Nguyễn Quynh: NHỮNG ĐƯỜNG PHỐ SÀI GÒN

Nhà thờ Thánh Jeanne d’Arc (tọa lạc ở Ngã Sáu Chợ Lớn). Tranh: Daniel Ansel Tingcungco

(Nguồn: saigoneer.com)

“Người ta có thể chiếm một thành phố trong ba ngày, nhưng để đổi được tên gọi của nó trong tâm trí người dân, cần ba thế hệ.”

– Trích lời của một nhà địa danh học không tên, khắc sau một quán cà phê cũ ở đường Trương Minh Giảng (nay là Lê Văn Sỹ)

Người mất tên thì thành vong. Đất mất tên thì thành chỗ trọ. Nhưng có những cái tên khi bị đổi, không ngủ yên, mà hóa thành linh hồn vất vưởng, lang thang trong từng viên gạch lát vỉa hè.

Có bao giờ người đứng ở giữa ngã tư “Đồng Khởi – Lý Tự Trọng” và chợt thấy lòng mình dội lại những tiếng gọi xa xưa: rue Catinat, Gia Long, Tự Do…?

Có bao giờ người đi ngang “Cầu Kho”, “Cầu Ông Lãnh” hay “Cống Quỳnh” và hỏi: Ai là ông Lãnh? Kho nào từng chất đầy mồ hôi người khổ?

Đó chính là lúc cái tên không còn là một tấm bảng, nó hoá thành mảnh hồn địa dư. Một lời gọi vọng về của người đã mất. Một vết sẹo còn nguyên trên da thịt Sài Gòn.

Trong những thành phố cổ trên thế giới, việc đặt tên đường, tên khu phố, tên chợ là nghi lễ của ký ức, một cách ban phát bất tử cho những người xứng đáng, và một phương tiện để định vị lịch sử. Nhưng riêng Sài Gòn, cái thành phố lạ lùng này, nó được dựng nên không bởi một ông vua, mà bởi dòng lưu dân đi khai hoang với bàn tay lấm đất, bằng những người vác rựa mở rừng và dựng chợ trước khi dựng cột cờ.

Vậy nên, cái cách người Sài Gòn đặt tên địa danh cũng không giống ai. Không giống kinh thành Huế với Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh. Không giống đất Bắc với Hồ Tây, Thăng Long, Bạch Đằng mỗi tên là một lớp gấm vóc. Mà ở đây, tên được rút ra từ mồ hôi, máu, bùn, nước mắm, vỏ chuối, và lời rao bán hàng.

Họ đặt tên “Cầu Muối” vì có kho muối dưới chân cầu. “Xóm Củi” vì dân chuyên buôn củi. “Bà Chiểu” là tên một người phụ nữ buôn thúng bán mẹt đã nổi danh cả vùng. “Xóm Gà”, “Ngã Sáu”, “Bến Thành”, “Xóm Đèn”, “Xóm Gà… tên nghe quê kệch nhưng sống hoài không chết, vì nó gắn với dân.

Tên đường, tên chợ, tên xóm không phải để vinh danh người đã chết mà để chỉ cho người sống nhớ đường về nhà. Và vì nó là ký ức tập thể chứ không phải mệnh lệnh triều đình, nên cái tên ở Sài Gòn có khi mạnh hơn cả pháp lệnh, dai hơn cả cách mạng.

Năm ấy, sau 1975, một làn sóng “cải danh” ào đến Sài Gòn như một trận lũ. Hàng trăm tên đường cũ bị đổi, từ Pháp thuộc, đến Cộng hòa, đến cả những tên dân gian truyền miệng cũng bị thay bằng những cái tên “đỏ rực”.

Tự Do – cái tên ai cũng nhớ – bị thay bằng “Đồng Khởi”. Công Lý – cái tên nghe vừa vững chãi vừa nhân bản – bị thay bằng “Nam Kỳ Khởi Nghĩa”. Gia Long bị xóa, thay vào là Lý Tự Trọng. Chợ Đũi bị lấp, thay vào đó là khái niệm “Phường 8, Quận 3”.

Dĩ nhiên, người ta có quyền đặt lại tên gọi, như cách hoàng đế Tần Thủy Hoàng từng đốt sách, chôn nho, chia lại thiên hạ theo quẻ bói. Nhưng cái lạ là, người dân Sài Gòn không chịu đổi theo.

40 năm sau, người vẫn gọi: “Ghé đường Tự Do không?”, “Tôi ở gần nhà thờ Đức Bà, đường Công Lý”, “Cô Bảy bán bánh căn ngay xéo Hồng Thập Tự đó chớ đâu”…

Không ai nói “Đồng Khởi – Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Nguyễn Thị Minh Khai”. Họ nói theo những gì linh hồn họ nhớ, chứ không theo bản đồ.

Cái tên – hóa ra – là lãnh địa cuối cùng của ký ức mà chính trị không thể chiếm đóng.

