Tranh – Trần Thanh Châu
Chùa Giếng do già làng gọi mỏi miệng đến rụng răng rồi thành tên. Chùa nằm ngoài thị xã bên cạnh đường liên tỉnh. Đường dẫn vào chùa là hương lộ sâu hun hút hai bên trồng hàng cây bồ đề xanh um. Sân chùa lát gạch vồ, lọt giữa vườn rau nhà chùa có giếng nước ngay cạnh cây đa rễ bò nhằng nhịt trên mặt đất như thân người quấn quýt với nhau. Chùa không mang vẻ quạnh quẽ vùng quê cho mấy vì tiếng xe cộ ầm ào, tiếng xì xụp khấn vái của bá tánh trong những ngày lễ cầu an, tạ Bụt mong được hưởng lộc trời. Lộc của các bà các cô trồng sẵn ngay vườn rau là húng quế, rau thơm, ngò gai, lá mít, lá ổi thả xuống giếng nước. Đó là cách cầu xin Bụt che chở, độ trì. Mà cầu trời khấn Bụt thì rõ ra lành như Bụt, hiền như bóng, nào Bụt có hay chuyện nhân sinh rối rắm như chuyện ở dưới đây.
Ngẫu nhiên chuyện dưới đây xẩy ra tại sân chùa trong lúc bá tánh vãn cảnh ngày lễ hội. Và rồi có túc duyên một nam, một nữ gặp nhau như chuyện xưa tích cũ với mỗi người ở một thời gian, không gian khác, nhưng chẳng thể ngoa chữ với tích Tú Uyên gặp Giáng Kiều ở chùa Bích Câu. Thế nên mới có những khó khăn óc ách như thế này.
Số là trong đám thiện nam tín nữ viếng cảnh chùa có một thiếu nữ. Cô thơ thẩn theo lối đi lát gạch vuông vức dẫn tới cây bồ đề lão, cây đa cổ. Cô thảng thốt nhận ra ngọn gió chuyển mùa vừa tạt qua mái chùa, cô bắt gặp mình xao xuyến khi thấy một cái lá vừa rụng. Cô nao nao chùn bước, cô tự biết đó là bể khổ nhưng không muốn diệt. Cô nhặt chiếc lá bồ đề và nhủ thầm mai này nó sẽ là của riêng cô với khổ đau. Rõ ra không phải tại chiếc lá, chẳng phải cơn gió chuyển mùa, mà tại cô chưa đối cảnh vô tâm, cô tự làm mình khổ mình đấy thôi.
Cùng lúc “đối cảnh vô tâm” đi ngược chiều, ấy là sư trẻ đang bách bộ ngoài sân. Sư đến bên giếng nước và bâng quơ thả xuống một chiếc lá đa rồi bối rối nhìn trời nhìn đất.
***
Với sư trẻ ở trên, kể từ ngày sư theo sư cả học đạo Bụt, nghe đồn sư nức tiếng là một sa môn thông tuệ, thông tỏ mọi chuyện nhân gian và đức độ hiếm thấy. Ngoài khuôn mặt chữ điền, trán cao. Sư trẻ có nước da xù xì gọi là trắng cũng được mà là đen cũng chẳng sao. Bởi lẽ đó, bề ngòai sư không nhỉnh ra thêm tí tẹo nào sáng sủa nếu so với sư tăng khác mà lại khô cứng, lùi xùi, mốc mốc như thân cau mùa đông. Hay nói khác đi, sư có dáng u u, tịch tịch làm sao ấy.
Buổi sáng trước giờ ngọ hôm ấy, sư thuyết pháp về luật nhân quả với duyên nợ tiền thân: Cứ theo sư trẻ với bài bản lớp lang thì con người từ lúc sinh ra đến lúc mất đi, ai ai cũng đi chung một con đường. Vừa giống nhau, lại vừa khác nhau. Người may mắn ít sa vào ổ gà. Người đen đủi thường rơi vào lỗ chân trâu là nhẽ thường tình của đất trời. Những cái sự bắt đầu và kết thúc thì như nhau cả. Như đã đảo qua vừa rồi, chuyện khó khăn là thế đấy…
Óc ách hơn nữa, sư còn mang truyện của cụ Nguyễn Du ra dẫn dụ là nếu có chánh niệm, đem gian truân luân lạc của mình ra đọc truyện Kiều, ta có cơ hội thấy được bản thân tức cái ngã. Vì vậy đọc truyện Kiều như đọc kinh điển nên cũng là tu. Tu là nhìn thấy những gì đã xẩy ra trong đời mình bằng con mắt quán chiếu. Ngay như cô Kiều, vừa là tình nhân, vừa làm lẽ và cũng đã từng là sư cô. Vì vậy tha nhân có thể học được cuộc đời cô Kiều như học một cuốn kinh. Ngay như chữ tình trong truyện Kiều hay của thói đời là tình ái có đam mê. Nhưng chữ tình có nhiều loại tình cảm khác nhau. Ví dụ từ, bi, hỷ, xả cũng là tình. Nhưng đường tu hành khác với đường tình ái của tha nhân là không có đam mê, chiếm hữu, vướng mắc.
