Nguyễn Đông A: SÀI GÒN DƯỚI LỚP SÀI GÒN (Tập Một)

XIN BẤM VÀO ĐÂY (Ấn Bản Việt Ngữ)

Nguyễn Đông A: SÀI GÒN DƯỚI LỚP SÀI GÒN (Tập Một)

XIN BẤM VÀO ĐÂY (Ấn Bản Pháp Ngữ)

Nguyễn Đông A: SÀI GÒN SOUS LES COUCHES DE SÀI GÒN (VOLUME 1)

Nguyễn Đông A

MỞ ĐẦU TẬP 1

Ngày trước, khi viết tùy bút, tôi thường để tư duy trôi theo lối phi tuyến tính. Nghĩ gì viết nấy rồi dùng cách thức liên kết để nối câu chữ lại, bên dưới là một tầng suy tư và cảm xúc ẩn kín. Tôi gọi lối viết ấy là “hỗn văn”. Lối viết ngắn gọn đó khá phù hợp với độc giả Facebook nên từng được nhiều người tìm đọc. Về sau, tôi chuyển hẳn sang tùy bút dài, kết hợp giữa văn chương và khảo cứu. Thỉnh thoảng tôi vẫn đăng những bài viết đó lên mạng xã hội, nhưng không đều, bởi chúng kén người đọc hơn. Dẫu vậy, chúng vẫn có độc giả riêng. Từ đó, đối tượng bạn đọc của tôi cũng dần thay đổi, từ số đông phổ biến sang một lớp độc giả chọn lọc hơn.

Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ viết cho giới nghiên cứu. Tôi không theo lối bác học với những trang sách dày đặc thuật ngữ, chú giải và trích dẫn, vì tin rằng một công trình dù giá trị đến đâu cũng khó đến được với đông đảo người đọc nếu chỉ dành cho học giả. Điều tôi hướng tới là những cuốn sách mà người đọc phổ thông, chỉ cần có trình độ học vấn trung bình khá, vẫn có thể cầm lên đọc, hiểu và thấy hứng thú.

Từ những bài viết theo hướng ấy, tôi đã tuyển chọn thành năm cuốn sách. “Hồn phách núi sông” viết về miền Đông. “Cánh cò sông nước” gồm hai tập viết về miền Tây. Trong đó tập 1 thiên về lịch sử, dư địa chí và văn hóa, còn tập 2 đi sâu vào tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh, với nhiều chương khảo cứu kỹ về Phật giáo. Tiếp theo là hai cuốn viết về Công giáo: “Người trên thánh giá” và “Đồng lúa và Dấu lặng Ngôi Lời”, vẫn là tùy bút nhưng nghiêng về ký nhiều hơn. Trong năm cuốn sách ấy, tôi đều vận dụng những tri thức đã tích lũy qua nhiều năm, từ khảo cổ, sử liệu, địa lý, dân tộc học, văn hóa học, xã hội học, văn học dân gian đến tín ngưỡng và tôn giáo, tùy theo mạch của từng bài mà khai thác theo cách khác nhau.

Ban đầu, tôi dự định thực hiện tiếp cuốn tùy bút – khảo cứu thứ sáu viết về vùng biển miền Trung. Nhân chuyến trở về Việt Nam năm 2025, tôi đã đi qua lại nhiều vùng duyên hải, tư liệu và bản thảo cũng gần như hoàn tất. Nhưng rồi tôi quyết định tạm gác lại để dành vào một thời điểm thích hợp hơn.

Đúng vào lúc ấy, vài người bạn gợi ý tôi viết về Sài Gòn. Thật ra, trong tay tôi đã có không ít bài viết được viết từ hơn mười năm trước, nhưng chưa bao giờ nghĩ sẽ gom lại thành sách. Một phần vì Sài Gòn đã được quá nhiều người viết, lại viết rất hay, khiến tôi ngần ngại đặt thêm tiếng nói của mình. Nhưng chính lời gợi ý ấy lại khiến tôi nhận ra mình cũng có một góc nhìn và một cách cảm riêng về thành phố này. Nếu không viết ra, có thể sau này sẽ tiếc. Thế là tôi bắt đầu rà soát những bài cũ, đồng thời viết thêm về những vùng đất mình chưa từng chạm tới, cho đến khi có đủ 80 tùy bút, dài ngắn khác nhau, để chia thành hai tập. Tập 1 gồm 38 bài, tập 2 gồm 42 bài.