Bản đồ hành chính của Sài Gòn qua ba thời kỳ:

Pháp – Cộng hòa – Xã hội chủ nghĩa. Khi đối chiếu ba lớp tên, điều khiến ngta rợn người không phải là sự khác biệt, mà là sự trôi giạt của linh hồn đô thị.

Ví như:

“Cầu Ông Lãnh” là tên một viên quan thời Gia Long, người có công đào kênh dẫn nước về vùng Bến Nghé.

“Thị Nghè” là tên của một người đàn bà chèo đò, bà Nghè, mà dân vùng Thị Bình kính trọng như thần hộ đò.

“Chợ Đũi” là khu buôn bán vải thô, nơi tụ hội của bao gia đình thợ dệt người Việt gốc Hoa từ đời Minh Hương.

Vậy nhưng ngày nay, bảng tên không còn ghi những cái tên đó. Nhưng linh hồn thì vẫn còn. Cái tên không được khắc trên bảng nhưng được thắp trong miệng người, trên tấm vé xe ôm, trong lời rao bánh mì, trên gói chè đậu.

Có nhà nghiên cứu gọi hiện tượng này là “di sản kháng cự” tức là, khi người dân không chấp nhận một cái tên do nn đặt, họ dùng cách nói riêng để bảo tồn tên cũ. Và cái tên ấy, khi được nhắc đi nhắc lại nhiều đời, biến thành huyền thoại.

Người xưa khi lập ấp khai hoang, thường dùng “phong thủy” để đặt tên. Họ tin cái tên sẽ “ấn” vào vận số vùng đất đó.

Chỗ nào muốn yên ổn, đặt là “An Lạc”, “Tân Phú”. Chỗ nào có nhiều sấm sét, gọi là “Phú Thọ Hòa” (phúc lộc giữ hòa). Có chỗ đặt là “Lò Gốm” – nơi từng cháy, nên dùng tên gọi trực tiếp để… trị hỏa.

Người Hoa khi lập bang ở Chợ Lớn cũng đặt tên theo thuật lý số: “Nghĩa Hòa Đường”, “Tam Hợp”, “Minh Tân”, “Quảng Đông Hội Quán…,vì tin rằng cái tên là khiên chắn vận mệnh.

Vậy nên, khi thay tên vô tội vạ, là vô tình bẻ gãy pháp ấn địa linh, làm lệch long mạch văn hóa. Đặt tên không phải cứ “cách mạng hóa” là tốt, mà phải thấu hiểu

Sách xưa như Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820) chép lại: “Sài Gòn” xưa gọi là “Bến Nghé” vì có nhiều trâu nước kêu “nghé ọ” giữa những bãi bùn mênh mông.

Tổ tiên ta, vốn là dân lưu tán từ Đàng Ngoài, từ miền Trung theo dòng người khai hoang Nam Tiến, khi đến đất này thấy sình lầy, rạch chằng, nước mặn nước lợ lẫn nhau… Họ không lập đình làng trước, không lập miếu trước như ngoài Bắc, mà lập chợ.

Vì sao? Vì họ là dân buôn gạo, buôn muối, buôn ghe. Họ không có vua. Họ chỉ có bạn hàng.

Vậy nên, những cái tên như Chợ Quán, Chợ Cầu, Chợ Lớn, Chợ Đũi, Chợ Mới không phải là danh xưng tạm bợ, nó chính là tên gốc của vùng đất đó.

Từ đó sinh ra khái niệm “địa danh bình dân”: tên của xóm, tên của chợ, tên của cầu, tên của cây chứ không phải tên của tướng tá vua quan.

“Cây Gõ”, “Cầu Bông”, “Cầu Sắt”, “Ngã Sáu”, “Ngã Tư Hàng Xanh”, “Ngã Bảy Lý Thái Tổ”, “Bà Quẹo”… đều là những tên gọi xuất hiện từ trong dân gian. Dân đặt tên không cần biên bản – vì họ lấy từ chính công việc, cảnh quan, người quen:

“Bà Quẹo” là một mệ già buôn bán giỏi, ngã ba đó ai cũng quẹo ngang hàng bả. Vậy là tên “Bà Quẹo” sống đến nay.

“Ngã Bảy” không cần bản đồ nào chứng nhận, chỉ cần đứng ở đó – ta sẽ thấy 7 con đường như rễ bạch đàn xòe ra từ một gốc.

“Xóm Chiếu”, nơi có một ông thầy đồ khắc chiếu, in chữ nôm lên chiếu trải ngồi học. Về sau dân làm chiếu tụ họp về, và thành tên xóm.

Điều đó cho thấy, người dân bình thường mới là người đặt nền móng đầu tiên cho hệ thống địa danh Sài Gòn. Không phải chính phủ, cũng không phải học giả. Và những cái tên ấy vì ra đời từ máu thịt, nên sống mãi như rễ cây ăn sâu vào lòng đất.

Khi Pháp đặt chân lên đất Nam Kỳ, họ buộc phải lập hệ thống bản đồ hành chính để kiểm soát. Đó là lúc các tên gọi dân gian được ghi chép lại theo cách của người Pháp, phiên âm, cải biên, và đặt mới.

