GIỚI THIỆU: HOÀNG HƯNG & VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC”
PHẦN I
HỒI ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN
“VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (4)
6 THÁNG TRONG HOẢ LÒ (TT)
Đó là nói về đời sống tinh thần của tôi ở Hoả Lò.
Còn về đời sống vật chất, thì khổ là tất nhiên. Có điều tôi vốn dĩ là kẻ rất ít quan tâm đến tiện nghi vật chất, quen sống khổ, nên không thấy có gì ghê gớm. Đặc biệt là chuyện ăn uống. Nhớ từ thuở nhỏ, không hiểu sao bữa cơm có thịt tôi chỉ ăn một hai miếng là thấy ngán! Thời học đại học, bữa cơm có miếng “mì nắp hầm” (bột mì nặn thành miếng bánh tròn và dẹp như nắp hầm “tăng xê” tránh máy bay, không có men, luộc lên cứng như đá), chút canh rau lều bều váng mỡ; những tối đói bụng thì ra cổng trường mua củ khoai, củ sắn luộc ăn thêm; cuối tuần thì rủ nhau ra cửa hàng thực phẩm quốc doanh mua một rổ rau xanh các loại, hôm nào sang thì mua vài bộ gan mề lợn (món “protein” duy nhất được mua tự do) về luộc lên chấm nước muối pha tý nước mắm xì xụp húp húp nhai nhai gọi là bữa “cải thiện”. Thời dạy học trong chiến tranh, cơm tập thể ở trường chỉ có hai lưng cơm độn mì sợi, 1 con tôm kho mặn nhỏ bằng ngón tay út, cũng bát canh rau muống lều bều vài ngọn, menu kéo dài suốt 8 năm hầu như không đổi. Cho nên cơm tù tôi cũng chóng quen: cũng cơm độn mì (chỉ kém cái là cơm gạo hẩm hôi xì), bát canh nhỏ cũng lều bều vài ngọn băm nhỏ như rau lợn, thức ăn mặn hầu như một tháng có vài miếng thịt mỡ bèo nhèo. Bù vào đó là muối vừng, lạc rang, ruốc thịt gia đình gửi cho mỗi tháng một lần chia ra ăn dần. Vợ tôi từ Sài Gòn gửi tiền nhờ chị ruột tôi là chị Bích và anh rể của vợ tôi là anh Nam thay nhau đi “tắc”. Tôi nhớ thời gian ấy tôi chỉ thèm nhất là chanh tươi! Sau lần vợ tôi ra Hà Nội đi chợ mua đồ tiếp tế, được cô ruột người bạn học thân từ cấp 2 là Uông Đình Mỹ bán hàng ở chợ Hàng Da (tôi cứ quen gọi là “cô Mỹ”) khuyên nên mua chanh cho tôi (không hiểu sao cô biết người tù rất cần thứ đó, vì thiếu vitamin C trầm trọng), gia đình mới biết.
Cực nhất ở Hoả Lò lại là thiếu nước sinh hoạt. Mỗi sáng ra sân vệ sinh, người tù được tiêu chuẩn 1 bát con nước rửa mặt và đánh răng. Còn người ngợm thì mặc! Một tháng mới được một lần “tắm trâu”. Có một phòng tắm chung, giữa phòng là cái bể nước to đùng. Tù nhân xếp hàng đi vòng quanh bể. Hai “tự giác” lội trong bể, cái gầu nước trong tay; mỗi tù nhân đi qua chỗ “tự giác” sẽ được dội một gầu nước vào đầu, cứ thế vừa đi tiếp vừa gãi đầu và kỳ cọ người, đi 3 vòng được 3 gầu là hết lượt. Tôi nhớ mãi những buổi “tắm trâu” trong mùa đông, cái rét rùng hết mình khi nước lạnh dội vào, nhưng vẫn sung sướng vì lâu ngày bẩn thỉu ngứa ngáy do rận rệp!
