Cải tạo tiếng Việt
Nguyễn Hữu Ngư một mình một chợ đưa ra nhiều thay đổi cách viết trong tiếng Việt như bỏ Y dài thay thế bằng I ngắn, bỏ phụ âm H trong GH, NGH v . v . . . Không ai nghe theo thì ông tự thực hành một mình. Ông bỏ tên Nguyễn Hữu Ngư của cha mẹ đặt để ký biệt hiệu là Nguiễn Ngu Í, Ngê Bá Lí đơn thương độc mã áp dụng lối viết ấy trong các tác phẩm của mình.
Sau 1975 ở hải ngoại cũng có nhiều tác giả đưa ra những cải cách có khi mới, có khi không. Về việc viết I ngắn thay thế Y dài hai nhà biên khảo Lê Hữu Mục và Nguyễn Đình Hòa nêu lại vấn đề này và hỗ trợ nó. Có nhiều người không đồng ý chuyện thay đổi này nhưng có người yểm trợ và người yểm trợ mạnh mẽ nhất là Dương Đức Nhự mà còn đề nghị cả chuyện viết dính liền, bỏ phụ âm H, du nhập chữ cái F, J, W, Z. Ông đề nghị viết ngẫm ngĩ, ngễnh ngãng, gồ gề thay cho ngẫm nghĩ, nghễnh ngãng, gồ ghề; viết zễ zàng, zu dương thay cho dễ dàng, du dương.
Nhà thơ Diên Nghị và Đức Cố hẳn là cũng không tán thành lối cải cách của ông Nhự khi đưa ra thí dụ chép truyện Kiều như sau:
Trăm năm trong kõj người ta
Cữ tài, cữ mệnh qéw là gét nhaw .
Trải kwa một kuộk bể zâu
Những diềw trông thấj mà daudớn lòng
Lạ jì bỉsắc tưfong,
Trời xanh kwen thój má hồng dánh gen.
Kảw thơm lần jở trướk dèn
Fongtình kổlụk kòn trwiền sử xanh . . .
Có thể bị ám ảnh về kiến thức uyên bác của mình, về những điều đã dày công học hỏi và nghiên cứu nên thạc sĩ ngôn ngữ học Dương Đức Nhự thấy cần phải thay đổi một cái gì mà ông cho là mới chăng? Nhưng thực ra những cải cách của giáo sư Nhự tưởng là mới lại không có gì là mới cả. Viết toàn I ngắn thì đã có từ khi Paulus Của viết tên ông là Hùinh Tịnh Của vào cuối thế kỷ thứ 18. Nguyễn Hữu Ngư cũng chỉ làm công việc lặp lại. Còn cộng sản Hà Nội thì quen cách cai trị theo lối độc tài nên đã ra hẳn một pháp lệnh về việc thay đổi I ngắn, Y dài.
(Đặng Trần Huân – Chuyện cải cách tiếng Việt)
Nói lái
Nói lái là để “chơi chữ”, người nói lái dùng cách hoán chuyển chữ, nguyên âm và đấu những từ ngươi đó muốn nói lái, như:
Con cá đối nằm trên cối đá
Hoặc giả như:
Cô nàng dâu hứa đi mua dưa hấu
(Nguyễn Hữu Phước – Nói lái)
Gìn
Gìn: giữ
(gìn vàng giữ ngọc cho hay)
(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)
Bằng hữu kim kỳ phú
Bài phú của Nguyễn Đôn Phục, ông đỗ cử nhân khoa quý dậu năm thời Tự Đứclà một kho ngôn ngữ dân gian gồm những tục ngữ, thành ngữ, phương ngôn cúa một vùng đất, hàm súc về nhân sinh, tình yêu, tinh bè bạn ..v..v.. Nguyễn Đôn Phục xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, chọn lọc từ khó tàng văn học dân gian đem sắp xếp hệ thống lại một cách công phu trong bố cục của một bài phú có vần điệu, có đối xứng theo luật bằng trắc vừa kết hợp được tính cổ điển và tính dân gian phóng khoáng từ thời Tự Đức thứ 26 (1873).