Ban đầu, tôi dự định đặt tên sách là “Ký ức Sài Gòn”, nhưng sau cùng chọn “Sài Gòn dưới lớp Sài Gòn”. Tôi thấy đây là nhan đề dung hòa được cả chất văn chương lẫn khảo cứu, đồng thời bao quát tinh thần của toàn bộ tác phẩm. Hai chữ “Sài Gòn” lặp lại không phải để nhấn mạnh, mà nhằm gợi ra hai lớp không gian và thời gian. Một Sài Gòn của hiện tại, một Sài Gòn đã lùi vào quá vãng. Chữ “dưới” cũng mang nhiều tầng nghĩa. Nó là di tích nằm dưới lòng đất, là lớp ký ức bị thời gian phủ lấp, và cả điều lặng chìm trong tâm thức của người Sài Gòn. Vì thế, chính cấu trúc nhan đề đã gợi nên hình ảnh một “địa tầng”, cũng là tinh thần xuyên suốt cuốn sách. Mỗi con đường, ngôi chợ hay dòng kênh đều được nhìn như một lớp trầm tích, nơi bề mặt hôm nay đang che phủ vô vàn lớp Sài Gòn của thời đã qua.

Đây là một tập tùy bút – khảo cứu, kết hợp giữa văn chương và biên khảo. Trong quá trình biên tập, tôi chủ ý tăng thêm chất ký, tự sự, tự luận để cuốn sách gần gũi, cuốn hút hơn, nhưng vẫn giữ sự cẩn trọng cần có của phần khảo cứu. Vì thế, bên cạnh những ghi chép, trải nghiệm, suy ngẫm và cảm nhận cá nhân, sách vẫn chứa đựng những tri thức được chắt lọc từ nhiều nguồn tư liệu đáng tin cậy. Những điều tôi viết không phải phát hiện của riêng mình, mà là sự tiếp nối tri thức của người đi trước, được hệ thống lại và soi chiếu qua góc nhìn cá nhân.

Nói đúng hơn, đây không phải một công trình sử học thuần túy, cũng không chỉ là một tập tùy bút giàu cảm xúc. Tôi luôn cố giữ thế cân bằng giữa hai vai trò, một người khảo cứu cần mẫn với niên đại, tư liệu và sự kiện, và một người kể chuyện đã sống, từng đi qua, gắn bó với những vùng đất ấy. Chính sự song hành giữa “văn” và “sử” đã trở thành mạch ngầm của toàn bộ tác phẩm.

Cái “tôi” cá nhân trong sách không đứng ngoài câu chuyện. Đó là người từng sống ở Chợ Lớn, ở quận Tám, quận Ba, có má gốc Sài Gòn, có cậu dì ở Quận 5, Quận 6, Quận 8, từng học chỗ Vạn Hạnh cũ, nay hồi cố từ một phương trời xa. Nhờ vậy, những địa danh, nhân vật hay tư liệu lịch sử không chỉ hiện lên như những dữ kiện khô cứng mà còn mang theo hơi ấm của ký ức. Nhiều lúc, đọc lại những trang mình viết, tôi cũng tự hỏi không biết mình đang kể chuyện Sài Gòn, hay chính Sài Gòn đang mượn tôi để kể lại câu chuyện của mình.

