ngay khi Hồ Chí Minh dự Hội Nghị La Fontainebleau ở Pháp về Hà Nội. Huỳnh Thúc Kháng về Quảng Nam thắp nhang lậy bàn thờ Tổ Tiên, sau đó vào Quảng Ngãi, quỳ dưới chân núi Thiên Lãnh mặt hướng về Bắc, mở nắp chai thuốc độc uống hết, và chết trên mảnh đất không phải quê hương… Núi Thiên Lãnh hay Tiên Lãnh, chỉ là một cách gọi tên một ngọn núi cao ngất trời. Lĩnh hay Lãnh là Núi, thí dụ núi Tây Lĩnh (Thơ Tản Đà: Ba Vì Tây Lĩnh mây xanh ngắt, Một dải Thu Giang nước vẫn đầy”. Quê của Nguyễn Du, ở Hà Tĩnh có chín mươi chín ngọn núi luôn luôn mọc cỏ hồng, nên có tên Hồng Lĩnh hay Hồng Lãnh.
*
Tôi rất thích Ông Đông Hồ… Thích nhất, nhớ hoài hai câu tản văn của Ông: “Chim có đàn cùng hót, tiếng hót mới hay! Ngựa có bạn cùng đua, nước đua mới mạnh!”.
Tôi cũng thích cách ông “sử dụng” chữ Y Grèque của bảng Vần chữ Việt. Thay vì dùng chữ D để viết chữ Diễm thì Ông dùng chữ Y. Cách viết của Đông Hồ, chỉ viết tên bảng hiệu của Ông, bình thường ông vẫn viết: dễ dàng, dung dị… Nếu chúng ta thấy khó chịu khi đọc Yiễm Yiễm thì tại sao ta lại vui vẻ khi đọc tên Bác Sĩ Yersin? Cũng rất vui vẻ lại còn kèm thêm cái gật đầu: Yes! Ở miền Trung, trong thời VNCH có hai tác giả nhiều người ái mộ là Thạch Trung Yã và Yã Hạc.
*
Hôm nay…tôi làm bài thơ xuôi xị.
Ông Đông Hồ, bà Thất Tiểu Muội Mộng Tuyết thường thấy một đứa nhỏ đi ngang trước tiệm của Ông Bà nhưng nó không vào, vì sợ cái uy của ông, thêm phần sợ thấy sách ham dòm quá, muốn mua… nhưng không có tiền!
Có nhiều người nói rất ít nhưng lời nói của họ thì như đinh đóng cột:
1, Khái Hưng: “Quên là Hạnh Phúc, Nhớ là đau khổ!
2, Nhất Linh: “Đời tôi để lịch sử xử”.
3, Vũ Trọng Phụng: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.
4, Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông!
5. Tôi mua cuốn sách của Ông Phạm Văn Tươi, sách dày, bài nào cũng cốt yếu dạy làm người, tôi đọc mỗi một câu: “Khi bạn vào nhà ai, được mời ngồi tại phòng khách mà ngó trên bàn và quanh quất không thấy cái gạt tàn thuốc, thì bạn hiểu rằng đây không được hút thuốc”.
*
Trần Tế Xương nằm cấn lưng đau, ông cũng bèn có thơ: “Đù mẹ đù cha cái giát giường…”.
Tôi biết có người, nhân thời thế thế thời cướp cơ hội làm quan trị dân, lớn lắm, nhưng vì cái tên hơi kỳ, Ếch, ngài bèn đổi ra S. Và hai chữ Phạm S. lại thấy quá dễ thương.
Trần Trung Tá
