Chữ nghĩa máy vi tính
Xưa, giai thoại được truyền miệng từ người này sang người khác nên được gọi là văn học dân gian. Nay, chuyện dân gian được nhặt nhặn trên internet…
Theo trung tâm dự báo thời tiết, các tỉnh miền Đông Nam Bộ:
Đêm không nắng, ngày vắng sao, nhiệt độ thấp nhất trong phòng máy lạnh là 16 độ, nhiệt độ sôi của nước là 100 độ.
Con nhạn, con cò
Trong Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn khi tả cảnh người chinh phụ theo dõi bóng người chinh phu có câu: “Nam lai tỉnh ấp bán phong trần – Lạc nhật bình sa nhạn nhất quần”.
Bà Đoàn Thị Điểm dịch thoát là: “Nhà thôn mấy xóm chông chênh – Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm”.
Tại sao “nhạn” lại biến thành “cò”?
Vì rằng chim nhạn bay có thứ tự nên gọi là “nhạn tự”. Mùa thu đi, mùa xuân lại nên còn gọi là “hậu điểu”.
Ta còn gọi là con mòng.
Mòng, họ cò, nên bà Đoàn Thị Điểm đã dùng “cò” là thế.
(Thiều Chửu)
Địa danh miền Nam
Châu Đốc: Phát hiện năm 1942. Từ tháng 2 đến tháng 4/1944 được Louis Malleret, nhà khảo cổ người Pháp, khai quật lần đầu ở nhiều địa điểm khác nhau trên cánh đồng Óc Eo bên chân núi Ba Thê – Châu Đốc. Những công bố sau đó của ông về bằng chứng của vương quốc Phù Nam cổ xưa, ước vào đầu công nguyên đến thế kỷ VII, đã bị tiêu diệt.
Vùng đất miền Nam đã thành hình trong lịch sử Việt Nam chỉ vào khoảng 400 năm, kể từ thế kỷ XVII. Trước thế kỷ thứ VI, đây là một vùng đất hoang vu thuộc Vương quốc Phù Nam. Trường Viển Đông Bác Cổ, sau cuộc khám phá các di tích ở vùng núi Ba Thê-Châu Đốc) đã gọi thời này là nền văn minh Óc Eo. Sau thế kỷ thứ VI, sắc tộc Kambuja từ miền Bắc tràn xuống đã phá tan vương quốc Phù Nam và thành lập vương quốc Chân Lạp. Vương quốc Chân Lạp đã nổi tiếng vì sự nghiệp xây dựng một kỳ công kiến trúc: đền đài Angkor vào thế kỷ XII! Vương quốc Chân Lạp đã suy yếu vì những cuộc tranh dành nội bộ cộng với sự lấn chiếm của lân quốc Xiêm. Họ đã phải ba lần dời đô, từ bỏ Angkor để qua Oudong và sau cùng dừng lại ở Phnom Penh. Vì vậy có thể nói, xưa kia Châu Đốc là cố đô của vương quốc Phù Nam.
(Trần Ngươn Phiêu – Cù Lao Phố)
Ca dao tình yêu miền Nam
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị, hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu miền Nam. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, qua những từ ngữ mộc mạc, chân thật…
“Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương”.
(Đoàn thị Thu Vân – Chất hóm hỉnh trong ca dao miền Nam)
Địa danh miền Nam
Đồng Tháp Mười: Địa danh một vùng rộng lớn không có ranh giới rõ ràng ở đồng bằng sông Cửu Long.
Theo phát hiện lịch sử khảo cổ học:
Tháp Mười là một trong những ngôi tháp bằng đá, do vua Jayavarman VII (1181 – 1218) xây cất trên khắp lãnh thổ để thờ vị thần Bàlamôn Lockecvara. Năm 1932, nhà khảo cổ người Pháp là Parmentier vào Tháp Mười và đã phát hiện ra ngôi tháp đổ nát, còn sót lại một tượng sư tử và một linh phù (linga) bằng đá, dưới bệ đá có khắc chữ Bắc phạn (sanskrit) ghi tên tháp thứ 10.
Chữ và nghĩa
Tú tài: người tài giỏi.
Cử nhân: đề bạt người.
Tiến sĩ: dâng người lên vua.
Văn Bắc, văn Nam
Về sự tiếp nhận văn hoá Trung Hoa, từ Bắc vào Nam, vẫn có sự khác biệt, thời nào cũng vậy những tác gia văn học lớn, những sự kiện văn học lớn thường xuất hiện ở ngoài Bắc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà, Thơ mới lãng mạn, Tự lực văn đoàn, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao.
Cho nên chủ nghĩa thực dân xâm nhập vào miền Nam rất sớm, ngay từ cuối thế kỷ XX. Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản đã là những trí thức Tây học và đã viết văn quốc ngữ theo bút pháp phương Tây hiện đại. Như vậy là cái tôi cá nhân đã có điều kiện thức tỉnh rất sớm. Vậy mà tiếng nói văn chương của nó phải đợi đến những năm 30 của thế kỷ XX mới thực sự ra đời với văn thơ miền Bắc. Ở Nam bộ, theo Xuân Diệu, cái tôi cá nhân chỉ có thể cất lên thành ca cải lương trên cơ sở nhạc tài tử ở miền Lục tỉnh.
