Đoàn Nhã Văn: Thơ Phạm Hồng Ân – những trang kinh thấm đậm tình người

Phạm Hồng Ân làm thơ từ hơn 50 năm trước. Độc giả địa phương chẳng xa lạ gì thơ ông. Độc giả bốn phương ngoài biết ông là một người lính yêu quê hương như chính thịt da mình, còn biết đến những vần thơ mật ngọt của ông. Biết như vậy, nhưng vẫn chưa đủ. Hãy để ông tự giới thiệu mình thêm một chút về mình với những người yêu chữ nghĩa.

“Ta mang áo trận năm năm chẵn

Khí khái đong đầy mỗi bước chân

Sáu năm tù rạc dài đăng đẳng

Hề phá cùm gông mộng xuất quân”.

(Bốn năm rời cố xứ)

Năm năm áo trận, sáu năm tù, mấy mươi năm viễn xứ, vậy là tạm hiểu đời nhau. Tuy vậy, thơ ông có từ trước những ngày mang áo trận, từ đó đến nay đoạn đường đã trên 50 năm. Trên quãng đường dài ấy, cõi thơ ca của ông mang nặng một mối tình lớn với quê hương. Mà mỗi địa danh ông đi qua đều bằn bặt những nỗi lòng thương, nhớ ấy.

Nếu nhà thơ Du Tử Lê khi gặp lại những người bạn cũ, vừa đi theo diện HO đến bến bờ tự do, ông viết: “Nhìn nhau chợt thấy ra sông núi”. Du Tử Lê có thể hình dung, có thể thấy ra sông núi qua hình ảnh bạn mình, nhưng chắc chắn ông chưa thấm đẩm cái tình với đất nước như Phạm Hồng Ân, một người ở lại từ 1975, chịu đắng cay tù đày và nhiều năm dài đằng đẳng đi giữa gia tài của Mẹ, bước trên đất hương hỏa của Cha, lại mang tâm trạng của một kẻ mất quê hương.

“như ngựa lạc bầy, như chim xa tổ

ta cất lên tiếng nấc của giống nòi

khóc cho những hồn linh vừa vỡ đổ

lịch sử buồn theo từng tượng gục rơi”

(Khóc cùng đổ nát)

.

“Tan tác nhau vỡ tung đời nghìn mảnh

Chim ngậm trời kéo mây gió tha phương

Dốc tuột núi chìm đáy sâu tuyệt tận

Cổ tích bay từ huyệt đất quê hương”

(Lá Thu)

Nếu không quặn lòng với mảnh đất ông cha, làm sao viết lên những vần thơ day dứt lòng người như thế này:

“lắng nghe mưa thét trong lòng núi

đá bỗng vang lời tổ quốc tôi

ngọn lửa thiêng xưa, sao đã nguội?

sầu bủa vây quanh chỗ ghế ngồi

.

hàng trăm năm nhân danh cái chết

máu đổ ra, người vẫn chưa vừa?

lắng nghe sấm thét trong đời đá

xé nát lòng tôi tiếng núi mưa”

(Xé nát lòng tôi tiếng núi mưa)

Có cần giải thích thêm không về tấm lòng của người lính hải quân với âm vang của Tổ Quốc trong từng hơi thở? Không! Hai khổ thơ trên đủ bày tỏ tâm can của một con người luôn đập cùng một nhịp với quê hương.

Tôi đọc thơ không dưới vài trăm tác giả có thơ xuất bản. Nhưng chưa bao giờ thấy thơ ai chứa đựng quá nhiều những địa danh quê hương như thơ của Phạm Hồng Ân. Từ Sài gòn, Gia Định, Thủ Thiêm, Ninh Kiều, Bến Tre, Tân Định, Bạch Đằng, Cà Mau, Năm Căn, Hàm Rồng, đến Phú Ninh, Mộc Hóa, Long Khốt, Cồn Dơi, Phú Đức, Thới Bình, Cai Lậy, Hòn Tre, Hòn Thơm, Hòn Nghệ, An Thới, Vàm Cỏ Tây, dòng Cái Lớn, kinh Nhiêu Lộc, kinh Cái Nháp, đỉnh Cô-Tô, đồng Minh Hải, đến bắc Năng Gù, dòng Tắc-Thủ,  trời Huyện-Sử, xứ Ðầm-Dơi, trại tù Vườn Đào – Mỹ Phước Tây, v.v. và v.v.