Sư chỉ lên tường thiền thất treo một bức thư pháp với hai câu thơ Bất tục tức tiên cốt – Đa tình thị Phật tâm. Sư trẻ diễn giải: Về đa tình thị Phật tâm thì hãy nhìn với cung cách của một thiền sư bằng vào khai phá của thiền quán mọi sự kiện với những nhận thức, đau khổ hay hạnh phúc qua sự tu học của mình. Về kiếp nhân sinh, sư dẫn chứng Đạm Tiên là tiền kiếp của cô Kiều qua câu thơ Đè chừng ngọn gió lần theo – Dấu giầy từng bước in rêu rành rành – Hữu tình ta lại gặp ta – Chớ nề u hiển mới là chị em.
Về nhân duyên nghiệp quả, sư thuyết giảng cho tín hữu là hãy nhìn hoàn cảnh của cô Kiều bằng con mắt trạch pháp của Bụt với những khổ đau, hạnh phúc của cuộc đời. Hạnh phúc chẳng ở đâu xa, vì trên con đường về cõi Bụt dành cho chúng sinh mang một ý nghĩa vi diệu mà chỉ có ai đó có duyên cơ một lần trong đời sẽ ngộ ra trong một sát na. Con mắt trạch pháp tức là con mắt có khả năng nhận xét và phân biệt qua những nổi trôi có thể xẩy ra với bất cứ người nào. Sư ngâm vịnh Mới hay tiền định chẳng lầm – Đã tin điều trước ắt nhằm việc sau – Còn nhiều ân ái với nhau – Trẻ thiên đã dậy ắt thì chẳng sai.
Sư trải rộng sự kết hợp lứa đôi là do duyên nợ, duyên số, duyên kiếp, duyên tình. Tín hữu tin hay không tin là tùy theo cảm thụ tri thức nội giới, chẳng do từ những cảm nhận trực giác. Chính cái ranh giới mù mờ giữa trực giác và nội giới ấy là nguyên nhân nẩy mầm những thất vọng, khổ đau và sa đọa về một món nợ từ tiền thân của họ qua một sát na.
Dòm thấy bá tánh im thin thít như thịt nấu đông, Sư hắng giọng ho khan chấm dứt buổi thuyết pháp…cho rồi bằng vào duyên nợ, duyên số có thể xẩy ra…cho bất cứ ai:
– Ừ! Phải có một sát na xuất hiện, cái sát na chỉ lóe lên một lần trong đời.
Đột dưng ở dưới có một thiếu nữ tròn mắt với dấu hỏi.
– Sát na là gì, thưa thầy.
Sư u mê tắp lự:
– A Di Đà Phật, thôi thì cứ nghĩ thế này: Đó là từ nhà Bụt để chỉ một chớp mắt, một khắc lóe sáng. Trong khắc giờ ấy, nếu có cơ duyên và rộng đường tu hành, ta sẽ ngộ. Nhất là đường tình ái, ta sẽ đạt. Khắc giờ ấy, là con Bụt, ai cũng mơ một ngày sẽ gặp…
– Khi nào gặp cái sát na ấy, thưa thầy.
– Nếu như thí chủ có duyên với Bụt.
Sư lim dim tối mù:
– Có người dốc tâm tu niệm, lòng thành rộng tợ biển, y quyết lớn tợ non nhưng đến lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn chưa thành chánh quả. Phải có duyên cơ với nhà Bụt, phải có lần nào đó trong đời chứng ngộ ra chỗ tinh diệu của đạo pháp.
***
Sư về tới tăng phòng thì gặp người thiếu nữ đứng đợi trước cửa đợi. Vừa được sư trẻ mời vào tăng phòng, cô chúm môi tươi tớp:
– Thầy ơi, xin thầy hoan hỉ cho tín nữ được vấn đạo.
– Mô Phật, nếu câu hỏi của thí chủ thuộc đạo pháp, bần tăng xin sẵn lòng.
Ngồi xuống ghế đối diện với sư, cô bắt gặp hai vật ngăn cách giữa sư và cô là cáí mõ và cái chày nằm ngay đơ trên bàn. Thiếu nữ đẩy đưa:
– Thưa thầy, theo như bài luật nhân quả mà thầy vừa thuyết giảng qua cô Kiều trước khi gặp Kim Trọng Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau – Duyên ta mà cũng phúc trời chi không. Tín nữ thấy chẳng phù hợp với những gì đang diễn ra ở nơi tín nữ. Nếu có luật nhân quả thì sao cho đến bây giờ tín nữ chưa có duyên gặp con đường tình ái mà đã thấy khổ đau.