Toàn bộ hai tập sách được xây dựng trên một cấu trúc. Lớp nền là địa chí, lịch sử, kiến trúc, nhân vật và những tư liệu hành chính. Lớp trên là dòng hồi ức, trải nghiệm và cảm xúc của người kể chuyện. Hai lớp ấy đan cài tự nhiên, nâng đỡ lẫn nhau, chứ không tồn tại như hai mạch riêng biệt. Về không gian, tập 1 chủ yếu đi qua các quận trung tâm rồi mở rộng dần về phía Đông và phía Tây, đến Thủ Đức, Quận 5, Quận 8, Bình Tân và Bình Chánh. Tập 2 tiếp tục với những vùng đất còn lại, trong đó có phần lớn không gian của tỉnh Gia Định xưa, trải dài về Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn và Củ Chi. Về thời gian, cả hai tập đều không đi theo trình tự lịch sử tuyến tính mà di chuyển linh hoạt giữa các lớp thời gian, tùy theo từng bài viết. Mỗi bài viết dù dài hay ngắn đều là một chỉnh thể độc lập, những khi liên kết với nhau trong một cuốn sách thì trở thành một chỉnh thể thống nhất. Một hệ thống nhỏ nằm trong một hệ thống lơn hơn.

Trong suốt 38 tùy bút của tập 1 là một mạch tư duy nhất quán. Sài Gòn hôm nay được hình thành từ những lớp Sài Gòn đã khuất. Mỗi công trình, mỗi địa danh đều là kết quả của một quá trình chồng lấp, thay thế và viết tiếp không ngừng. Thành Bát Quái nhường chỗ cho Nhà thờ Đức Bà, Kinh Lấp trở thành đại lộ Nguyễn Huệ, ga xe lửa cũ trước chợ Bến Thành hóa thành Công viên 23 Tháng 9, rồi đến lượt nghĩa trang Bình Hưng Hòa cũng sẽ nhường chỗ cho một công viên cây xanh. Như tôi từng viết: “Sài Gòn hôm nay cứ vậy mà sống chồng lên những lớp Sài Gòn đã mất…”. Ý niệm ấy đã chi phối cách tôi tiếp cận tư liệu trong hầu hết các bài viết.

Rất ít địa danh được nhìn như một thực thể đứng yên. Tôi luôn lần theo dấu vết của chúng từ buổi đầu còn là rừng rậm, đầm lầy hay bến nước, qua từng lớp biến đổi của người Khmer, người Hoa, người Pháp, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đến sau năm 1975, những chuyển động gần đây mà chợ Bến Thành là một ví dụ. Điều còn lại sau bao lần thay đổi là ký ức và tình cảm của biết bao thế hệ. Nói cách khác, ký ức đô thị không trung thành với nguyên bản, mà trung thành với cảm xúc.

Tuy vậy, tôi không muốn nhìn quá khứ bằng tâm thế hoài cổ cực đoan. Mỗi điều mất đi đều có thể mở đường cho một điều khác được hình thành, và ngược lại. Cầu quay Khánh Hội không còn quay, nhưng câu ca dao về nó vẫn còn. Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè từng ô nhiễm nặng rồi thì cũng hồi sinh. Điều tôi muốn đặt ra không phải là sự phủ nhận đô thị hóa, mà là cách con người ứng xử với quá trình ấy. Mọi sự đổi thay chỉ thật sự có ý nghĩa khi vẫn giữ được mạch sống và ký ức của vùng đất.

Đó cũng là lý do tôi luôn cố dung hòa giữa khảo cứu và cảm xúc. Trong mỗi bài viết, những tư liệu, niên đại, số liệu hay tên người được đặt cạnh những hồi ức, trải nghiệm và suy ngẫm cá nhân. Hai mạch ấy không tách rời mà bổ sung cho nhau, để phần khảo cứu không khô cứng, còn phần văn chương vẫn giữ được điểm tựa của sự chính xác.