Qua những địa danh ấy, độc giả như đi qua những dòng nhật ký của thời gian, những dòng nhật ký về những chuyến hải trình của người lính hải quân năm nào. Nhưng đằng sau những con chữ đồng cảm, đằng sau những tứ thơ mật ngọt ấy, là tấm lòng không chỉ của một người lính trẻ, mà còn là một người tha thiết với mỗi tấc đất quê hương.

“Tôi về như dòng kinh Nhiêu Lộc

Trôi kiếp nhân gian cõi đục ngầu”

(Buổi sáng ở Tân Định)

.

Bạch Đằng. sóng vỗ. mạn tàu

Ra khơi. chỉ có sông sầu. tiễn đưa”

(Nợ Sài Gòn)

Những câu thơ như thế, đọc, nghe “đã” gì đâu.

Điểm thứ hai mà độc giả dễ nhận  thấy ở cõi thơ của Phạm Hồng Ân là nỗi chung tình với bè bạn. Ở đó, có người nằm xuống còn rất trẻ trong thời chinh chiến điêu linh, có người gặp nhau sau những tháng năm tù, cũng có người sau 40 năm gặp lại nhau trên đất khách. Thời gian có khác nhau, nhưng tấm lòng của thi sĩ trước sau vẫn là một.

“Tôi đứng ngó đại ngàn

Xác xơ một đời phế tích

Lòng chớm thấy thiên thu

Trong ngổn ngang trùng trùng tro bụi

Nơi các anh vùi thây

Hài cốt chưa mồ yên mả lặng

Nơi các anh bị bỏ quên

Tung tích vô danh chiến sĩ”

(Bóng tối)

Hoặc, viết cho bạn lúc ở tù chung.

“Anh là kiếm sĩ sầu sông núi

Bẻ gãy gươm nhìn lịch sử quay

Ta vươn hèn mọn đời cổ thụ

Ngồi ngó hư không tiếng thở dài”

(Kỷ niệm)

Mấy chục năm sau ở xứ người nghe tiếng gọi từ Cà mau mũi đuốc.

“nửa đêm đang ngủ nghe mày gọi

tiếng gọi từ Cà Mau quê hương

muốn chửi thề, nhưng sao thấy tội

thằng bạn già lẩm cẩm đáng thương!”

(Bài cho Nghê Việt Long)

Trong cõi thi ca của Phạm Hồng Ân, ngoài viết cho Mẹ Việt Nam thân thương, ông còn có những vần thơ viết cho Mẹ riêng mình rất gần gũi. Đọc xong, thấy như có bóng dáng mẹ mình trong ấy. Đó là cái hay của tác giả biến cái riêng thành cái chung.

Có rất nhiều thi nhân, văn sĩ đã làm thơ cả đời, viết cả ngàn trang sách, tuy nhiên không có nhiều người viết được những câu thơ rất ân tình tặng vợ.  Nếu ngày xưa có Trần Tế Xương viết dăm bài thương vợ, qua cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, chúng ta có cả ngàn thi sĩ, nhưng chỉ có trên đầu ngón tay những thi sĩ có những bài thơ rất gần, rất thật, rất cảm động về VỢ của mình. Trong đó có: Nguyên Sa, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, một số rất ít các thi sĩ khác, và dĩ nhiên là Phạm Hồng Ân. Ai đã từng làm thơ sẽ biết những bài viết cho vợ không dễ. Viết cho vợ mà viết hay càng khó hơn. Ở Phạm Hồng Ân, viết cho người tình trăm năm của mình, ông có nhiều những câu thơ đẹp, đầy ắp những ân tình.

Tôi xin không trích dẫn ra đây về những phần thơ ông viết cho Mẹ hoặc cho người bạn đời của mình. Tôi muốn để bạn đọc tự khám phá góc riêng này của ông, và biết đâu sẽ bắt gặp những vần thơ giản dị, chân chất nhưng rung động và chứa đựng cả một bầu trời ân tình.