Khôn thì sống, mống thì chết, lời kia tục những thường rằng; Đầu trở xuống, cuống trở lên, lẽ ấy ai mà chẳng thấu.
Người hiền xem tướng, rậm mày thì ắt cả lông; Đầy tớ kể công, cao ngày lại thêm dày kén.
Đừng lo mụ vãi trọc đầu, chớ sợ con đò khát nước .
Vì con heo phải đèo khúc chuối, công phu đã chẳng so đo; liều nắm cải vãi vườn dâu, ngày khắc họa nên cây trái.
Nghĩ nào sợ chết thiêu cháy dái, hơi đâu lo làm đĩ thủng đồ.
Thà khi đầy tớ người khôn, hơn lúc quân sư đứa dại.
Bụng làm dạ chịu, có gian thì có ngoan; mũi dại lái mang, làm lớn ai cho làm láo.
Vì muốn cho bán thịt mua lòng, dễ tránh lúc đau chân há miệng.
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Anh đi em nắm cổ tay,
Anh về em nắm chỗ này chỗ kiạ
Anh đi nhà vắng lặng câm,
Anh về giường chiếu reo ầm cả lên.
Ngựa và dê
– Đệ hỏi quan bác chứ tại sao người ta gọi “con Lan ngựa”…
– Triều đình nhà Nguyễn có trại kỵ binh ở Cửa Thượng Tứ. Kỵ binh gặp những cô gái Huế ở đây vui tính làm sao ấy nên có câu “ngựa Thượng Tứ”. Nhưng ấy chỉ là kỳ tích một thời thôi…
– Còn “lão già dê”…
– Chắc là người ta thấy con dê đầu đàn nhẩy ngựa với cả bầy dê cái chứ gì.
– Tại sao không chỉ cho trai trẻ mà lại là…lão.
– Vậy chứ bác không thấy con dê nào cũng có chòm râu…dê sao.
– Ừ nhẩy.
Truyện Kiều bằng chữ quốc ngữ I
Sau này nhiều văn gia dịch và chú thích truyện Kiều bằng chữ quốc ngữ như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Đà. Tuy nhiên với Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim được xem là chính xác nhất.
Không phải chỉ dịch từ bản Phường mà vì những tiếng riêng của vùng Hà Tĩnh, vốn quê hương của Nguyễn Du đã được dịch đúng âm của vùng này. Thí dụ như bản dịch của Tản Đà:
Thoi vàng bó rắc, gio tiền giấy bay
Bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh:
Thoi vàng hồ rắc, tro tiền giấy bay
Bản dịch của Trần Trọng Kim:
Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay
Dân Nghệ Tĩnh gọi vàng hồ là vàng vó. Như vậy “vàng vó” đúng với nguyên bản của Tiên Điền.
(Trần Bích San – Văn Khảo)
Giòn
Giòn: đẹp, tươi tắn
(người giòn: người đẹp)
(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)
Tục bắt chạch
Tục lệ nầy được tổ chức tại làng Văn Trưng, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên. Mỗi năm, vào ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch thì lễhội được tổ chức, sau khi cúng tế xong. Những người tham dự cuộc bắt chạch là những đôi trai gái thân thiết nhau từ trước, mượn dịp nầy để có thể phô bày những cử chỉ phóng túng đến suồng sả cả hai bên. Trạch là loại lươn mình trơn láng, thân dài và khó bắt. Đã vậy, miêng chum đựng chạch lại nhỏ, khít cổ tay, nên vận động khó khăn. Cứ mỗi đôi trai gái, một tay thì thay phiên nhau khoảng vào chum; tay kia thì ôm lưng người con trai và ngược lại. Những cậu trai thường nhân dịp nầy thuận tay bóp nhũ hoa những cô gái một cáchtự nhiên và không bị kháng cự lại. Trong khi đó thì dân tronglàng, thậm chí cha mẹ họ cũng cổ võ, khuyến khích chuyện tự do luyến ái nầy.