– Nghe lạ! Thí chủ đau ở chỗ nào. Cái gì trong thí chủ…”biết đau”.
Sư gãi gãi cái đầu có ít tóc ngắn đang loay hoay nhú lên góp mặt với đời và u mặc:
– Cái biết đó có…đau không.
Cô bày tỏ cái nhôm nhoam của mình:
– Bây giờ tín nữ đang tìm nó, thầy ơi.
Sư gật gyạ lào thào:
– Ừ! Nói vậy chứ thí chủ chưa tìm được đâu. Không sao. Bây giờ chưa tìm được cũng không sao. Khi tuổi trẻ ai cũng phải qua đoạn đường này. Vậy ái tình có sinh diệt không.
– Thưa, có sinh có diệt.
– Nay ghét mai thương, nay nhớ mai quên là…hết chuyện. Mắc mớ gì thí chủ lại đau khổ.
Như bần tăng đây, nào có đam mê, chiếm hữu, vướng mắc để khổ đau như thí chủ.
Chỉ cái mõ, cái chày. Cô cân đo đong đếm:
– Thầy ơi, nhưng tại sao thầy lại khổ như vậy. Chả lẽ cứ ở chùa đến hết đời sao với tâm cảm khi nhìn thấy đĩa rau luộc lại không có nước mắm tỏi. Rồi chẳng biết đường tình ái là gì nên thầy chẳng hay biết thế nào là buồn, vui, sướng, khổ. Vậy thì sống còn ý nghĩa gì nữa.
Và lục phủ ngũ tạng cô thắt lại cho…sư:
– Tín nữ trộm nghĩ người ta sống mới biết mùi đời, thế nhưng cho đến lúc người ta nhắm mắt xuôi tay, có nhiều người vẫn chưa hiểu hết mùi đời. Vả lại đời người sống có một lần, nay còn chưa biết mai nói gì kiếp sau. Mà kiếp sau nếu mình còn gặp nhau kìa, chứ kiếp sau mà sống bằng cuộc đời khác thì cũng bằng không với đời là bể khổ.
Ngừng lại một chút, cô tháo ống cống:
– Thưa thầy, cứ theo tín nữ nghĩ thì ai chẳng biết đời là bể khổ, đợi vượt qua được…bể khổ là cũng vừa đúng lúc…qua đời đấy thôi, thưa thầy.
Sư nhíu mày u tịch:
– Mọi sự thí chủ vừa nói chẳng qua là nhân quả, là có hòa hợp mới sinh ra quả. Ví như hạt lúa là nhân mà hợp với đất, nước, là duyên mà sinh ra cây lúa. Về chuyện nhân sinh, người có nhân từ kiếp trước, hiện tại mới gặp duyên mà sinh ra quả. Có người kiếp trước đã gieo mà mãi đến đời sau…Đời sau nữa mới gặp duyên để thành ra quả. Nên thí chú cứ phải đợi.
Cô rập ràng:
– Thưa thầy, như vậy là luật nhân quả cũng có khoảng trống của thời gian.
Sư hoằng pháp:
– Tất cả đều là do vòng chuyển hóa của luân hồi định nghiệp. Chậm hay nhanh là do nhân
duyên. Tựu chung chẳng sớm thì muộn: Nhân nào quả nấy.
Sư cụp mắt:
– Thí chủ còn câu nỏi nào nữa không.
– Thưa thầy, thế nào là lòng từ bi.
Sư luận giải:
– Từ bi là tình thương. Từ bi là một thứ cho mà không nhận.
– Thầy ơi, thế nào là cho. Thế nào là nhận.
– Cho là “xả”, nhận là “vô”. Cho là vì người, nhận là vì ta.
– Như vậy một người nữ yêu một người nam là “cho” hay là “nhận”.
– Đó là nhận.
– Thưa tại sao.
– Yêu người muốn được người yêu lại…Đó là vì yêu mình chứ chẳng phải yêu người.
– Vậy thế nào mới được gọi là…yêu người.
Giọng sư khô cứng:
– Hãy quên mình.
– Khó quá.
Sư chùng mặt u ám:
– Không khó, chẳng dễ thì tâm diệt.
– Tâm diệt thì được gì.
– Tịnh lạc.
– Tình yêu có tịnh lạc không.
– Có và không.
