01/12/2020
Hoàng Trọng&Lan Đình&Song Hương: Hương Ngọc Lan

“. . .Năm 1971 Cha tôi viết nhạc nền và ca khúc cho phim Ngậm ngùi, Ngọc Lan, Bão Tình, Sau giờ giới nghiêm … Trong năm 1972 Cha tôi viết nhạc nền và ca khúc cho phim: Lệ đá, Chân trời tím, Bẫy ngầm, Năm chàng hiệp sĩ bất đắc dĩ, Triệu phú bất đắc dĩ (Riêng phim này cha tôi được giải thưởng âm nhạc trong VHNT của TT.VNCH.. .”

Hoàng Trọng&Lan Đình&Song Hương: Hương Ngọc Lan

(Xin bấm vào hình để mở lớn)

Nhạc Phim: Ngoc Lan – Thái Thanh Hát Hương Mộc Lan của L.Đình-H.Trọng-S.Hương

Trong một chuyến về thăm quê nhà gần đây nhất, tôi lại được người Sài Gòn cũ gởi gắm hồn của những người trẻ năm xưa còn sống ở quê nhà. Trẻ năm xưa nhưng nay đã là những ông bà lão tóc hai màu. Dầu vậy, hồn Sài Gòn cũ vẫn như ngày nào trước khi có cuộc đổi đời. Nó không mất, không bị “cải tạo”. Nó vẫn sừng sững tồn tại trong những ấn phẩm văn hóa trước 1975 sống sót qua cuộc phần thư tàn khốc. Nó sống sót được là nhờ ở lòng dân. Nhờ vậy, hôm nay đây tôi may mắn “sở hữu” hồn Sài Gòn ấy qua kho tài sản vô giá: hàng mấy trăm bài nhạc cũ in trước 1975, với thủ bút, chữ ký của các nhạc sĩ tác giả, với cả những hàng chữ viết tay của người chủ sở hữu năm xưa ghi lại kỷ niệm của riêng mình.

Từ kho tài sản quý báu này, chuyên mục:Dòng Nhạc Kỷ Niệm” hình thành.

Chuyên mục “Dòng Nhạc Kỷ Niệm” trên TV&BH sẽ là một công trình dài hạn. Mỗi kỳ chúng tôi sẽ giới thiệu một bài nhạc, với phần phóng ảnh của Bìa Trước, Bìa Sau, hai trang ghi nhạc và lời bên trong. Kèm theo đó sẽ là phần sưu tập audio, tức bài nhạc được hát bởi một ca sĩ. Chúng tôi sẽ cố sưu tập bản nhạc được hát bởi một ca sĩ miền Nam trước 1975 để ý nghĩa bảo tồn được trọn vẹn, dù rằng cũng bản nhạc đó, với phần kỹ thuật, phối âm, phối khí và ca sĩ trẻ hơn thực hiện tại hải ngọai sau này có hay hơn nhiều. Mặt khác, như tên gọi “Dòng Nhạc Kỷ Niệm”, nghe một bản nhạc cũ bằng chính âm thanh cũ của ngày xưa, là sống lại kỷ niệm về một đoạn đời cùng với những niềm vui, những nỗi buồn của riêng mỗi người. Chúng ta nghe nhạc cũ là nghe kỷ niệm, nhờ kỷ niệm, âm thanh bài nhạc ở lại trong hồn lâu hơn, sâu hơn, đằm thắm hơn. Do đó, ở đây không có chỗ cho những thẩm định chủ quan nhạc hay, nhạc dở, nhạc sang, nhạc sến, nhạc nghệ thuật, nhạc thương mại v.v..(T.Vấn: Dòng Nhạc Kỷ Niệm với Nhạc cũ miền Nam).

 

©T.Vấn 2020

Đọc Thêm:

(Trích lại từ: Dong nhacxua.com)

HOÀNG TRỌNG & ĐIỆN ẢNH
(Nguồn: bài viết của nhạc sỹ Hoàng Nhạc Đô, trưởng nam của nhạc sỹ Hoàng Trọng)