Nhìn chung lại, tín ngưỡng phồn thực mang những nét chính yếu nhưsau: (a) Những đôi trai gái mượn dịp nầy để tình tự, sờ soạng vào nhau mà không bị một lễ nghi nào ràng buộc. (b) Dân chúng thường khoác lên những trò chơi ý nghĩa tín ngưỡng.Theo họ, nếu bãi bỏ những trò nầy, dân làng sẽ mang họa trong năm tới. (c) Bất chấp những chỉ trích, chê bai, dân trong làng vẫn xem đó là những yếu tố tinh thần và tín ngưỡng bắt buộc. Đây cũng là một trong những hình thức chống đối lại lễ nghi Nho giáo cũ.
(Hội tết làng Xưa – Khuyết danh)
Tiếng nói xưa và nay
– Tuổi tác: “Tác” là tiếng Hán cổ, cũng có nghĩa là tuổi.
Giai thoại làng văn
Thấy tôi, Huy Cận khoe vừa dịch bài thơ tình của Arvers (Sonnet d’Arvers): “Mon âme a son secret, ma vie a son mystère”. Bài này đã có một bản dịch rất được truyền tụng của Khái Hưng “Lòng ta chôn một khối tình, Tình trong giây lát mà thành thiên thâu…”.
Huy Cận đã đọc cho tôi nghe bản dịch của anh và lấy làm đắc ý:
“Tôi dịch sát nghĩa hơn bản dịch của Khái Hưng chứ!”
Xuân Diệu mắng luôn: “Dịch sát nghĩa mà là hay à?”.
Xuân Diệu rót nước ra cốc mời tôi uống. Huy Cận hỏi: “Nước mơ hả?”. Lại bị Xuân Diệu mắng: “Mơ mơ cái gì, làm gì có mơ!”.
Thấy Huy Cận cứ nói chuyện với tôi, Xuân Diệu lại mắng nữa: “Anh Mạnh anh ấy đến chơi với tôi chứ, sao cứ nói mãi thế!”.
Tôi rất lấy làm lạ: Sao Xuân Diệu cứ mắng Huy Cận như mắng con nít mà toàn chuyện chẳng đáng gì cả! Một lát, Quang Huy đến. Huy Cận ra làm việc với Quang Huy ở phòng ngoài. Xuân Diệu giải thích với tôi: “Dạo này làm được mấy bài thơ, cứ hoắng lên. Mình phải mắng cho cụt hứng đi, đỡ chủ quan. Cứ tưởng bở!”
(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)
Truyện chớp: Truyện văn chương
Ðêm, đang ngủ, hắn chợt nghe ai đó đọc thoảng qua tai một bài thơ tuyệt hay. Hắn vội vã bật ngọn đèn ngủ, với tay lấy xấp giấy và cây bút, chép ngay bài thơ ấy. Hắn tắt đèn, ngủ lại. Sáng dậy, nhìn lại trang giấy, hắn giật mình thấy chỉ có một bãi nước bọt.
Thành ngữ ta và Tầu
Trai cò mổ nhau, ngư ông đắc lợi
(Bạng duật tương trì ngư ông đắc lợi tiếu)
Giai thoại làng văn
Hoàng Ngọc Hiến thường có những nhận xét rất gọn và rất ác về người này người khác. Có lần tôi nhận xét, các danh nhân thế giới thường là người ở các tỉnh nhỏ, nhưng về thủ đô thì thành danh nhân. Danh nhân người gốc ở Thủ đô rất ít. Như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Hồ Chí Minh… Vì sao Hồ Chí Minh chết đúng vào ngày Tuyên ngôn độc lập 2.9? Hiến giải thích :
“Vì ông cố tình chết vào ngày ấy. Ông Hồ là đáo để lắm. Chỉ cần dứt đứt các giây dợ ở ống thở ôxy là chết chứ gì”.