Một thủ pháp tôi sử dụng khá thường xuyên là nhân hóa các thực thể vô tri. Con đường, dòng kênh, cây cổ thụ hay một tòa nhà đều có “cuộc đời” và “số phận” riêng. Đường Hàm Nghi như một con người nhiều lần đổi tên. Thương xá Tax cũng trải qua bao lần thay đổi trước khi trở thành một biểu tượng. Kinh Tàu Hủ cũng vậy, nó lớn lên cùng thành phố, mang trên mình dấu vết của từng thời kỳ lịch sử.

Một luận điểm khác xuyên suốt tập sách là bản sắc cởi mở của Sài Gòn. Tôi nhìn thành phố này là nơi nhiều cộng đồng cùng hội tụ và chung sống như người Việt, người Hoa, người Khmer, người Chăm, người Ấn… Cụm bài viết về Chợ Lớn dành nhiều dung lượng để khảo cứu các bang hội, nghề nghiệp, tín ngưỡng và đời sống văn hóa của người Hoa. Trong khi đó, các bài về Công giáo Sài Gòn và tính cách người Sài Gòn là dịp để tôi lý giải những phẩm chất như phóng khoáng, nghĩa khí, thực tế và cởi mở từ chính điều kiện địa lý, lịch sử của vùng đất này.

Nếu phải chọn một ý để tóm lược toàn bộ tập 1, tôi vẫn muốn nhắc lại câu mình từng viết: “Ký ức chính là hình thức tồn tại bền bỉ nhất mà con người có thể dành cho nhau.” “Thành quách, dinh thự hay tên gọi hành chính rồi sẽ đổi thay, nhưng ký ức được lưu giữ qua địa danh, qua câu chuyện truyền miệng và trong tiếng nói của con người vẫn có thể tồn tại rất lâu”. Tôi tin rằng, “chỉ cần một cái tên còn được gọi đúng, câu chuyện của vùng đất ấy vẫn chưa hề kết thúc.” Cũng vì đi theo dòng vận động của ký ức nên các bài viết không sắp xếp theo trình tự niên đại. Thời gian trong sách luôn dịch chuyển tự nhiên theo dòng liên tưởng. Từ hiện tại trở về quá khứ rồi lại quay về hiện tại. Một buổi cà phê sáng có thể dẫn đến câu chuyện của thế kỷ XVIII, trước khi khép lại bằng một suy ngẫm ở hôm nay. Tôi mong người đọc có cảm giác như cùng tôi đi bộ qua từng con đường, dừng lại ở mỗi góc phố, lắng nghe những lớp ký ức còn vang vọng dưới bước chân.

Trong quá trình viết, tôi vẫn tham khảo nhiều công trình như Trịnh Hoài Đức, Vương Hồng Sển, Nguyễn Đình Đầu, An Chi, Ann Marie Leshkowich…, cùng nhiều tư liệu, ca dao về Sài Gòn. Những trích dẫn ấy không nhằm phô bày tư liệu, mà để những điều mình viết có thêm điểm tựa xác tín. Đây là một tập tùy bút dành cho đông đảo bạn đọc, không phải một công trình nghiên cứu hàn lâm. Vì vậy, những tri thức quen thuộc được tôi diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình. Chỉ những trích dẫn mới đặt trong ngoặc kép và ghi nguồn ngay sau đó khi thấy cần thiết, thay vì chú thích dày đặc ở cuối sách. Sách cũng không kèm bản đồ hay hình minh họa cho từng bài, nếu muốn tìm hiểu sâu hơn, bạn đọc có thể tiếp tục tra cứu ở thư viện hoặc trên Internet. Những hình ảnh trong sách chủ yếu mang giá trị mỹ thuật, để cuốn sách gần gũi và đẹp hơn.

Điều tôi mong mỏi là dung hòa được hai yêu cầu tưởng như đối lập, sự chính xác của khảo cứu và sức rung động của văn chương. Tất cả đều hướng về một niềm tin giản dị rằng, tên gọi có thể đổi thay, cảnh vật có thể biến mất, nhưng hồn cốt của một vùng đất vẫn được lưu giữ bền bỉ nhất trong ký ức của những con người đã sống, đã yêu và từng gắn bó với nó. Trong mạch ấy, tập 1 đi qua không gian Trung tâm – Đông – Tây.