Sau Tết Mậu Thân 1968, Điện ảnh VN nở rộ lên Cha tôi bắt đầu ký hợp đồng với các hãng phim để viết nhạc cho phim. Vào năm 1969 cha tôi làm nhạc nền cho phim: Vụ án tình, Xin nhận nơi này làm quê hương , Giã từ bóng tối. Trong đó có những ca khúc cha tôi sáng tác : Bơ vơ, Tìm lại hương yêu, Trao nhau lời cuối. Cũng trong năm đó cha tôi còn viết nhiều ca khúc khác nữa như: Cung đàn duyên kiếp, Mộng cô đơn … Qua năm 1970 cha tôi viết nhạc cho phim Lá rừng, phim này đã thực hiện xong nhưng bị cấm không cho chiếu. Sau đó ông viết nhạc nền và ca khúc cho phim: Người tình không chân dung của Hoàng Vĩnh Lộc và Nàng của Thẩm Thúy Hằng. Đồng thời trong năm 1970 cha tôi sáng tác một loạt ca khúc như: Nhặt lá vàng, Lá rừng, Tình yêu không bến, Mưa gió đầu, Gợi Sầu

Năm 1971 Cha tôi viết nhạc nền và ca khúc cho phim Ngậm ngùi, Ngọc Lan, Bão Tình, Sau giờ giới nghiêm … Trong năm 1972 Cha tôi viết nhạc nền và ca khúc cho phim: Lệ đá, Chân trời tím, Bẫy ngầm, Năm chàng hiệp sĩ bất đắc dĩ, Triệu phú bất đắc dĩ (Riêng phim này cha tôi được giải thưởng âm nhạc trong VHNT của TT.VNCH. Từ năm 1972 đến 1974 cha tôi viết cho phim Chiếc lá bên đường, Sợ vợ mới anh hùng. Ông còn viết cho phim chưởng: Song Hổ Sái đấu, phim này kịch bản của VN nhưng đạo diễn của Hồng Kông. Cha tôi đang nghiên cứu viết nhạc cho phim truyện dài nhiều tập nói về sự tích vua Đinh Tiên Hoàng hồi còn nhỏ thì phải ngưng vì biến cố đất nước thay đổi. Trong phim có những ca khúc: Châu đốc miền quê yêu, Hòn Phu tử, Mùa mưa thương nhớ , Ngày vui năm đó.

Có điều tôi rất phục sức làm việc của cha tôi. Ông vừa phụ trách ban Tiếng Tơ Đồng trên đài phát thanh và đài TH. Phải viết hòa âm phối khí từng bài cho ban nhạc (Ngày xưa phối âm phối khí tổng phổ trên giấy chứ không phải như trên máy computer như ngày nay cho nên rất tốn công sức, tốn thời gian. Cha tôi còn phải viết nhạc nền cho phim, phải sáng tác ca khúc kiếm tiền nuôi hai em của tôi ăn học trên đại học. Lúc này tôi đã ở riêng đi chơi nhạc khắp bốn vùng chiến thuật, thỉnh thoảng mới về thăm nhà. Gặp con em là người ở gần cha tôi nhất, nó than thở : “Cha mình làm việc nhiều quá , gày nhom thấy sao thương quá là thương”…

BÃO TÌNH
(Nguồn: hồi ký của cố đạo diễn Lê Dân đăng trên ThanhNien.vn)

Bão tình (Hoàng Trọng - Duy Viêm). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Bão tình (Hoàng Trọng – Duy Viêm). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

bao-tinh--1--hoang-trong--duy-viem--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com bao-tinh--2--hoang-trong--duy-viem--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

Đến năm 1971, Kiều Chinh có dịp xuất hiện cùng Ôn Văn Tài trong bộ phim màu Bão tình của đạo diễn Lưu Bạch Đàn, hãng Trùng Dương Phim sản xuất. Kịch bản phim do chính đạo diễn viết cùng Lê Trang. Ngoài hai vai chính, phim còn quy tụ nhiều nghệ sĩ được quần chúng yêu thích: Hùng Cường, Kiều Phượng Loan, Thùy Liên, Thanh Việt, Kim Giác, Kim Ngọc, Lệ Hằng, Thanh Xuân… Chuyên viên điện ảnh được chọn cũng là những tay nghề giỏi: quay phim Nguyễn Ngọc Minh, âm thanh Lê Ngũ Nghĩa, hòa âm Hoàng Trọng. Nhạc chủ đề với ca khúc Tình nhớ do Trịnh Công Sơn viết và Khánh Ly trình bày. Chọn bối cảnh cho phim, đạo diễn khéo tập trung tại vùng Nha Trang là nơi có nhiều cảnh đẹp.