***

Viết gì thì viết, nhưng để độc giả nhớ, trước hết thơ phải hay. Ở cõi thơ của Phạm Hồng Ân, ông trải lòng mình bằng rất nhiều hình ảnh, và dĩ nhiên cũng rất nhiều những câu thơ đẹp.

“Tôi như hồn những con tàu

Ra khơi để lại bến sầu sau lưng”.

(Đại bàng qua sông)

.

“mưa người ướt vạt đất đau

bốn mươi năm hạn bạc màu sinh linh

nắng phơi xương cốt hòa bình

thấu hư vô táng lời kinh chiêu hồn

ơn người trăm giọt mưa tuôn

lòng như vạt đất đẫm hương mùa tình”

(Khúc mưa)

.

“Sầu ta trắng xóa đỉnh cao

Ðời buông thạch nhũ lao đao cội nguồn.

Cuộn nhau trong đất trời buồn

Ðôi chân Bắc Mỹ. Linh hồn Cửu Long”

(Chicago)

Câu thơ “Ðôi chân Bắc Mỹ. Linh hồn Cửu Long” của Phạm Hồng Ân có nét giống một câu thơ của Viên Linh “Mưa đưa tôi lại Sài Gòn / Trán căng nhiệt đới hồn còn Đông Dương”, trong bài Lầu Chuông, sáng tác vào 1978. Tuy nhiên, Viên Linh chỉ nói chung chung về một Đông Dương. Còn Phạm Hồng Ân hướng về một thổ ngư, một vùng sông nước miền Nam. Cái ông nói tới, trăm ngàn độc giả có thể “thấy” có thể “sờ” vì họ đã từng sống tại đó, đã từng đi qua. Câu thơ của Phạm Hồng Ân thật hơn, đời thường hơn và vì thế cũng lay động hơn.

Một ví dụ nữa,

“Ta về nằm giữa biển đông

Hai tay ôm lấy trăm sông nghìn rừng”

(Nghìn rừng giông bão ngục tù trăm sông)

Bạn có để ý cách dùng chữ theo cấp số nhân trong hai câu thơ đó không? Đó là một cách tu từ trong văn chương, đưa cảm xúc lên cao độ từ hai, đến trăm, đến ngàn, đẩy những con chữ đi xa và bay cao. Không chỉ một bài ông dùng thủ pháp này, mà tôi thấy có nhiều bài như thế.

Tôi để ý thấy một nét khác trong thơ của ông. Hãy đọc thử hai bài thơ dưới đây.

“Dưới tàng cây đại thụ

Cỏ dại lấm tấm bông

Xôn xao một đàn én

Ngậm từng mảnh trời hồng”.

(Xuân Dưới tàng cây đại thụ)

Hoặc:

Em nằm một góc trời riêng

Dưới chân hình tượng nghiêng ngiêng số phần

Và ta – bụi cát phân thân

Nửa theo biển rộng, nửa gần núi cao”

(Đón Tết ở công viên Heo-May)

Ta thấy gì ở hai bài này? Bài thứ nhất chỉ có bốn câu thôi, nhưng đọc xong thấy cái ý thơ thật dài. Gom được hình ảnh: đại thụ, cỏ dại, đàn én, trời hồng vào trong một bài thơ ngắn đã mở ra một liên tưởng lớn. Nó đòi hỏi một bút lực, biết dồn nén để tạo âm vang. Xa hơn, “đại thụ” và “cỏ dại” là hình ảnh của cực đại và cực tiểu.

Ở bài thứ hai, “Biển rộng/núi cao” và “bụi cát” cũng chính là hai đầu của cực đại và cực tiểu. Đây là yếu tố nhị nguyên trong cuộc đời này: hữu hạn và vô hạn. Khi thấm được cái hữu hạn của cuộc đời, người ta sẽ sống tử tế hơn với tha nhân. Rất nhiều bài thơ, thi sĩ đã đem ý nghĩa này vào trong cõi thi ca của ông. Phải tinh ý mới nhận ra tư tưởng của nhà thơ đằng sau những vần thơ ngắng nhưng đầy nội lực.

Hơn nữa, có một chữ mà tôi thấy ông dùng rất nhiều lần. Mà đa số đều hay. Đó chữ “ngậm”. Xin chỉ trich dăm câu sau đây.