Vài dòng bộc bạch mở đầu tập 1. Xin mời bạn đọc bước vào và tự mình khám phá.

Nguyễn Đông A

OUVERTURE DU VOLUME 1

Autrefois, lorsque j’écrivais des essais, je laissais volontiers ma pensée suivre un chemin non linéaire. J’écrivais ce qui me venait, comme cela me venait, puis je tissais des liens entre les phrases, tandis qu’en dessous courait, à demi cachée, toute une nappe de réflexions et d’émotions. J’avais donné un nom à cette manière d’écrire : « l’écriture mêlée ». Cette forme brève convenait assez bien aux lecteurs de Facebook, et mes textes avaient alors trouvé un public nombreux. Plus tard, je me suis résolument tourné vers des essais plus longs, à la croisée de la littérature et de la recherche documentaire. Il m’arrive encore d’en publier sur les réseaux sociaux, mais de façon irrégulière, car ces textes sont plus exigeants, ils ne parlent pas à tout le monde. Ils ont néanmoins leurs lecteurs fidèles. Peu à peu, mon lectorat a donc changé lui aussi : d’un public assez large, je suis passé à un cercle plus restreint, plus choisi.

Je n’ai pourtant jamais écrit pour le milieu de la recherche universitaire. Je ne pratique pas cette écriture savante où les pages se couvrent de termes spécialisés, de notes, de commentaires et de citations, car je reste convaincu qu’un ouvrage, si précieux soit-il, aura du mal à toucher un grand nombre de lecteurs s’il ne s’adresse qu’aux érudits. Ce que je cherche à écrire, ce sont des livres que le lecteur ordinaire, pour peu qu’il possède une culture générale correcte, puisse prendre en main, lire, comprendre et, surtout, avoir plaisir à poursuivre.

À partir de textes écrits dans cet esprit, j’ai composé cinq livres. Hồn phách núi sông est consacré à l’Est du Nam Bộ. Cánh cò sông nước, en deux volumes, parle de l’Ouest. Le premier s’attache davantage à l’histoire, à la géographie historique et à la culture ; le second pénètre plus profondément dans le monde des religions, des croyances et de la spiritualité, avec plusieurs chapitres de recherche approfondie sur le bouddhisme. Sont ensuite venus deux ouvrages consacrés au catholicisme : Người trên thánh giá et Đồng lúa và Dấu lặng Ngôi Lời. Ils relèvent toujours de l’essai, mais se rapprochent davantage du récit et de la chronique. Dans ces cinq livres, j’ai puisé dans des connaissances accumulées au fil de longues années : archéologie, sources historiques, géographie, ethnologie, études culturelles, sociologie, littérature populaire, croyances et religions. Selon le fil propre à chaque texte, je les ai mobilisées de manière différente.

Au départ, j’avais l’intention de poursuivre avec un sixième ouvrage, toujours à mi-chemin entre essai et recherche, cette fois consacré au littoral du Centre. Lors d’un séjour au Vietnam en 2025, j’avais parcouru à plusieurs reprises différentes régions côtières ; la documentation était réunie, le manuscrit presque achevé. Puis j’ai finalement décidé de le mettre de côté, en attendant un moment qui lui conviendrait mieux.

C’est précisément à cette époque que quelques amis m’ont suggéré d’écrire sur Saïgon. À vrai dire, j’avais déjà sous la main bon nombre de textes écrits plus de dix ans auparavant, sans avoir jamais songé à les réunir en livre. Il faut dire que tant de gens avaient déjà écrit sur Saïgon, et souvent avec tant de talent, que j’hésitais à ajouter ma propre voix à toutes les autres. Pourtant, cette suggestion m’a fait comprendre que, moi aussi, j’avais sur cette ville un regard qui m’était propre, une manière bien à moi de la ressentir. Si je ne l’écrivais pas, peut-être le regretterais-je un jour. Je me suis donc remis à relire mes anciens textes, tout en écrivant sur des lieux que je n’avais encore jamais abordés, jusqu’à réunir quatre-vingts essais, de longueurs diverses, que j’ai répartis en deux volumes. Le premier en compte trente-huit, le second quarante-deux.