Nghe tù cũ ở đây kể mới biết: Hệ thống nước được thế này cũng là mới cải thiện, do Giám thị trưởng trại giam có con trai phạm tội gì đấy bị nhốt vào đây, khi ra tù kể về tình trạng thiếu nước khốn khổ của người tù! Trời! Không biết trước khi được “cải thiện” thì ra sao???
Tôi được mấy tay anh chị coi “tù là nhà, tạm tha là nghỉ phép” kể cho nghe về những cực khổ của đời tù Hoả Lò trước đó vài năm; có những người tù đã chết đói trong phòng giam này, như một anh người Tàu cao lớn bị nghi là “gián điệp” trong thời Tàu Cộng tấn công các tỉnh biên giới (1979-1980). Tôi đã vụt ra bài thơ khi nghe câu chuyện ấy:
Cái chết
Những con rận đã bỏ anh đi hết
.
Anh chết
Trong đêm
Miệng trắng thuốc đánh răng
.
Đã bảo mãi anh rằng
Đói đến mấy cũng đừng ăn thuốc đánh răng
.
Tấm thân thước bảy
Còn miếng giẻ hôi
Cũng là xong nhỉ
Ân oán một đời
.
Những con ruồi bay đến
Một chi tiết mà mấy người tù dày kinh nghiệm cho tôi biết: khi nào rận bỏ đi khỏi thân người tù là chứng tỏ người ấy máu đã lạnh, tức đã chết.
Các buổi “lấy cung”
Sau vài buổi đầu do Trưởng phòng Điều tra xét hỏi Sở Nội vụ (tức Công an) Hà Nội tên Nhạ thẩm vấn, nội dung chung chung về tiểu sử, quan hệ… thì chuyển qua Phòng An ninh Tư tưởng văn hoá của Bộ (A25). Người thẩm vấn chính là Hoàng Phước Thuận, người trợ lý ngồi cùng với Trưởng phòng Khổng Minh Dụ trong quán nhà ông Trần Thiếu Bảo hôm tôi bị bắt.
Anh Thuận người hơi thấp và chắc nịch, “làm việc” khá gắt; mà tôi thì trông hiền lành thế thôi nhưng thực ra là khá… lì.
Anh “làm việc” với tôi đến mấy buổi, chủ yếu là bắt tôi khai những mối quan hệ “phức tạp” với các văn nghệ sĩ trong nước và hải ngoại (miền Nam di tản, vượt biên) nhưng vẫn không có được những “thông tin” mà anh ấy mong muốn, nên một hôm anh ấy tỏ ra bực bội!
Anh nói: “Anh có nghe ở các phòng bên, cán bộ quát tháo phạm nhân thế nào không, trong khi tôi vẫn đối xử tử tế với anh. Còn để cho anh bắt chân chữ ngũ thế kia! Thế mà anh không hợp tác!”
Tôi đáp: “Cán bộ [những buổi “đi cung” đầu tiên tôi quen miệng gọi người thẩm vấn là “anh”, liền được chấn chỉnh ngay, bắt gọi là “cán bộ”] không bằng lòng thì tôi bỏ chân xuống!”
Anh không nén được giận, đập bàn đánh xầm!
Tôi nghiêm mặt: “Cán bộ đừng đập bàn! Tôi đau đầu, tôi không “làm việc” nữa!”
Không chịu được nữa, anh bỏ ra ngoài và sập cửa cái rầm!
Đại khái những buổi “lấy cung” cứ như thế, không đi đến đâu hết!
Một nội dung quan trọng trong các buổi thẩm vấn là ép tôi công nhận tập thơ VKB của Hoàng Cầm có nội dung “phản động”. Tôi dứt khoát trả lời không thấy nó “phản động” gì hết.