“tháng tư cỏ ngậm máu tươi

rừng man di vác núi đồi qua sông”

(Tháng Tư, khóa ngữ ngôn câm)

“con chim trên nóc giáo đường

về đây ngậm những hồi chuông tật nguyền”

(Tháng tám rồi đó anh)

“ta con chim hoang đàng

ổ đời khô giọng hót

từ đỉnh sầu chót vót

ngậm khúc tình trăm năm”

(Em như ngọn trầm hương)

Tôi đoán là một lần đâu đó, ông đã dùng chữ này. Và thích. Rồi tiếp tục dùng nó trong suốt chiều dài thơ ông. Chữ “ngậm” này ông dùng rất hay trong nhiều hoàn cảnh. Đặt được chữ này vào nơi đắc địa, nó làm cho ý thơ khác hẳn đi, bài thơ bay bỗng lên. Rất hiếm gặp ở những thi sĩ khác ở lối dùng chữ này. Có thể xem đây là một cái rất riêng, hay nói một cách khác, đây một “thương hiệu” của Phạm Hồng Ân. Là thi sĩ, ai cũng mong làm được điều này.

Nếu ví đây là đường kiếm, thì đích thị đó là những đường kiếm đẹp, khiến người đối diện và người xem nhớ đời. Trong nhiều bài thơ như thế, tôi rất tâm đắc với chữ này của ông. Nhớ, ngày xưa trong truyện Kim Dung, Lệnh Hồ Xung đã học được chiêu thức có tên “Độc Cô Cửu Kiếm” từ lão tiền bối Phong Thanh Dương. LHX chỉ sử dụng nó trong những tình huống nguy hiểm nhất thời chứ không dùng mọi nơi, mọi lúc. Không phải chỉ vì nó là bảo bối, mà bởi sử dụng nhiều, độc chiêu ấy sẽ không còn cái ngạc nhiên đủ hớp hồn người đối diện hay đối thủ. Trong ý nghĩ đó, tôi muốn ông tiết chế điều này trong “thương hiệu” của mình.

Phạm Hồng Ân viết nhiều thể loại. Tuy nhiên, tôi thích cái cổ điển ở lục bát và cái hiển lộng ở thể thơ bảy chữ hoặc tám chữ của ông. Cá nhân tôi không mặn mà với thể loại lục bát được ông cách tân bằng cách ngắt dòng rất nhiều lần, nhiều lượt, có khi đọc rất “khó”. Ở lục bát của ông, thời thập niên 1960, 1970, có những bài mang âm hưởng của Huy Cận, của Nguyễn Bính. Tuy vậy, phần lớn những bài thơ sau này, từ khi ra tù, ông đã đi con đường tự chọn bằng tứ thơ và hình ảnh của riêng mình, của người lính hải quân đầy mộng mơ mà cũng đầy nghĩa khí ở thuở thanh niên và bằn bặt nỗi nhớ nhà ở những ngày tháng làm một lưu dân.

Thơ Phạm Hồng Ân không có cái cảm giác của cắt đôi Nhật Nguyệt, chia hai sông núi, làm ngỡ ngàng người đọc ở những hình ảnh tinh quái hay cái tuôn trào của nham thạch. Thơ của ông đi vào lòng người đọc bằng con đường khác: nhẹ nhàng nhưng râm rỉ, thấm từ từ nhưng đầy thấu hiểu và cảm thông được gởi đi từ một trái tim đầy mẩn cảm với đời.

Chiến-đỉnh-thi-ca của người lính hải quân Phạm Hồng Ân trải dài trên năm mươi năm khởi đi từ dòng sông nhỏ, hòa vào sông cái, rồi tăng tốc đi ra biển lớn. Ở đó, trên mỗi khoang đều chứa đựng đầy ắp những ân tình. Nếu xem mỗi bài thơ như một trang kinh, thì chiến-đỉnh-thi-ca của Phạm Hồng Ân chuyên chở những trang kinh thấm đậm tình người dù qua bao dâu bể của cuộc đời, để chứng nghiệm rằng khi đến với đời bằng tấm chân tình thì cái tình đó là mãi mãi bất diệt dù sống nơi đâu trên quả địa cầu này.

Đoàn Nhã Văn

6/2024

Bài Mới Nhất
Search