J’avais d’abord pensé intituler l’ensemble Mémoire de Saïgon. Finalement, j’ai retenu Saïgon sous les strates de Saïgon. Ce titre me semble parvenir à concilier la dimension littéraire et celle de la recherche, tout en embrassant l’esprit général de l’ouvrage. La répétition du nom « Saïgon » n’est pas là pour insister. Elle suggère plutôt deux couches d’espace et de temps : un Saïgon du présent et un autre, déjà retiré dans le passé. Le mot « sous » possède lui aussi plusieurs profondeurs de sens. C’est le vestige enfoui sous terre, la couche de mémoire recouverte par le temps, mais également tout ce qui demeure silencieusement immergé dans la conscience des Saïgonnais. La structure même du titre fait ainsi apparaître l’image d’une « strate », qui est aussi le fil conducteur de tout le livre. Chaque rue, chaque marché, chaque canal y est regardé comme un dépôt de sédiments, une surface présente sous laquelle reposent d’innombrables Saïgon disparus.

Ce livre est donc un recueil d’essais et de recherches, où littérature et travail documentaire se rencontrent. Au cours de la révision, j’ai délibérément renforcé la part du récit, de la chronique et de la réflexion personnelle afin de rendre l’ensemble plus proche, plus vivant, plus prenant, sans jamais renoncer à la rigueur qu’exige la recherche. Ainsi, à côté de mes notes, de mes expériences, de mes méditations et de mes impressions personnelles, le lecteur trouvera des connaissances puisées et sélectionnées dans de nombreuses sources dignes de confiance. Ce que j’écris ici n’est pas le fruit de découvertes qui m’appartiendraient en propre. Je m’inscris dans la continuité du savoir transmis par ceux qui m’ont précédé, savoir que j’ai réorganisé et éclairé à travers mon regard personnel.

Pour être plus précis, il ne s’agit ni d’un ouvrage d’histoire au sens strict, ni simplement d’un recueil d’essais porté par l’émotion. J’ai toujours essayé de tenir l’équilibre entre deux rôles : celui du chercheur patient, attentif aux dates, aux documents et aux événements, et celui du conteur qui a vécu dans ces lieux, les a parcourus et s’y est attaché. C’est cette marche côte à côte de la « littérature » et de « l’histoire » qui constitue le courant souterrain de l’ensemble.

Le « je » de ce livre ne se tient pas à l’écart de ce qu’il raconte. C’est celui d’un homme qui a vécu à Chợ Lớn, dans le huitième arrondissement, dans le troisième, dont la mère était originaire de Saïgon, qui avait des oncles et des tantes dans les cinquième, sixième et huitième arrondissements, qui a étudié du côté de l’ancienne Vạn Hạnh et qui, aujourd’hui, se retourne vers tout cela depuis un horizon lointain. Ainsi, les lieux, les personnages et les documents historiques n’apparaissent pas comme de simples données froides ; ils gardent en eux la chaleur de la mémoire. Il m’arrive, en relisant mes propres pages, de me demander si c’est vraiment moi qui raconte Saïgon, ou si ce n’est pas Saïgon qui m’emprunte pour raconter sa propre histoire.