***
Thế nhưng cô có tìm được tịnh lạc trong tình yêu hay chăng ấy là chuyện sau nằm ở khúc dưới. Trở lại phần dẫn nhập đã bộc bạch, chẳng như chuyện Giáng Kiều nhẩy bổ ra khỏi bức tranh gặp ngay Tú Uyên, bèn yêu, đành lấy. Lấy rồi đẻ con thì cũng êm ả thôi. Chuyện xưa và nay có chút khác biệt là cô vừa dậm bước vào con đường tình đã thấy …đau. Nghe có vẻ văn chương chữ nghĩa đấy, nhưng thật ra là cô…đau chân. Với duyên tiền định, hiểu theo nghĩa Bụt đã an bài, sắp xếp cô vấp phải hòn đá bên đường để thay đổi cả một quãng đời mai này mà cô đâu có hay. Chuyện đầu trở xuống cuống trở lên vì cô muốn rửa nghiệp, cô đã hơn một lần lên chùa dựa hơi Bụt, tìm sự linh thiêng qua cái giếng nước. Chùa nhằm đầu năm hay mùa chay, sư cả vân du đây đó nên sư trẻ ở một mình. Thế nên năm nào vào dịp ấy cô cũng vãn cảnh chùa, hiểu theo nghĩa là cô và sư chỉ gặp mỗi năm một lần nên chẳng…nhiều chuyện cho lắm.
Cô nhớ lại cái năm đầu tiên ấy, cô lót đót hỏi sư:
– Thưa thầy, chùa ta được bao năm rồi.
– Cũng cả trăm năm.
– Hễ chùa có cả trăm năm thì…linh lắm hả thầy.
– Ai nói với nữ thí chủ như vậy.
– Hồi nãy có hai người tới cúng chùa, tín nữ nghe họ nói chùa ta linh lắm.
– A Di Đà Phật, tội nghiệp cho họ. Đó là những người đi chùa mà không biết đạo Bụt. Nữ thí chủ có thấy họ mang tới lễ Bụt một đĩa trái cây, một bó nhang rồi đứng cầu cả nửa giờ không. Họ cầu đủ thứ, tiền bạc, sức khỏe, danh lợi, con cái. Có người lại cầu cả chuyện…ái ân. Nam Mô! Bần tăng nói lộn. Bần tăng muốn nói là họ đến chùa muốn cầu cả chuyện tình ái nữa. Họ đi lễ Bụt mà tham hơn cả những người không đi. Ngay cả họ còn đem tiền làm phước để cầu được hưởng quả phước thì đó là tính toán của lòng tham, nữ thí chủ có thấy như vậy không.
Cô khựng lại vì nhớ ra hồi nãy mình có đứng…chiêm ngưỡng Bụt gần nửa tiếng thật. Tiếp đến bụng dạ cô lao xao với có chùa có sư, cô nháo nhác hỏi tới nữa:
– Tại sao thầy đi tu.
– Mô Phật! Có cơ duyên cả đấy, số là sư cả đây cũng là bác ruột của bần tăng. Năm mười tuổi, cứ ngày nghỉ bần tăng tới quét lá sân chùa. Một hôm sư bác hỏi cớ sự gì bần tăng thích quét lá. Bần tăng trả lời rằng không biết.
Sư vừa với tay quơ cái mõ để lên bàn vừa hỏi cô:
– Sau đấy bần tăng cạo đầu ở lại chùa tu tập. Thí chủ có biết tại sao không.
Bụng dạ cô rối như canh hẹ vì cứ ngỡ sư tu vì…thèm ba mớ cơm nguội trộn chao, hay gạo hẩm với rau lang già chấm tương. Hoặc giả như thỉnh thỏang có “cá” kho, đó là những trái khổ qua ăn…qua thành…khổ quá. Nên cô lắc đầu. Sư lại vớ cái chày để cạnh cái mõ và chép miệng đến tách một cái:
– Ừ! Nói vậy chứ thí chủ không biết được đâu. Không sao. Bây giờ thí chủ không biết cũng không sao.
Thấy hai đồ cụ của nhà Bụt trên bàn, cô chợt nhớ đến câu thiện căn ở tâm tánh dốc lòng tu niệm của sư môn, cô lại dẫu môi nhấm nhẳng với chuyện tu tập của sư:
– Thưa thầy! Tín nữ chẳng hay khi nào thì thầy đi hết con đường tu hành của mình. Giống như Tam Tạng, Tôn Ngộ Không trong truyện Tây Du Ký mà tín nữ đã được đọc ấy. Bởi vì theo tín nữ hiểu muốn đắc đạo không phải là chuyện dễ.
Sư lim dim qua khuôn mặt nhăn nhúm. Làm như không hay, cô đắng đót:
– Vậy thưa thầy, thầy thành Bụt chưa.
– Chưa đâu, bần tăng chứng ngộ được nhưng chưa làm Bụt được.
– Ở đây một mình chắc…buồn lắm.
Khuôn mặt sư nhàu nát khổ sở, giọng lụi đụi:
– Đã vào nhà chùa thì sá gì buồn vui nữa!