Xin mời quí bạn đọc tham khảo bài thơ được xem là “phản động” tiêu biểu trong tập VKB, cũng là bài nổi tiếng nhất của đời thơ Hoàng Cầm (sau bài “Bên kia sông Đuống” viết trong kháng chiến chống Pháp) chính vì nó gắn với vụ án VKB! Đã có 3 ca khúc liên quan đến bài thơ này, 2 bản phổ nhạc cả bài thơ là của Phạm Duy, Hữu Xuân, 1 bản là ca khúc nổi tiếng “Sao em nỡ vội lấy chồng” của Trần Tiến đã lấy cảm hứng và dựa theo một câu thơ trong đó “…Ru em thời thiếu nữ kiêu sa, em đố ai tìm được lá diêu bông, em xin lấy làm chồng”.
Lá Diêu bông
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều
Cuống rạ
.
Chị bảo
Đứa nào tìm được lá Diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng
.
Hai ngày Em tìm thấy lá
Chị chau mày
Đâu phải lá Diêu bông
.
Mùa đông sau Em tìm thấy lá
Chị lắc đầu
trông nắng vãn bên sông
.
Ngày cưới Chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim
.
Chị ba con
Em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt Chị không nhìn
.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời…
… ới Diêu bông…!
Trong những ấn phẩm đã xuất bản sau “Đổi mới”, Hoàng Cầm tâm sự rằng bài thơ viết về mối tình “chị-em”đơn phương vô vọng của tác giả lúc 12 tuổi với cô gái cùng làng tên là Vinh 20 tuổi. Nghe nói, năm 1988 Hoàng Cầm vào SG lần đầu tiên sau khi ra tù, bà Vinh có đến dự đêm Thơ Hoàng Cầm ở Nhà Văn hoá Quận 1 nhưng không ai biết (?). Tác giả cũng khẳng định “Diêu bông” là thứ lá huyền thoại mà mình sáng tạo ra.
Có một chi tiết khá thú vị trong bài thơ này: “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng”. Ngay mới đây, một nhà thơ ở Sài Gòn nhắn tin hỏi tôi nghĩa của câu này, và anh tỏ ra không tin khi tôi giải thích: Tác giả tả chiếc váy làng Đình Bảng là “mốt thời trang” của con gái Bắc Ninh xưa, nó “buông chùng” xuống hai bên giống như cái “cửa võng” (thứ rèm che bằng gỗ trên ban thờ ở đình, chùa hay nhà thờ tổ…)! Sau khi tác giả bị bắt, đã có lời xì xầm rằng: ông bị “thánh” phạt chính vì sự ví von báng bổ trong câu thơ trên!!!
Sau “Đổi mới”, khi giới thiệu chùm thơ này trên báo Lao Động năm 1991, tôi đã viết:
“… Đến hôm nay, thoát khỏi mọi vướng víu thời cuộc, bộ ba cây-lá-quả vẫn cứ ngây ngây men erotic của những ẩn ức ấu thơ sực mùi ổ rơm tóc ấm trộn với một liều lượng đắng cay của tuổi trẻ thất vọng đượm một nỗi u ẩn thế sự, vẫn nguyên sức cám dỗ của thứ rượu lâu năm nhấp môi thì ngọt, nuốt vào thì đắng, uống rồi thì chuếnh choáng ngậm ngùi”.
Và về ý nghĩa của cái “lá diêu bông”: “Theo tôi, cái tên đã hình thành một cách vô thức từ những liên tưởng do hai âm “diêu” và “bông” gợi lên. “Diêu” gợi nghĩa “phiêu diêu”, “bông” gợi nghĩa “bông lông” hoặc “nhẹ như bông”. Lá Diêu Bông là một cái lá bay phiêu diêu, vô định” (báo Phụ nữ TPHCM, năm 2001).
Đến hôm nay, chắc không ai hình dung nổi một bài thơ như thế “phản động” ở chỗ nào? Thế mà 43 năm trước đây, nó đã khiến 2 nhà thơ một già một trẻ đi tù!!!