(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)
Giớn giác
Giớn giác: ngơ ngác
(Tự điển tiếng Việt cổ – Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)
Chữ nghĩa làng văn
Nhu cầu sáng tạo ra những từ ngữ mới táo bạo là của nhà văn là ngôn từ và việc nhà văn nào cũng khát khao. Từ xưa đến nay đều như vậy. Nhưng táo bạo nhất thì phải kể đến bà chúa thơ Nôm:
“Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom”
Giữa cái cảnh ao tù nước đọng ngày ấy, một từ như từ “phòm” ném ra ở đây thì đúng là một quả bom – như cách nói bây giờ đó còn là một quả bom sex nữa kia.
Đây là một từ thuần Việt trước Hồ Xuân Hương chưa ai dùng và sau bà cũng chẳng ai dám dùng. Vì nó độc quá, tức là nó đúng quá, nó theo nguyên tắc dùng cấu trúc phát âm để tượng hình, nó được dùng đúng chỗ và rất đắt.
Nổi bật ở đây là từ “nứt” và đặc biệt là cụm từ “hỏm hòm hom”, một nhóm từ độc đáo và tài tình, như nét mực bổ sung tô đậm thêm cho lý do tồn tại của từ “phòm”.
Hãy thử hình dung, nếu không có cụm từ bổ trợ ấy thì từ “phòm” sẽ chân không bén đất, cật không bén giời, lơ lửng thế chưa chừng đổ cũng nên! Có lẽ chính vì thế mà mặc dù xưa nay thiên hạ đều bái phục cái cách dùng từ tài tình hy hữu này, nhưng từ sau lần ra mắt đó đến nay, chưa một ai dám dùng lại nó, vì nếu không thì phải dùng luôn cả cụm từ hỗ trợ sau đó, mà như thế thì bất tiện quá, thành ra…”đạo văn” rồi còn gì.
(Anh Ngọc – Tản mạn về từ mới)
Dê đực, dê cái
Người ta chỉ nuôi dê cái, còn dê đực cả bầy chỉ nuôi một con thội. Nếu có anh chàng dê con ra đời, môt sớm một chiều sẽ bị ngả thịt vì không muốn…loạn bầy.
(Phụ chú: Sao gọi đàn ông 35? Vì đánh số đề con dê mang số 35)
Phùng Quán
Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đã xuất bản “Nhà văn Việt Nam hiện đại”, dày 1200 trang khổ lớn, tập hợp chân dung trên một ngàn nhà văn các thế hệ, từ các cụ Ngô Tất Tố, Phan Khôi… cho đến lớp nhà văn vừa được kết nạp như Nguyễn Danh Lam, Phan Huyền Thư…
Tuy vậy, ở một số tác giả có quá trình “phức tạp” (như Hữu Loan, Phùng Quán, Trần Dần, Lê Đạt…) bạn đọc không thể thoả mãn với cách lược ghi bạn đọc không thể thoả mãn với cách lược ghi, đại thể như với Phùng Quán, “quá trình học tập, công tác, sáng tác” chỉ vẻn vẹn một dòng: “Tham gia quân đội trong thời kỳ chống Pháp, sau chuyển sang làm công tác văn hoá”.Đã đành, đây là một sự chọn lựa khó khăn của Ban biên tập, nhưng vụ “Nhân văn” đã qua nửa thế kỷ (thời gian cho phép “giải mật” nhiều loại hồ sơ…), một số tác giả lại vừa được tặng “Giải thưởng Nhà nước”, thiết nghĩ Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam không nên tránh né một sự thật mà thiên hạ đều đã biết.
(Nguyễn Khắc Phê – Nhà văn hiện đại)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2025