Là người mẫn cảm và nhất là không gian trầm lắng của chốn tu hành, mắt cô cứ đăm đắm nhìn khuôn mặt thiếu vắng mùa xuân của sư. Bạn cô bảo: “Mày có duyên với Bụt đấy”. Cô cười, chẳng nói gì. Đôi mắt cô long lanh sáng, gò má ửng hồng.
***
Chuyện lẵng nhẵng mãi cho đến năm sau…Cho đến khi này gặp lại sư, lại nhớ bạn cô bảo mắt là cửa sổ của tâm hồn mặc dù lim dim…nhắm mắt. Mắt nói thay cho…miệng. Thế nên bây giờ mắt cô dúng diếng chung chiêng, miệng cô nắc nỏm đưa đẩy:
– Bộ thầy ở đây…một mình. Thầy còn nhớ tín nữ không? Năm nào tín nữ cũng đến đây.
Sư nhíu mày làm như cố nhớ ra chuyện cũ. Sư đưa tay rờ rẫm cái mõ:
– Bần tăng nhớ.
Có ai tinh ý lắm mới nhận thấy vẻ bối rối của sư khi sư rờ rẫm cái mõ. Rồi u ơ:
– Thí chủ ở gần nhà chùa đã hai năm. Nghe đọc kinh Bụt có hiểu không?
Mắt không rời cái chày tròn tròn như cán dao thái thịt. Miệng cô mấp máy:
– Có chỗ có, có chỗ không.
Sư khoát tay hỉ xả:
– Ừ! Nói vậy chứ thí chủ chưa hiểu được đâu. Không sao. Bây giờ thí chủ chưa hiểu cũng không sao.
Trăng sao gì, cô về nhà vùi đầu trong kinh kệ, lời kinh ngắt quãng đêm dài, nhắm mắt lại chẳng thấy Bụt, chỉ thấy sư trẻ. Sư trẻ mặc áo già lam, chuông mõ lốc cốc, mắt độ lượng nhìn bể khổ qua khói hương mờ nhân ảnh, miệng lâm râm Nam mô Quan Thế âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn. Rồi hôm nay với cô, cái duyên nghiệp tích tụ bao lâu vừa sảy ra trong chớp nhoáng như một sát na, trong… nửa tiếng đồng hồ. Nửa tiếng mau như lốc xoáy, nửa tiếng dài như một kiếp người. Cô tin cái sát na vi diệu mà sư thuyết giảng sẽ xuất hiện một lần nào đó trong đời cô, cái sát na nhanh hơn một triệu lần ánh chớp trong…nửa tiếng phù du.
Cô cầu khấn mình là ngọn nến, dù rằng leo lét đấy, sáp nến ròng ròng trong như nước mắt. Trót sinh ra làm kiếp nến, chỉ muốn cháy cho người. Nến đã thắp làm sao tự tắt, cứ đốt mình mà nhỏ lệ sáp khóc cho mình, cho đời và cho người. Cô đang đốt nến đi tìm…người.
***
Trở lại cuộc nói chuyện còn dang dở ở tăng phòng giữa cô và sư. Cô đong đưa tiếp:
– Thì… tín nữ vẫn muốn cái “tịnh lạc” kia, là cái “tình yêu” mà tín nữ đang mơ ước đi tìm.
Sư chắp tay:
– Mô Phật, điều đó ngoài sự hiểu biết của bần tăng. Giờ đến bữa thọ trai, xin cáo lỗi.
Cái lá bồ đề nhặt được ở sân khi vừa tới chùa, cô tính lát nữa về sẽ thả xuống giếng. Chẳng hiểu nghĩ sao cô nhót nhét để lên bàn. Nhưng không qua…con mắt ngoại cảm của sư:
– Thí chủ cứ giữ lấy. Nếu thí chủ từ bỏ nó mà vẫn còn luyến tiếc thì có bỏ đi nó vẫn còn trong tâm nhớ tiếc, càng làm cho thí chủ khổ hơn. Có phải vậy không.
– Đi chùa, lễ Bụt như tín nữ có thế tránh khổ được chăng, thưa thầy.
– Tu ngoài tâm thì làm sao hết khổ được. Dừng dựa vào ai khác ngoài ta.
Cô đau đáu nhìn sư, đó chỉ là cái nhìn mà người đời gọi là tình yêu. Cô níu kéo, cô lẩm nhẩm như tụng kinh vừa đủ cho sư nghe Thiếp như hoa đã lìa cành – Chàng như con buớm liệng vành mà coi. Sư vừa nghe, tay vừa vuốt ve cái mõ…Nghe xong sư ậm ừ u tối:
– Ngày xưa, Lục tổ nghe kinh Kim Cương, chỉ nghe câu “ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” liền khai ngộ. Câu ấy có nghĩa là đừng bám vào cái gì mà để lòng vào. Thí chủ có hiểu không?