Rất tiếc, truyện phim có vẻ đơn giản, tóm tắt như sau: Sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan hải quân, Toàn cưới Thủy. Chấm dứt tuần trăng mật, Toàn lên đường ra trận, bị thương trong một cuộc hành quân. Bác sĩ cho biết vết thương làm anh bị bất lực vĩnh viễn. Toàn vô cùng đau khổ. Từ đó, hai vợ chồng miễn cưỡng sống trong hạnh phúc giả tạo. Nội dung phim không mới lạ, ít tình tiết hấp dẫn,  nên dù phim được thực hiện chỉn chu, nhưng cũng không thu hút nhiều khán giả như mong muốn, nhanh chóng đi vào lãng quên.  Sau phim này, Kiều Chinh lập hãng phim riêng lấy tên là Giao Chỉ Phim để có thể chọn thực hiện những tác phẩm theo ý mình.

NGƯỜI TÌNH KHÔNG CHÂN DUNG
(Nguồn: hồi ký của cố đạo diễn Lê Dân đăng trên ThanhNien.vn)

Người tình không chân dung (Hoàng Trọng). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com
Người tình không chân dung (Hoàng Trọng). Ảnh: AmNhacMienNam.blogspot.com

nguoi-tinh-khong-chan-dung--1--hoang-trong--da-chung--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com nguoi-tinh-khong-chan-dung--2--hoang-trong--da-chung--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com nguoi-tinh-khong-chan-dung--3--hoang-trong--da-chung--amnhacmiennam.blogspot.com--dongnhacxua.com

 “Người tình không chân dung” là tác phẩm đầu tiên của hãng phim Giao Chỉ – bộ phim đưa Kiều Chinh lên đài danh vọng, với tư cách là giám đốc hãng phim và là diễn viên chính của một bộ phim gây dư luận sôi nổi. Tác giả phim là Hoàng Vĩnh Lộc, từ diễn viên nổi tiếng bước sang lĩnh vực đạo diễn, tiếp tục thành công qua một loạt phim nhiều sáng tạo: Con búp bê nhồi bông, Người về từ đỉnh núi, Xin nhận nơi này làm quê hương… Và bây giờ là Người tình không chân dung. Cùng có mặt trong phim với Kiều Chinh là những diễn viên nam sáng giá: Hùng Cường, Tâm Phan, Hà Huyền Chi, Minh Trường Sơn.

Nội dung phim tóm tắt như sau: Mỹ Lan là người đẹp giữ mục Tiếng nói hậu phương của đài phát thanh quân đội, rất đau khổ khi hay tin người yêu tử trận. Cô chán nản cuộc đời, đi đến quyết định táo bạo: gom hết tên họ và số quân của những quân nhân từng viết thư cho cô từ mặt trận, bốc thăm trúng ai thì nhận người ấy làm chồng. Sau nhiều ngày lang thang trên những nẻo đường mặt trận, cuối cùng Mỹ Lan gặp được người cô tìm kiếm: một người lính bị phỏng rất nặng, mặt mày và toàn thân quấn băng kín mít. Mỹ Lan ở lại cứ điểm để săn sóc anh, cho đến lúc anh trút hơi thở cuối cùng dưới lớp băng dày, không để lộ chân dung.

Phim được mở đầu với một hình ảnh đặc sắc để lại ấn tượng: Bên vũng nước mưa phản chiếu ánh sáng mặt trời lung linh, một cái nón sắt bị bỏ lại chơ vơ giữa lau sậy. Làm nền cho hình ảnh này là giọng hát xúc động của Lệ Thu: “Trong cái nón sắt của anh, Mặt trời vẫn còn đó ban ngày và ban đêm, Mặt trăng hoặc muôn muôn triệu triệu vì sao cũng còn đó, Con ễnh ương vẫn gọi tên anh trong mưa dầm, Tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất… (Ca từ của Hoàng Vĩnh Lộc – Nhạc của Hoàng Trọng). Hình ảnh và những lời ca của bài hát cùng tên với tựa phim đã làm nhiều khán giả rơi lệ.

Tác phẩm Người tình không chân dung đã gây tranh luận trong nước. Nhiều người phê bình đây là một bộ phim ca ngợi hình ảnh người lính của chế độ Sài Gòn. Những người khác lại nghĩ rằng phim có ý đồ phản chiến, nêu lên sự tàn ác của chiến tranh. Dù sao, phim cũng đã gây xúc động. Tại Đại hội Điện ảnh Á châu lần thứ 17 ở Đài Bắc (5 và 6.6.1971), Người tình không chân dung đoạt giải Phim có chủ đề xuất sắc, và Kiều Chinh được tôn vinh là Nữ tài tử chính khả ái nhất của Đại hội.