Ví dụ:

“Bến Nghé” được ghi thành Ben Nghe, sau chuyển thành Saigon.

“Gia Định” (vùng phủ xưa) được gom vào thành Préfecture de Gia-Dinh – nhưng về sau bị rút gọn chỉ còn là “Chợ Lớn” – do nơi đây sầm uất.

Những khu hành chính được chia lô như kiểu Paris: rue Catinat (Tự Do), rue Bonard (Lê Lợi), avenue Norodom (Thống Nhất).

Tuy nhiên, người Pháp – dù cai trị – không xóa bỏ các tên dân gian. Họ chỉ áp lớp tên hành chính lên, song song với cái tên dân đã quen. Cho nên thời đó, người đi mua hàng nói: “Ra chợ Cầu Muối”, chứ không ai nói “ra đại lộ Albert 1er”.

Đây là điểm then chốt, Pháp thuộc không xóa tên cũ – mà giữ lại để quản lý. Chính điều đó khiến hệ thống địa danh dân gian tồn tại sau hàng trăm năm. Cái tên không bị giết chết– mà chỉ “nằm dưới lớp áo khác.

Khi chuyển qua chính thể Đệ Nhất rồi Đệ Nhị Cộng Hòa (1955–1975), chính quyền Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu Việt hóa tên đường theo tinh thần dân tộc chủ nghĩa.

Các tên Pháp bị thay bằng tên vua, tướng, chí sĩ:

rue Catinat thành Tự Do

rue Norodom thành Thống Nhất

rue Paul Blanchy thành Hai Bà Trưng

rue Lagrandière thành Gia Long

rue d’Espagne thành Lê Lợi

Tuy nhiên, điều khác biệt là: VNCH khi đặt tên vẫn giữ nguyên phần “hồn” đô thị. Họ không đổi “Cầu Muối”, “Cầu Kho”, “Ngã Bảy”, “Ngã Sáu”, “Bà Chiểu” – những cái tên dân gian ấy được bảo tồn trong hệ thống địa danh chính thức.

Người xưa kể: Ngô Đình Diệm từng cho lập Ủy ban địa danh Sài Gòn, mời các học giả như Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê tham vấn để giữ lại tinh thần phương Nam.

Kết quả là gì?

Một hệ thống tên đường giàu chất lịch sử nhưng không xa lạ với dân gian.

Sự xuất hiện của những con đường như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Quý Cáp, Trương Minh Giảng, Hồng Thập Tự, Công Lý, Hiền Vương…

Và trên hết, người dân vẫn được quyền gọi tên xóm, tên cầu, tên bến như cũ. Không ai bị ép “học lại bản đồ”.

Đó là thời kỳ hiếm hoi tên gọi được dung hòa giữa “chính trị” và “ký ức nhân dân”.

Sau ngày 30/4/1975, người ta tiến hành một cuộc cải tên toàn diện. Không chỉ đổi tên nước (từ Việt Nam Cộng Hòa thành CHXHCN Việt Nam), mà đổi tên thành phố (từ Sài Gòn thành TP.HCM), và kéo theo đó là một làn sóng “xóa trắng” tên đường.

Tất cả những cái tên mang tính “cũ”, “tiểu tư sản”, “phản động”, “tàn dư” đều bị xóa. Cả những tên vua chúa như Gia Long, Hiền Vương, cả những từ mang tính khái niệm như Tự Do, Công Lý, Thống Nhất – cũng bị thay bằng:

Lý Tự Trọng

Cách Mạng Tháng Tám

Nam Kỳ Khởi Nghĩa

Trần Phú, Dương Bá Trạc, Phạm Văn Hai, Phan Xích Long…

Vấn đề là: cái tên mới – dù đúng chtrị – nhưng không nằm trong trí nhớ dân gian. Nó không “sống được”.

Dân Sài Gòn vẫn nói:

“Cà phê Công Lý nhen em!”

“Nhà tao ở góc Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt nè!”

“Tụi bây nhớ không? Đường Tự Do hồi xưa có rạp Casino Dakao đó!”

Những lời ấy nói hoài không dứt – chính là hình thức kháng cự âm thầm của ký ức. Cái tên trên bảng có thể bị gỡ, nhưng cái tên trong lòng người không ai xóa nổi.

Cụ Sơn Nam, người được mệnh danh là “ông già Nam Bộ” từng nói:

“Muốn hiểu Sài Gòn – không cần đọc sử ký – cứ đứng nghe người ta gọi tên chỗ hẹn. Tên đó cho biết: ai từng sống ở đó, làm gì, buôn bán gì, và ai từng chết ở đó.”

Và thật vậy. Địa danh không chỉ để chỉ đường, nó là tấm bản đồ tâm linh, ghi khắc mồ hôi, máu, tiếng cười, và nước mắt của bao lớp người đã đi qua.

Nguyễn Quynh

*Đề bài do TVBH đặt.

**Bài do CTV/TVBH gởi.

Bài Mới Nhất
Search