Nhưng hồi ấy, có một luồng suy diễn (không biết xuất phát đầu tiên từ an ninh văn hoá VN hay từ hải ngoại truyền về), cho rằng bài thơ ngụ ý: người nghệ sĩ/người dân (em) yêu Đảng (chị); chị vẽ ra một tương lai đẹp đẽ nhưng không có thật (“lá diêu bông” = chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản) để “em” đi tìm; nhưng “em” tìm mãi không thấy, trong khi đó “chị” bỏ đi lấy chồng (Đảng toạ hưởng lạc thú một mình) từ lúc nào! Để cho “em” cứ suốt đời bơ vơ gọi “Diêu bông hời, ới diêu bông!”.
Lối suy diễn này đã thành thói quen đầy ám ảnh ở miền Bắc kể từ khi có cuộc “đấu tranh chống Nhân Văn-Giai Phẩm”, khái niệm “biểu tượng hai mặt” (symbole équivoque) đã được ông Hoài Thanh dùng để “lật tẩy” những tác phẩm mang ẩn ý chống chế độ như “cái bình vôi” của Lê Đạt, “con ngựa già” của Phùng Cung… “Lá diêu bông”, “cây tam cúc”, “quả vườn ổi” trong VKB cũng bị “soi” kiểu ấy!
Tôi nhớ có lần viên sĩ quan điều tra xét hỏi cho tôi biết mấy bài thơ “Cây, lá quả” đã được in bên Pháp với những lời bình mang tính chính trị rõ rệt, đả kích vào sự lãnh đạo của Đảng! Anh kết luận: “Nhưng các anh không thể làm được một vụ Nhân Văn thứ hai đâu!”
Theo sư cô Chân Không ở Làng Mai bên Pháp, chính là người mang danh “Cần Thơ” đã được Hoàng Cầm gửi thư và thơ cho, thì Phạm Duy với lời bình chùm ca khúc “Cầm ca” đã góp phần khiến cho Hoàng Cầm mang vạ!
“Nhưng nhìn kỹ lại tình hình lúc đó, tôi thấy vào khoảng tháng 3 năm 1982 nhạc sĩ Phạm Duy đã cho ra đời hai băng cassettes: 1. Ngục ca, phổ biến 10 bài thơ của Nguyễn Chí Thiện do Phạm Duy phổ nhạc, những bài như: Từ vượn lên người, Từ người xuống vượn, Cái lầm to thế kỷ… 2, (Hoàng) Cầm ca, trong đó có bốn bài thơ của Hoàng Cầm là Lá Diêu Bông, Qua vườn ổi, Cỗ bài tam cúc, Đôi cá đòng đong. Trong băng nhạc này, trước khi Thái Hiền hát, Phạm Duy đã nói tới các bài thơ này như những lời buộc tội chế độ Cộng sản của thi sĩ. Theo Phạm Duy, thi sĩ Hoàng Cầm đã ví Cộng sản như một người chị, một người đàn bà rất xấu mà muốn cho mình có một bộ mặt xinh đẹp nên đã dỗ dành bao nhiêu người em đi tìm cho mình những chiếc lá tô son điểm phấn cho chế độ và hứa hẹn sẽ thưởng khi tìm ra lá Diêu Bông, và dù cho có em nào đã tìm ra lá, cô chị vẫn xoè tay phủ mặt không nhìn. Phạm Duy lại viết trong tác phẩm Ngàn lời ca rằng Lá Diêu Bông là một loại lá đặc biệt ở làng Đình Bảng Bắc Ninh, phụ nữ Việt Nam thời xưa đã vắt nước lá này để bôi lên mặt cho da thịt thêm hồng hào tươi đẹp. Theo Phạm Duy, nhà thơ Hoàng Cầm đã cho rằng không ai có thể làm cho chế độ Cộng sản Việt Nam này tốt đẹp được. Trong khi đó, lời chú giải về Lá Diêu Bông của chính Hoàng Cầm viết cho tôi là: “Còn lá Diêu Bông không thể ai tìm thấy tên trong bất cứ một sách vở tài liệu nào về khoa học tự nhiên. Tự người đọc, nếu yêu thơ sẽ hình dung ra cái lá ấy. Một cái lá anh đặt tên để làm symbole (biểu tượng) thế thôi. Symbole của những mối tình cao đẹp, của những lý tưởng trong sáng, của những gì là Thật, là Lành, là Đẹp vốn có trong mỗi con người. Nhưng rồi cuộc sống lắm khi tàn nhẫn vì xâu xé vật lộn, vì ngu si tham lam nên lắm khi cái lá ấy ở ngay trong mình mà mình không thấy, và đến khi nhận ra thì cuộc đời đã tàn!”