Les deux volumes reposent sur une même architecture. La couche profonde est faite de géographie historique, d’histoire, d’architecture, de personnages et de documents administratifs. Par-dessus coule la mémoire, avec les expériences et les émotions du narrateur. Ces deux strates s’entrelacent naturellement et se soutiennent l’une l’autre ; elles ne vivent jamais comme deux courants séparés. Géographiquement, le premier tome traverse surtout les arrondissements du centre avant de s’étendre progressivement vers l’est et l’ouest, jusqu’à Thủ Đức, au cinquième et au huitième arrondissement, à Bình Tân et Bình Chánh. Le second poursuit le voyage à travers les territoires restants, notamment une grande partie de l’ancienne province de Gia Định, jusqu’à Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn et Củ Chi. Quant au temps, aucun des deux volumes ne suit une chronologie linéaire. Ils circulent librement d’une époque à l’autre, au gré de chaque texte. Chaque essai, long ou bref, forme un tout autonome ; mais, une fois reliés les uns aux autres dans un même livre, tous finissent par composer un ensemble cohérent : un petit système pris dans un système plus vaste.

À travers les trente-huit essais du premier volume court une même pensée. Le Saïgon d’aujourd’hui est né de toutes les couches de Saïgon qui ne sont plus. Chaque bâtiment, chaque nom de lieu résulte d’un lent processus de superposition, de substitution et de réécriture incessante. La citadelle de Bát Quái a laissé place à la cathédrale Notre-Dame ; le Kinh Lấp, le « canal comblé », est devenu le boulevard Nguyễn Huệ ; l’ancienne gare ferroviaire devant le marché Bến Thành s’est transformée en parc du 23 Septembre ; et le cimetière de Bình Hưng Hòa, à son tour, cédera la place à un parc arboré. Comme je l’ai écrit un jour : « Le Saïgon d’aujourd’hui continue ainsi de vivre, posé sur les couches des Saïgon disparus… » Cette idée a guidé ma manière d’aborder les documents dans la plupart des textes. Rares sont les lieux que j’envisage comme des réalités immobiles. J’essaie toujours d’en suivre les traces depuis l’époque où ils n’étaient encore que forêt épaisse, marécage ou embarcadère, puis à travers les transformations successives liées aux Khmers, aux Chinois, aux Français, au gouvernement de la République du Vietnam, à l’après-1975, jusqu’aux bouleversements les plus récents, dont le marché Bến Thành offre un bon exemple. Ce qui subsiste après tant de métamorphoses, c’est la mémoire et l’attachement de générations entières. Autrement dit, la mémoire urbaine n’est pas fidèle à l’original ; elle est fidèle à l’émotion.

Je ne souhaite pas pour autant regarder le passé avec une nostalgie poussée à l’extrême. Ce qui disparaît peut ouvrir la voie à autre chose, et l’inverse est tout aussi vrai. Le pont tournant de Khánh Hội ne tourne plus, mais la chanson populaire qui le chante est toujours là. Le canal Nhiêu Lộc – Thị Nghè, autrefois terriblement pollué, a fini par renaître. Ce que je veux interroger n’est donc pas l’urbanisation elle-même, et encore moins la nier, mais la façon dont les hommes se comportent face à elle. Tout changement ne prend véritablement sens que s’il parvient à préserver le courant vivant et la mémoire du lieu.

C’est aussi pourquoi je cherche sans cesse à accorder la recherche et l’émotion. Dans chaque texte, documents, dates, chiffres et noms propres voisinent avec les souvenirs, les expériences vécues et les réflexions personnelles. Ces deux courants ne sont pas séparés ; ils se complètent, afin que la recherche ne devienne jamais sèche, et que la littérature, elle, conserve le point d’appui de l’exactitude. J’emploie assez souvent un autre procédé : donner une vie aux choses qui, en apparence, n’en ont pas. Une rue, un canal, un vieil arbre ou un bâtiment possèdent alors leur propre « existence », leur propre « destin ». La rue Hàm Nghi ressemble à un homme qui aurait changé plusieurs fois de nom au cours de sa vie. Les grands magasins Tax ont, eux aussi, connu bien des métamorphoses avant de devenir un symbole. Il en va de même du canal Tàu Hủ : il a grandi avec la ville et porte sur lui les traces laissées par chaque époque de son histoire.