Mắt cô cứ dán chặt vào cái chày cồm cộm trên bàn. Cô ngẩng đầu lên và thưa:
– Dạ, đang nghĩ.
Nghe nói thế nhưng sư biết cô chẳng nghĩ gì nên lắc lắc đầu:
– Nghĩ đi.
Rồi gật gật đầu:
– Ừ! Nói vậy chứ thí chủ chưa nghĩ ra được đâu. Không sao. Bây giờ thí chủ chưa nghĩ ra cũng không sao.
Sư quay lưng. Cô gọi với theo:
– Thầy..! Thầy ơi…!
Cánh cửa chùa hờ hững khép lại.
Chẳng một ai thấy cô đi tới giếng ngoài sư. Vì chợt có ngọn gió chuyển mùa tạt qua chùa đẩy cánh cửa hé mở. Trong một sát na, sư bắt gặp cô quay lại nhìn mái chùa.
Cô không ghé giếng nước mà đi thẳng ra con đường mòn. Tay vẫn cầm chiếc lá bồ đề…
***
Cùng lúc ấy vào quá xế trưa, chẳng hay một nhẽ gì sư cả bỏ lửng chuyến vân du lò rò về đến chùa. Vô tình đi qua tăng phòng và dừng lại ngoài cửa từ nãy đến giờ nghe hết mọi sự.
Sư cả tức sư bác gọi sư cháu ra chính điện và ôn tồn hỏi:
– Trưa nay cháu có ngủ được không.
– Thưa bác không.
– Cháu muốn ngủ nhưng lại không ngủ được. Nó không cho cháu ngủ. Vậy chuyện gì làm cháu không ngủ được. Không ngủ được là cái tâm cuồng loạn của ta. Khi thân ta đã nằm yên một chỗ rồi mà nó vẫn không ngừng ngọ nguậy nghĩ này nghĩ nọ. Chừng nào trong tâm còn tham đắm, si mê, buồn phiền, nhớ nhung đủ thứ hết thì ta chưa hóa nghiệp được mình.
Bây giờ sư bác mới vào chuyện:
– Ấy là tiền căn. Đó là nghiệp quả. Kiếp trước cháu đã có chuyện…”không hay” với người ta nên đời nay cháu phải trả món nợ ấy.
Và từ tốn tiếp:
– Bác muốn cháu hoàn tục.
Sư cháu đầu óc bời bời rối, miệp ấp úng:
– Cháu đã nguyện trọn đời nương thân chốn thiền môn.
Sư bác nhìn sư cháu và chậm rãi:
– Cháu đã có ấn chứng với thiên lý nhãn, sao nay không dùng mà soi căn tiền kiếp của mình. Cứ ngồi định tâm thiền định, bác sẽ giúp cho.
Hai bác cháu ngồi kiết già đối mặt nhau. Cả hai nhắm mắt trong tĩnh lặng, buông xả hết mọi tạp tưởng. Không đầy một thẻ nhang, sư bác bắt ấn quyết và gõ một tiếng chuông…
***
Sư cháu nghe tiếng chuông tỉnh thức lại u u minh minh nghe ra như…tiếng chuông tầu điện qua nhang khói hương đèn. Sư cháu thấy một luồng thanh điển đưa mình đến một nơi xa lạ. Quả vậy, sư nhìn thấy rõ mồn một có một cái xe điện sơn mầu đỏ từ Hà Đông đi Hà Nội kéo chuông “kính coong…kính coong…“ chuyển bánh đưa sư về quá khứ.