(Hồi ký “Cần Thơ về Kinh Bắc”)
Tôi đã tìm đọc kỹ Hồi ký của Phạm Duy, phần nói về “Hoàng Cầm ca”, tuy có vài ý như trên, nhưng chốt lại, ông nhận định:
“Thế là sau khi quá mệt mỏi với loại ngục ca, tị nạn ca hay tủi nhục ca vì phải lên gân trước thời cuộc, những bài thơ ẩn dụ của Hoàng Cầm mà tôi soạn thành Hoàng Cầm Ca vào đầu thập niên 80 này làm cho tâm hồn tôi lắng xuống. Sau khi thấy dường như đã mất quê hương, tôi bỗng nhiên gặp lại quê hương qua những câu chuyện mà tôi cho là rất kỳ diệu, ảo huyền, lung linh và đầy thi vị…
… Đó là chuyện lá diêu bông, vườn ổi, cỗ bài tam cúc, chuyện tâm tình của những con bê vàng, con chim cu, con chào mào, con phù du, con chim vành khuyên… Quê hương mờ nhạt hay rực rỡ, êm đềm hay chua sót của tôi hiện ra, quả rằng còn quá nhiều cái đẹp, chứ không phải chỉ có ác mộng, ngục tù, hận thù và tuyệt vọng!
Những bài thơ trong tập Đường Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm được phổ nhạc thành Hoàng Cầm Ca vẫn còn buồn rười rượi vì nó phản ảnh một miền của đất nước Việt Nam vào những năm 60-70 nhưng nó chứa đựng quá nhiều hương vị quê hương nên nó là liều thuốc an thần cho bản thân tôi sau khi tôi bị đắm chìm vào không khí chết chóc gây nên bởi thơ Nguyễn Chí Thiện (ngục ca) hay nhạc Hà Thúc Sinh (tủi nhục ca). Tôi cũng nghĩ rằng: là một người luôn luôn có phản ứng trước nghịch cảnh, tôi không nên tự đầy đọa tôi hay khuyến khích người nghe đi vào ngõ bí là sự thù hận, oán ghét, chửi rủa. Chắc chắn Đường Về Kinh Bắc (nghĩa là đường về quê cũ) giúp tôi có một lối thoát”.
Đến một hôm, được gọi ra “làm việc”, nhưng vào phòng thì chẳng có ai. Trên bàn có một xấp giấy có chữ của… Hoàng Cầm. Tôi tò mò giở ra đọc, thì trời ơi! Đó là mười mấy trang tự kiểm điểm của Hoàng Cầm! Nhà thơ thú nhận những bài thơ trong VKB mang tư tưởng chống Đảng, chống chế độ!!! Tôi không tin vào mắt mình! Nhưng rõ ràng là chữ viết tay rất đẹp của Hoàng Cầm như trong tập VKB mà ông đã chép cho tôi!
