Tôi không gọi ông là nhà văn, vì ông còn là nhà thơ, nhà họa, nhà dịch thuật.
Tôi biết ông qua một sự kiện văn học, là ông bị “chôm” bản quyền một tác phẩm văn chương, tập bút ký “TRONG CUỘC ĐAO BINH” và tôi muốn làm hiệp sĩ, người hùng, cứu mỹ nhân= tác phẩm văn học.
Tôi muốn đòi quyền lợi cho ông, cũng là muốn làm sạch không khí văn chương lưu vong.
Là một người lính muộn màng, của một cuộc chiến dai dẳng, nói như ngôn ngữ của các vị thượng sĩ già của đại đội: Thời gian mày đi lính, không bằng thời gian tao đau bệnh lậu.
Là một người lính xuất quân từ ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, ra trường, trên hai vai, hai cái quai chảo, làm trung đội trưởng trừ 16 người lính, trong khi, nếu cọng, là 44 người.
Nơi ông đóng quân, là vùng nước nỗi, có phù sa, quê hương của hai nhà thơ, mới ra lò, nhưng đầu ấm từ muôn xưa: Nguyễn Cẩm Thy, Phạm Kim Nhung, mà ngòi bút tôi, cầm lòng không đậu, trước tài hoa của họ, buộc lòng, tôi phải phóng…..bút.
Vì là quan mới tò te, không đủ tiêu chuẩn ra Bắc, 5, 10 năm, ông chỉ nếm mùi xã nghĩa vẹm cọng, một tuần tại địa phương.
Lui về trong cô đơn, quạnh quẽ, trời, tình thương mến thương, cho ông một lô độc đắc, là một bà vợ người Hoa, Đài Loan/dân chủ, not Bắc Kinh/cọng sản.
Điều tôi muốn nói là,
Nhờ hấp thụ nền giáo dục VNCH: Dân tộc, Nhân bản, Khai phóng, lại là ban C, văn chương, nên ông là một tay English số MỘT (viết Hoa) và một tay văn chương, số hai (không viết hoa).
Trong bóng tối điện cúp, trong cái nóng nung người nóng nóng ghê, cùng giàn đồng ca, của ban hợp xướng, là muỗi, người lính trung niên viết văn làm thơ, vẽ, dịch thuật, trả bài cho lô độc đắc, người vợ gốc Đài Loan, nhưng ông vẫn miệt mài vung bút.
Nghĩ thế, là vậy, tôi không xung máu hiệp sĩ, sao đặng.
Nhưng tôi thất bại, nói rộng ra, như nhân dân tôi thất bại, trước cọng sản.
Hình như nay là thời của hầm bà lằng xằng.
Tiếng nói của lẽ phải, sự thật, chẳng ai, góp vào một tiếng nói, gộp thêm, một âm vang.
Đó là một trong nhiều lý do, tới nay, độc tài cộng sản còn tồn tại.
Trở lại với ông cầm bút, điếc không sợ súng.
Ông viết văn, làm thơ, là chuyện đương nhiên.
Dân ban C, mà.
Ông không viết văn, không làm thơ, mới là chuyện, đáng được “thưởng” vài trăm hèo, roi, vọt, đầm, đá, vì làm mất mặt bầu, cua, cá, cọp, của trường phái ban C, thế giới văn chương, trùng dương ngút ngàn trò chơi, những chữ và chữ.
Ban C, văn chương, những trái tim nhân loại.
Chúng, ban C, văn chương, thay mặt nhân loại, nói tiếng nói của nhân loại, về nỗi đau trăm họ.
Chúng, ban C, văn chương, chỉ có chúng, là nỗi sợ hãi của những tay bạo chúa, độc tài.
Chúng, ban C, văn chương, chỉ có chúng, mới nhốt những kẻ bạo chúa, những nhà độc tài, vào, những nhà lao, lịch sử.
Bên cạnh đó, không loại trừ, bọn chúng, ban C, văn chương, là niềm vui, của những bà góa phụ cô đơn, là những người tình mặn nồng, sung độ, của các nàng tiểu thư, xe đời mới đếm không ngạ, những tờ xanh, có hình ông FRANKLIN, làm gối hay lót mông.
Không thể không nói tới, chúng nó, ban C, văn chương, còn là bạn nhậu, %%%, của những tay, lưu ly, xem rượu như nước sông Thạch hãn, con sông quê hương, của Khùng thi sĩ.
Hắn, Nguyễn hữu Thời, tay cầm bút, điếc không sợ súng, với tôi, viết văn, là chuyện nhỏ, làm thơ là chuyện vừa, vẽ bút chì, là vứt.