Trong toa xe trống trơn, trên băng ghế gỗ có một cô gái ngồi đắm chìm vào một khoảng thời gian, không gian khác. Một nới chốn gần xa nào đấy trong quá vãng. Cô lâm râm độc thoại qua những âm vọng dường như thoáng mới đâu đây…
“…Mẹ mất sớm, ở với bố tại một thị xã vắng tanh vắng ngắt, bởi thế tôi có khoảng thời gian thật êm ả, êm đềm. Cuối tuần tôi thường theo mấy chị bạn học cùng trường đi chùa hái hoa cúng Phật. Vì vậy ở tuổi mới lớn, tôi có một nếp sống không quá thánh thiện, nhưng đủ để che dấu tình cảm thầm kín trong tôi với mấy chị bạn lớn tuổi hơn vài lớp này. Bố là công chức nhà nước bảo hộ hay đi công tác xa, thường qua Lào hay Cao Miên cả tháng. Mặc dù thỉnh thoảng phải dùng xe điện để đi học nên cũng quen với cái cảnh người ta bám chung quanh thành xe. Nào khác gì lũ khỉ bám chiếc xe đạp của đám sơn đông mãi võ nơi chợ thị xã Hà Đông nhỏ bé của tôi. Với tôi, mỗi lần đi học là mỗi có những chung đụng ngột ngạt mà tôi phải chịu đựng cho đến một ngày. Hôm ấy tôi lên Hà Nội đón bố đi xa về, người ta chen chúc lấn ép nhau đến chật chột khó thở như thường lệ. Thường thì tôi len ra cửa, hóng mặt ra ngoài để thở…
Lần này len ra đến cửa, bất chợt tôi để ý đến một gã thanh niên có nước da không trắng cũng chẳng đen đứng sau cô gái cạnh cửa xe lên xuống. Vì đứng ngay bên cạnh họ, tôi thấy người gã ép xát sau lưng cô gái, tôi có thể nhìn thấy bàn tay còn lại của gã choàng quanh khoảng bụng của cô ta. Nhưng dù trên xe nồng nặc mùi vị mồ hôi của hành khách, pha trộn với các thứ mùi hàng hoá,vậy mà liếc nhìn thoáng qua mặt cô gái, tôi vẫn có thể cảm nhận được sự thỏa mãn đến đờ đẫn của cô, qua những tiếng rên nho nhỏ len lỏi vào tai tôi. Tôi hoang mang nghĩ đến những chuyến xe đông đúc có kẻ lợi dụng sờ mó mấy chị bạn tôi trước đây. Mỗi lần xẩy ra “sự thể” như vậy, về là họ thầm thì với nhau, đôi khi còn vỗ lưng nhau thùm thụp và nháy nhó nhau một cách thích thú. Ấy vậy mà tôi hóng chuyện nghe như mán nghe kèn.
Và tôi hoàn toàn mù tịt cho đến lần này. Ấy là tôi bắt quả tang bàn tay gã luồn vào trong lớp áo ở bụng cô ta. Tôi không biết bàn tay gã mò mẫm thế nào để bỗng khi không cô gái rướn người lên rồi thở hắt ra…Nhưng tôi cũng biết ý và quay đi không nhìn cái cảnh chướng tai gai mắt ấy nữa…Nhưng chuyện…ngứa mắt của gã, làm như khơi dậy óc tò mò của tôi…
Bỗng bánh xe điện nghiến rít rền trên đường sắt, thắng gấp vì một chướng ngại nào đó ở phía trước. Mọi người xô giạt và tôi bị ép xát vào gã thanh niên. Tay gã buông khỏi thân thể cô gái và ôm ngang hông tôi để giúp tôi không bị nghiêng ngả. Tôi bám vào thành ghế đứng cho vững rồi, vậy mà tay gã vẫn còn đặt bên hông tôi. Lát sau chuyến xe điện chạy qua một ngôi chùa ở thị xã mà tôi vẫn thường hay đi lễ với bè bạn. Miệng gã thì thào qua tai tôi “Nam mô”. Tôi nhủ thầm gã cũng là người hay đi chùa cúng bái đây nên là Phật tử thuần thành nên chẳng có gì phải e dè. Bàn tay chưa rời hông tôi chỉ là vô tâm thôi và tôi cho là vậy nên vẫn để yên.
Tầu ngừng lại, hành khách chen chúc lên xuống đẩy tôi gần gã và cô gái thêm một tí. Bất thình lình xe giật một cái thật mạnh lấy chớn chạy xô tôi lọt thọt lỏn vào giữa hai người. Tôi vội bám vào cái cột xe để tránh xiêu vẹo. Lợi dụng lúc xô đẩy ấy, bàn tay gã ôm lên gò ngực làm như thể để giữ thăng bằng. Chuyện bàn tay vẫn còn ôm hờ lên ngực tôi thì tôi nghĩ gã không vô tâm vô tính nữa rồi vì tôi đã được nghe mấy chị bạn kể nghe qua, nay cớ sự đột ngột lại xẩy ra với tôi. Thế nên tôi vẫn ngậm tăm đợi gã làm gì mà mấy chị bạn tôi lại nháy nhó, cười cười với nhau một cách thích thú đến như vậy.
Tôi phập phồng đợi mãi đến khi bàn tay đó xoa nhè nhẹ ngoài làn vải áo ở bờ ngực của cái tuổi dậy thì. Và cái mà tôi biết họ thích thú…là…là cái rùng mình đến tê tái người mà bấy giờ tôi mới hay. Nói cho ngay, điều tôi không diễn tả được là lần đầu trong đời đụng chạm da thịt với người khác phái khiến tôi có một cảm giác lạ lẫm đến lạ lùng. Lạ đến độ tôi giả bộ như chẳng có gì xẩy ra, chuyện này thì thực tình tôi không nghĩ đến mà chỉ là phản ứng bất chợt. Đúng ra nếu như miệng tôi muốn la lên nhưng hai quai hàm cứ cứng lại. Rồi cái đầu, chẳng hiểu nó xúi bẩy gì để tôi áp chiếc cặp táp da vào ngực để che dấu bàn tay gã vì sợ có ai đó trông thấy.