Đợi đủ thời gian cho tôi đọc xong bản “tự kiểm điểm”, công an đưa tôi về phòng giam. Đến trước cửa sắt ngăn 2 khu thẩm vấn và giam giữ, tôi thấy Hoàng Cầm đang ngồi ủ rũ trên ghế đá. Không nhịn được, tôi xông đến bên ông, hỏi gay gắt: “Anh nhận tội phản động thật à? Sao lại thế?” Hoàng Cầm cúi đầu xuống, không nói gì, từ khóe mắt ông lăn ra những giọt nước mắt. Đến tận hôm nay, nhớ lại những giọt lệ tủi nhục của nhà thơ đàn anh, lòng tôi vẫn còn đau.
Viên công an rõ ràng cố tình làm ngơ để tôi tiếp cận Hoàng Cầm không đầy 1 phút, đủ để ông xác nhận với tôi bản kiểm điểm của mình, rồi mới hô lên: “Hai anh không được nói chuyện” (theo đúng nguyên tắc không bao giờ công an để cho các phạm nhân cùng vụ tiếp xúc, liên lạc, sợ “thông cung”)! Rồi đẩy tôi vào khu giam giữ.
Sau này, Hoàng Cầm kể lại với tôi: ông bị giam vài tháng là không thể chịu đựng được những phản ứng của người nghiện đói thuốc, đặc biệt là bị ỉa chảy liên tục. Đến lúc ấy, công an dỗ dành nếu chịu nhận tội thì sẽ cho về ăn Tết! Thế là ông chấp nhận “nhận tội”. Không những viết thành văn bản, ông còn được đọc bản nhận tội ấy vào máy ghi âm. Vốn là một kịch sĩ và người chuyên ngâm thơ trên đài phát thanh, ông “diễn” đạt đến nỗi công an Nhạ rất khoái chí, khen hết lời và khẳng định ông sẽ được về nhà ăn Tết! Nhưng rồi ông đã không được về như lời hứa, mà bị đưa về Trung tâm thẩm vấn quốc gia (Xà lim Bộ) giống như tôi!
Theo lời Hoàng Cầm thì ông được chính công an cho biết: Đúng thời điểm ấy, Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Pháp có vận động các trí thức Pháp kiến nghị trả tự do cho ông, trong đó có nhà toán học nổi tiếng Laurent Schwartz. Ông Lê Đức Thọ nhận được kiến nghị, trao lại cho Tố Hữu – phó Thủ tướng, người vẫn đặc trách về văn hoá văn nghệ lâu nay. Tố Hữu bực mình gọi công an lên phán: “Nước ngoài can thiệp hả? Thế thì giam thêm 1 năm nữa cho biết!”.
Sau buổi “làm việc” chỉ để đọc bản kiểm điểm của Hoàng Cầm, tôi lại được gọi ra thẩm vấn về nội dung “phản động” của tập thơ VKB! Thì chính tác giả đã nhận sờ sờ kia! Nhưng tôi vẫn không chịu, và hỏi ngược lại: “Nếu nó phản động, vì sao an ninh để nó lưu hành tự do suốt hơn 20 năm – tập thơ hoàn thành về căn bản vào cuối năm 1959 – tính đến hôm nay đã có cả trăm người được ông Hoàng Cầm chép tặng mà không sao, đến lượt tôi lại bị bắt?”. Họ không trả lời được, tất nhiên. Và tôi được để yên khoảng 2 tháng không ai hỏi đến.
Cho đến một hôm, lại được gọi ra. Lần này là đích thân Trưởng phòng An ninh Văn hoá Khổng Minh Dụ. Ông hể hả nói: “Anh lúc nào cũng cãi thơ HC không có gì phản động! Đúng rồi! So với những bài thơ của anh để ở trong Nam, thì thơ anh phản động gấp 100 lần!”