Với tôi, với cái tên cầm bút, điếc không sợ súng, NHT, làm tôi sợ, muôn niên, thiên thu, dài lâu, là:
Ăn bo bo, uống nước máy công cọng, mình trần, mồ hôi ướt đầm, đôi lúc, nhịn tè, nhịn ấy, đọc và đọc, tìm và tìm, sưu và tập, để có được 300 bài thơ của 80, những nhà thơ chiến hữu, tìm trong đủ các loại tạp chí, các đặc san, tuần báo, trong hoàn cảnh, nền văn chương ấy, bị bên phe xâm lăng, liệt vào danh sách văn chương phản động và đồi trụy:
Bùi Khiết, Bùi nghi Trang, Chu Trầm Nguyên Minh, Chu vương Miện, Chinh Yên, Chuẩn Nghi, Dã Nhân, Dư Mỹ, Đăng Nguyên, Đức Phổ, Hà Huyền Chi, Hà thúc Sinh, Hồ minh Dũng, Hà nguyên Bích, Hoài dzang Duy, Hoàng Lộc, Hạ quốc Huy, Hoàng yên Trung, Huy Lực, Huy Uyên, Hoa Nguyên, Huỳnh hữu Võ, Huỳnh kim Sơn, Huỳnh Ngọc Thương, Khoa Hữu, Lê công Sinh, Lê nguyên Ngữ, Lê mai Lĩnh, Lâm hảo Dũng, Lâm Chương, Luân Hoán, Lữ Quỳnh, Ngô đa Thiện, Nguyễn cát Đông, Nguyễn dương Quang, Nguyễn đông Giang, Nguyễn đăng Trình, Nguyễn hữu Thời, Nguyễn hữu Thụy, Nguyễn nam An, Nguyễn Ngọc Nghĩa, Nguyễn hữu Nghĩa, Nguyễn Phan Thịnh, Nguyễn sinh Từ, Nguyễn tiến Cũng, Nguyễn thành Xuân, Nguyễn Tư, Nguyễn văn Ngọc, Như Không, Phương Tấn, Phạm quang Ngọc, Phạm văn Bình, Phạm ngũ Yên, Phan nhự Thức, Phan ni Tấn, Phan Xuân Sinh, Quan Dương, Thái Tú Hạp, Thiếu Khanh, Tô nhược Châu, Từ thế Mộng, Thy lan Thảo, Trang Châu, Trần dzạ Lữ, Trần đắc Thắng, Trần đình Thao, Trần Hoài Thư, Thạch Gầm, Trần nho Bụi, Trần Ngọc Thạch, Trần thanh Quang, Trần văn Sơn, Trần vấn Lệ, Trần Yên Hoà, Vũ Hùng, Vũ Thúy Thụy Ca, Yên Bằng, Ý Yên.
Tổng cộng 79 nhà thơ trong quân đội VNCH.
Một mình, trong điều kiện sống, làm việc, như tôi đã nói trên, anh sưu tầm 300 bài thơ của 79 nhà thơ lính, dịch sang tiếng Anh, tập hợp trong hai tác phẩm văn chương, xuất bản tại Hải ngoại, góp phần làm phong phú thêm, văn chương lưu vong nói riêng, văn học nước Nam, nói chung, thời hậu cọng:
- ARVN SOLDIERS POETRY.
(thơ lính chiến miền Nam)
- POEMS OF THE LOSERS.
( thơ của những người thua cuộc)
Trong thân phận người lính thua cuộc, giữa một nước non bao phủ bởi những đoạ đày, lầm than, không có lương thực cho tinh thần (tự do, dân chủ), không có đủ thực phẩm nuôi dưỡng con người, nhưng người lính cầm bút, gốc lính, đúng như hiện thực được gọi, là một tay chơi văn chương, điếc, không sợ súng.
Ông, như những tên cowboy hai súng khác (viết + súng), vẫn nghĩ mình hiện diện dưới cờ, chưa bỏ ngũ, không phản bội quê hương và anh em.
Chỉ như thế, cùng với lòng Tự tin, Bản lĩnh, Kiên nhẫn và Kiêu hãnh, ông mới vượt qua, bỏ lại phía sau, những gập ghềnh, gai lữa, của một giai đoạn lịch sử cam go, thử thách.
Với tôi, ông đã là một kẻ Chiến thắng.
Với tôi, trước cuộc đời, ông đã có thể kiêu hãnh.
Với tôi, với vợ con ông, ông đã là, một người chồng, người cha, tạo được niềm vinh dự cho gia đình.
Với tôi, tôi mong có ngày trúng số, hay có ngày, có người nào đó, chán đếm tiền hay nhìn tiền, họ cho, tặng, bố thí tôi, một món tiền khăm khẳm, tôi sẽ trao lại, người cầm bút, điếc không sợ súng, cũng khăm khẳm, một phần thưởng văn chương, cho TOÀN Bộ SỰ NGHIỆP.
Ai? Ai? Ai?
Là người sẽ, trao, tặng, cho, bố thí tôi, món tiền khăm khẳm?
Xin nhớ rằng,
Tiền, không làm mình bất tử.
Nhưng dùng tiền, cho những vận động văn học, giúp mình, sống mãi với thiên thu.
Amen.
Lê Mai Lĩnh
