Nhà văn Cung Tích Biền – Tranh: Nguyễn Xuân Hoàng (trong nước) – Nguồn: tienphong.vn)
(Phóng bút)
Không nhớ rõ năm nào, nhà văn Cung Tích Biền và tôi, cùng cộng tác cho nhật báo ĐỘC LẬP.
Tôi viết nhận định thời sự chính trị, anh viết truyện dài nhiều kỳ.
Chúng tôi thỉnh thoảng gặp nhau tại tòa soạn, là lúc đến đưa bài hay nhận tiền nhuận bút.
Một buổi sáng mai hồng, một ngày đẹp trời, giữa cơn mưa xuân, nhẹ, thắm tươi, như năm ngón tay thiếu nữ của bàn tay trái.
Tôi vẫn linh cảm, trìu mến, si mê, năm ngón tay của bàn tay trái của người thiếu nữ thanh xuân, tràn đầy nhựa sống.
Chỉ vì cánh tay đó nằm về phía trái tim.
Chỉ vì năm ngón của người thiếu nữ xuân thì là mềm mại, là tơ trời mộng ảo.
Chỉ vì năm ngón tay đó, phía trái con tim của đứa con cưng của Thượng Đế, chỉ hoạt động cho tiếng gọi tình yêu.
Chỉ vì năm ngón đó, rất ít hoạt động cho mưu sinh, cơm áo gạo tiền.
Ôi năm ngón của bàn tay trái người thiếu nữ thanh xuân đang độ chín tới.
Ôi, năm ngón của bàn tay trái người thiếu nữ thanh xuân, ta si mê xiết bao.
Thi sĩ sẵn sàng chết vì, do, tại, bởi năm ngón của bàn tay trái, không phải là tay của mụ phù thủy, mà phải là năm ngón nơi bàn tay trái của người thiếu nữ thanh xuân, dậy thì, ta hoài mơ ước.
Vâng, chính một buổi sáng xuân hồng, mưa nhẹ, làm ta tương tư năm ngón của bàn tay trái người thiếu nữ, bàn tay chỉ lao động cho tình yêu, vì tình yêu, do tại, vì tình yêu.
Buổi sáng hôm đó, tôi và Cung tích Biền ngồi chờ ông chủ nhiệm đến, đưa bài và nhận tiền.
Trong một động thái nhanh như chớp, CTB giật lấy bản thảo trong tay tôi.
Chúng tôi, anh em, chúng tôi một nhà Độc Lập, nên không xem đó là mất lịch sự.
Sau khi lật lật xem qua, anh trả bản thảo cho tôi và hỏi:
-Sao trong bản thảo anh, tôi không thấy có dấu bôi xóa, lem nhem?
Tôi đã không trả lời, vì không đủ thời gian để trả lời.
Tôi đã nợ anh một câu trả lời tới nay, dễ chừng đã trên 55 năm.
Nay, trong buổi thời rảnh rỗi, ngồi chờ tới phiên mình được gọi phỏng vấn, để về nước trời hay địa ngục, tôi trả lời anh, nghe anh CTB.
Vốn là từ sau tháng 11 năm 1967, tức là sau ngày tôi bị bà đại úy biên tập viên, hoa khôi khóa 1, thời đại tá Trần Văn Liễu làm tư lệnh cảnh sát, xỏ mũi tôi kéo về làm chồng bà, thì tôi viết bằng cái máy đánh chữ xách tay, mà bà đã mua tặng tôi, như một bù trừ cho cái tiết trinh tôi bị bà tước đoạt, dịu dàng, mê đắm.
Vâng, từ đó tôi viết văn bằng máy. Nhưng làm thơ, thì viết bằng tay.
Nhưng cũng đôi lần, tôi làm thơ bằng máy.
Chẳng hạn như bài thơ TRƯỜNG CA CHO HUẾ MÙA XUÂN, dài hơn 100 câu, trong một tình cảnh quá ơ hờ.