Và ông đọc:
“… Các anh bảo chúng tôi
Đi chiến đấu cho ngày mai tươi đẹp…”
“… Chúng tôi cứ khoanh tay nhắm mắt ngồi nhìn
Sự nặng nề ngu độn của các anh
Cứ chầm chậm dìm con tàu xuống biển”
Trời! Tôi không biết họ lấy đâu ra những đoạn văn vần trong nhật ký của mình từ những năm 1970 ấy!
Lúc ra tù mới được vợ kể cho nghe: Thẩm vấn tôi không có kết quả như ý, công an đã vào Sài Gòn lục soát nhà tôi. Mới biết cãi bướng với công an thật vô cùng nguy hiểm!
Họ lục tung cả nhà mà không thấy gì có thể kết tội tôi! Vì mấy hôm trước, hai người bạn văn thân thiết là Trần Hoài Dương và Nhật Tuấn đã chủ động đến nhà xem kỹ và mang đi hết những sách báo, tài liệu có thể nguy hiểm cho tôi. Nhưng có hai thứ họ tìm ra không ngờ! Một là lá thư của bà chị ruột Hoàng Ngọc Bích gửi vào, cho biết một quan chức cấp cao nói sẽ xem xét để có thể thả tôi ra sau 4 tháng tạm giam nếu không có gì nghiêm trọng! Vợ tôi đã giữ lá thư này như một lá “bùa hộ mệnh” trong cảnh cô đơn đau khổ giữa Sài Gòn rất ít bà con họ hàng để nương tựa! Thế là một lối thoát có thể có đã bị bịt lại! Hai là mươi trang giấy chép lại những đoạn văn vần suy tư về chính trị mà tôi rút từ nhật ký những năm 1970. Các cuốn nhật ký này, khi cưới vợ (đầu 1975), tôi quyết định đốt hết để “giã từ dĩ vãng” làm cuộc đời mới, nhưng lại tiếc rẻ những dòng tâm tư thầm kín về tư tưởng chính trị nên chép lại và cất vào đâu lâu ngày cũng quên mất. Không ngờ, sau 1 ngày lục soát, công an đã tìm thấy trong ngăn kéo tủ áo, chìm dưới đống… túi nilon mà tôi tích trữ phục vụ cho… việc buôn bán phim giấy ảnh!!!
Đời người có những bước ngoặt từ một sự cố ngẫu nhiên như thế! Nhưng trong trường hợp của tôi, đó là cái “ngẫu nhiên tất yếu” hay nôm na là “đi đêm sẽ có ngày gặp ma”!
Tôi đáp lời ông họ Khổng: “Đây là những dòng nhật ký tôi để trong ngăn kéo, không lưu truyền, vì sao lại bắt tội?”
Ông tuyên ráo hoảnh: “Nếu anh lưu truyền thì… đi tù không có ngày về!”
Thế là xong!
Vài tháng sau là Tết!
Những chiều gần Tết, cả phòng như nín thở chờ nghe gọi tên mình… được thả, vì thường lệ dịp này là dịp thả những người tù hết hạn tạm giam mà không bị truy tố ra toà! Tôi cũng hồi hộp, vì đã quá hạn tạm giam 4 tháng, mà lâu không bị gọi ra thẩm vấn nữa!
Nhưng tôi đã được ăn cái Tết đầu tiên trong tù ở Hoả Lò! Cái Tết không để lại ấn tượng nào ngoài vài miếng thịt bèo nhèo và một góc bánh chưng được phát!
Ít ngày sau Tết, tôi được gọi “mang hết “nội vụ” (chỉ có khăn mặt, bàn chải răng, vài món thức ăn được tiếp tế còn sót lại) ra.
Một chiếc xe command car với người áp giải, đưa tôi đi. Anh cán bộ áp giải (hình như tên Tú) nói với tôi, giọng cười cợt: “Anh được về gần nhà đấy!”
Xe chạy ra ngoại thành… vào Trung tâm Thẩm vấn Quốc gia (gọi tắt là “Xà lim Bộ”, bí danh là B14)!
(Còn Tiếp)