Une autre idée traverse tout le livre : l’identité profondément ouverte de Saïgon. Je vois cette ville comme un lieu de rencontre et de coexistence entre de nombreuses communautés, Vietnamiens, Chinois, Khmers, Chams, Indiens… Les textes consacrés à Chợ Lớn accordent ainsi une large place à l’étude des congrégations chinoises, des métiers, des croyances et de la vie culturelle de la communauté chinoise. Les essais sur le catholicisme saïgonnais et sur le caractère des habitants de Saïgon me permettent, quant à eux, de chercher dans la géographie et l’histoire mêmes de cette terre les racines de certaines qualités : la générosité, le sens de l’honneur et de la solidarité, le pragmatisme, l’ouverture aux autres.

S’il fallait retenir une seule idée pour résumer tout le premier volume, je reviendrais volontiers à cette phrase que j’ai écrite autrefois : « La mémoire est la forme d’existence la plus tenace que les êtres humains puissent s’offrir les uns aux autres. » « Fortifications, palais et appellations administratives finiront par changer, mais la mémoire conservée dans les noms de lieux, dans les récits transmis de bouche à oreille et dans la parole des hommes peut, elle, survivre très longtemps. » Je reste convaincu d’une chose : « Tant qu’un nom continue d’être prononcé correctement, l’histoire du lieu qu’il désigne n’est pas encore terminée. »

C’est précisément parce que ces textes suivent les mouvements de la mémoire qu’ils ne sont pas ordonnés chronologiquement. Le temps du livre se déplace naturellement au gré des associations d’idées. Du présent, on retourne vers le passé, avant de revenir au présent. Un café pris le matin peut nous entraîner jusqu’à une histoire du XVIIIe siècle, puis s’achever sur une réflexion d’aujourd’hui. J’aimerais que le lecteur ait le sentiment de marcher avec moi le long de ces rues, de s’arrêter à chaque coin, et d’écouter, sous ses pas, les couches de mémoire qui résonnent encore.

Au fil de l’écriture, j’ai consulté de nombreux travaux de mes prédécesseurs, parmi lesquels Trịnh Hoài Đức, Vương Hồng Sển, Nguyễn Đình Đầu, An Chi, Ann Marie Leshkowich…, ainsi que quantité de documents, de chansons populaires, de poèmes et de musiques anciennes consacrés à Saïgon. Ces citations ne sont pas là pour étaler une documentation, mais pour donner à ce que j’écris des points d’appui solides et vérifiables.

Je tiens également à préciser ma manière de procéder. Ce livre est un recueil d’essais destiné à un large public, et non une étude universitaire. Les connaissances communément admises y sont donc reformulées dans ma propre langue. Seules les citations sont placées entre guillemets et accompagnées, lorsque cela me paraît nécessaire, de leur source immédiatement après le passage concerné, plutôt que d’accumuler en fin de volume un appareil de notes surchargé. Le livre ne comporte pas non plus de carte ni d’illustration documentaire pour chacun des textes. Le lecteur désireux d’aller plus loin pourra poursuivre ses recherches en bibliothèque ou sur Internet. Les images reproduites dans l’ouvrage ont avant tout une fonction esthétique : elles sont là pour rendre le livre plus accueillant, plus beau aussi.

Ce que j’espère, au fond, c’est parvenir à concilier deux exigences qui semblent parfois s’opposer : l’exactitude de la recherche et la puissance sensible de la littérature. Tout converge vers une conviction très simple : les noms peuvent changer, les paysages disparaître, mais l’âme profonde d’un lieu se conserve avec le plus de ténacité dans la mémoire de celles et ceux qui y ont vécu, qui l’ont aimé et qui lui ont, un jour, appartenu. Dans ce mouvement, le premier volume suit l’axe Centre – Est – Ouest ; le second poursuivra selon l’axe Sud – Nord, à travers les terres de l’ancien Gia Định.

Voilà les quelques mots que je souhaitais confier au lecteur en ouverture de ce premier volume. Je vous invite maintenant à y entrer et à le découvrir par vous-même.

Nguyễn Đông A

Bài Mới Nhất
Search