Quả nhiên gã hiểu ý nghĩ của tôi nên bàn tay gã len dần vào giữa hai khuy áo…Cho đến khi tôi cảm thấy lâng lâng, mê muội là chính lúc hai ngón tay của gã lách hẳn vào trong và mơn trớn gò ngực tôi, mân mê núm ngực nhỏ nhắn đang căng mọng. Toàn thân tôi nóng ran khiến tôi bị thôi thúc nhiều hơn. Những thôi thúc thế nào tôi cũng chẳng mường tượng ra sao nữa. Tôi chỉ biết mím môi ngăn chặn cổ họng khỏi thoát ra những âm thanh âm ỉ như cô gái hồi nãy.
Đồng thời ngay lúc ấy, thấy tôi thụ động không có phản ứng gì, bàn tay ôm ngang hông tôi hồi nãy buông lơi và xoa xoa nhè nhẹ ngoài lớp vải quần. Tôi lại làm lơ đứng chịu trận xem sao, xem có giống như mấy chị bạn lớn tuổi kể lể không. Tất cả chỉ vì tôi tọc mạch muốn biết gã sẽ dở trò gì để mai này góp chuyện với mấy chị bạn vậy thôi. Tay gã tiếp tục vuốt ve hông tôi, thêm một cái lạ nữa để chẳng giải thích nổi là qua bàn tay rờ rẫm ấy, da thịt tôi càng gai gai nổi gai ốc, nhột nhạt như bị kiến bò thì tôi lại cảm thấy gã dễ mến, dễ thương làm sao ấy.
Cùng lúc xe điện sắp sửa ngừng ở bến đậu sắp đến. Nhiều người len lỏi, xô đẩy ra cửa xe, và đẩy gã khít khìn khịt vào người tôi. Khít đến độ thoáng như sau mông tôi như vật gì đó cồm cộm chạm vào da thịt gây cho tôi một thứ cảm giác bứt rứt, ngây ngất xâm chiếm khắp người đến nghẹt thở. Nên tôi phải chồm ra cửa sổ để thở không khí ngoài trời như mọi lần. Như lần này vô tình cái mông nhích cao hơn để vật gì đó cồm cộm có cơ hội cọ xát xàn xạt ngoài lớp vải quần “sa-tanh” mát lạnh làm tôi rạo rực đến ngốt người. Rạo rực người đến độ lạnh cả tay chân, khô cả miệng và lúc này tôi mới hiểu mắc mớ gì cô gái lúc nãy rướn người. Và tôi…
Và tôi cũng rướn người lên, khép mắt lại và thở hắt ra vì những bần thần, ngây ngất không đâu…thì cũng vừa lúc xe điện ngừng lại, cô gái phía trước bước xuống. Gã xuống theo.
Cũng vừa lúc hình ảnh mờ nhạt dần…cô gái và cái xe điện biến mất…
***
Sau khi sư soi căn và biết rõ tiền căn duyên nợ của mình, sư mở mắt thì đất trời đã về chiều. Lúc này sư bác cất tiếng, giọng đều đều:
– Bây giờ, một là cháu đi tìm cô ấy. Hai là cháu ở vậy suốt đời. Nếu lấy cô ấy, trả hết nợ tiền căn thì kiếp sau cháu mới được quy tự, tiếp tục tu hành. Nếu không, cháu sống một cuộc đời nửa tăng nửa tục như lúc này. Thêm một kiếp sau nữa, nếu cháu lại tái sinh mà không trả nợ duyên tơ tóc với cô ta. Sẽ cứ như vậy mãi. Con đường giải thoát của cháu sẽ còn bất tận.
Sư bác nhắm mắt lại, giọng trầm hẳn xuống:
– Cháu hãy ghi nhớ điều ấy.
Rồi sư bác phẩy phẩy tay:
– Đừng chần chừ nữa, cháu về phòng thu xếp. Đóng cửa lại cho bác.
***
Sư bước ra cửa. Cửa chùa khép lại hững hờ, hất sư vào bóng chiều.
Để rửa tâm tiêu nghiệp, sư cúi xuống chỗ rễ cây chen chúc bò trên mặt đất như thân người quấn quýt vào nhau và nhặt lên một chiếc lá…
Sư trẻ cầm chiếc lá đa cắm cúi đi qua cái giếng nước.
Con đường mòn dẫn ra quốc lộ hai bên là cây bồ đề vẫn xa hun hút.
Thạch trúc gia trang
Tết Nhâm Thìn
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
©T.Vấn 2012