Sau đợt 2 Mậu Thân, tôi đi lính, nằm chờ tại trại Nguyễn Tri Phương.
Trại tìm người biết đánh máy giúp làm hồ sơ tân binh. Tôi tình nguyện. Ngày nào tôi cũng ngồi trước máy.
Bài thơ ra đời trong tình huống đó, chưa đầy 30 phút đánh máy.
Đêm cuối cùng, trước lúc chia tay hôm sau, để sang trung tâm Quang Trung thụ huấn, có một tiệc trà nhỏ bên ánh lửa bập bùng, tôi đã đọc bài thơ và nước mắt giàn giụa.
Thưa anh CTB,
Tôi có đánh máy sai chứ.
Nhưng khi sai MỘT CHỮ, những chữ sau, tôi LÈO LÁI cho chữ sai kia, vào đội ngũ hành quân.
Khi sai MỘT CÂU, tôi lèo lái những câu sau, kéo câu sai vào binh đoàn tiếp tục tác chiến.
Khi sai MỘT ĐOẠN, dễ ẹc, lấy kéo cắt bỏ, lấy keo, hồ dán lại, nối đôi bờ đại dương.
Chỉ vậy thôi, anh ạ.
Phụ ghi.
Sau ngày cải tạo về, một hôm, ông anh Nguyễn Cẩm, em Đại Tá Bé, XDNT/ Vũng Tàu, hỏi tôi, mày đi chơi với tao không. Tôi OK.
Nơi đến, té ra đó là công ty may mặc và bất động sản của ông CHÂU, chủ nhiệm nhật báo ĐỘC LẬP, mà tôi đã một thời là bỉnh bút.
Sau vài giờ thăm hỏi, trước khi về, ông gọi xuống lầu nói thư ký đem lên hai phong bì.
Ông trao hai anh em tôi mỗi người một cái.
Ra khỏi công ty, ngồi trên xe đạp, tôi mở ra đếm, 100,000 ông hồ.
Vài tháng sau, ăn quen, tôi đến với lý do xin việc làm, lúc ra về, nhận phong bì 50,000.
Một tháng sau, tôi lại đến, cũng lý do xin việc làm, ra về lại phong bì, ngồi trên xe đạp đếm 30,000 (ba choạc)
Lúc này, tự thấy da mặt mình đã dày và con, vợ đi Mỹ, tôi tha cho ngài chủ nhiệm của tôi.
Lúc này, chẳng biết ông có bị vào tù không, để tôi gởi tiền về thăm nuôi ông.
Vậy trước sau, ba lần làm mặt dày, tôi được:
100,000 + 50,000 + 30,000 = 180,000 ông hồ.
+ Hai bài báo cuối cùng tôi viết cho tờ Độc lập khoảng trước 30/4 là:
1/ Đà Lạt, sao đành bỏ nó mà đi.
Đà Lạt di tản đêm 1/4/75.
Khi đưa bài báo, ông chủ nhiệm móc ví đưa tôi 3,000 và nói: “Anh vừa di tản về, cần tiền, tôi ứng trước cho anh.”
2/ Sau Nam Vang, bao giờ đến Sài Gòn?
Tôi viết sau ngày Nam Vang thất thủ về tay bọn cờ me đỏ.
Tưởng mình ngon, tôi đem đến, ông xem qua tựa đề, móc túi đưa tôi 3,000 và nói “Tôi vẫn trả tiền cho anh, nhưng bài thì không đăng.” “HÃY ĐỂ BINH SĨ CÒN TINH THẦN CHIẾN ĐẤU.”
Viết tới đây, tôi đang khóc, mọi người ơi.
Đúng vậy, tôi đang khóc.
Nước mắt tôi đang rơi trên máy tính.
Vì câu nói của ông “hãy để cho binh sĩ còn tinh thần chiến đấu”.
Thưa nhà văn CUNG TÍCH BIỀN,
Thế là sau hơn 55 năm, nay tôi mới trả lời anh một câu hỏi.
Lê Mai Lĩnh