Nhà văn đích thực của Nam bộ cao nhất chỉ đến Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Sơn Nam. Văn Nam bộ hay nhất không ở tư tưởng mới lạ mà ở thứ ngôn ngữ địa phương bộc trực, chắc khoẻ, góc cạnh, đầy sức sống. Nhưng các tác giả thường lạm dụng thứ ngôn ngữ ấy khiến văn của họ trở nên thiếu trong sáng, khó đạt tới trình độ chuẩn mực cổ điển.
(Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh)
Gác cu và cầm chầu
Hỏi: Người xưa có câu:
“Ở đời có bốn cái ngu
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”
Làm mai, lãnh nợ thì dễ hiểu rồi. Chỉ có gác cu và cầm chầu, tại sao cũng được xếp vào bốn cái ngu. Không lẽ gác cu không chỉ đơn giản là gác chim và cầm chầu không chỉ đơn giản là vỗ tay khen sao? Có ai biết giải thích dùm cái coi.
Đáp: Gớm, bác lấy câu lấy cú ở đâu ra nhiều thế hả…
Gác cu: cực lắm chứ? Nhiều khi ăn chực nằm chờ dầm mưa dãi nắng đến mấy ngày mới thấy con… cu chui vô … lồng
Cầm chầu: Nếu khỏ trống khen chê không đúng chỗ là thiên hạ từ đào kép cho đến khán thính giả chê là… thấp lè tè. Tóm lại là chết nhiều hơn sống. Chả nhẽ đúng hoài!
Xét cho cùng vì đi “ôm cái đổng” vào người cho dễ bị chúng chửi hoặc đổ thừa nên “được” gọi là 4 cái ngu nhưng đối với nhiều người thì đó là những trò… giải trí dễ đam mê, thật hứng khởi!
(Nguồn ĐatViet.com)
Ông Khai Trí…
Ông có thú đam mê ký lạ về sách. Ngay từ nhỏ học tiểu học, mẹ cho hai đồng ăn sáng thì ông ăn xôi một đồng, còn một đồng mua tờ báo. Lên trung học, ông nhịn ăn cả tuần để dành tiền mua sách. Sau này cuộc đời ông gắn bó với sách, với chiếc xe đạp tà tà , ông la cà những tiệm sách cũ xa, gần, ông biết rõ những quầy sách to, nhỏ, sách mới hay cũ, thường hay hiếm . Ông hay đến phòng đấu giá mua từng chồng với giá rẻ, quyển nào thích giữ lại, còn thì mang gửi tiệm sách bán, cứ thế dôi ra một ít. Ông lại liên lạc với nhà xuất bản bên Pháp mua sách về và gây dựng nên tiệm sách và nhà xuất bản Khai Tri ở số 60-62 Lê Lợi.
Ông với vẻ ngoài ít nói, và dường như hơi cục mịch nhưng tốt bụng, ông giúp đỡ rất nhiều văn nghệ sĩ và học sinh, sinh viên nghèo ham học. Ít ai biết tên ông là gì ngoài gọi là ông Khai Trí. Tên thật ông là Nguyễn Hùng Trương, mất ngày 12.3.2005.
(Hoàng Ngọc Liên – báo Sài Gòn Nhỏ)
Già làng
Xưa, lễ lên lão được gọi là “ra lão” hay “xuất lão”. Ca dao có câu “Xuất lão vô sự, mũ ni che tai, gác bỏ sự đời” hay nôm na là “sống lâu lên lão làng” nên gọi là “già làng”.
“Triều đình trọng tước, hương đảng trọng xỉ ”, nên nhiều làng còn gọi già làng là quan lão hay “xỉ tước”: Xỉ là răng (tức gẫy răng).
Khi làng có việc, tùy theo tuổi tác, già làng được ngồi ngang hàng với các quan viên chức sắc và quy định là 60 tuổi được ngồi với tú tài. 70 tuổi ngang với cử nhân. 80 tuổi ngang với tiến sĩ.
(Trần Ngọc Thêm – Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam)
Tục ngữ Ta và Tầu
Biết thì thưa thốt, không biết thì dự cột mà nghe.
Tri vi tri, bất tri vi bất tri, thị tri
(Biết thì nói là biết, không biết nói là không biết, mới là biết)
(Nguyễn Lập Sơn – Dư Phát Linh)
Truyện chớp
Tôi nhìn đồng hồ hai cửa sổ không người lái trên tay, bây giờ đã 6 giờ sáng. Bật kênh phát sóng số 3 nghe bản thông tin, TV tiên đoán hôm nay có khả năng mưa. Vẫn còn quá sớm để thức dậy, nhất là hôm nay Thứ Bẩy tôi không phải động não đi quảng trường quy hoạch quy trình cho nhân viên được quán triệt phương án, tôi ráng động viên cơ thể đứng dậy, bước ra khỏi giường.
(Nguyễn Tài Ngọc – Tình yêu phai nhạt)
Chữ nghĩa biên khảo: Họ và tên
Chuyện họ tên ở nước ta bắt đầu lộn xộn từ bao giờ? Nói khác đi, tục ban họ vua ở nước ta có từ bao giờ ? Năm 1232, Trần Thái Tông ban những chữ quốc húy và miếu húy. Vì cha tên là Lý nên bắt tất cả những người họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn. Nguyên nhân sâu xa là để tuyệt lòng mong nhớ của dân đối với nhà Lý.
Không hiểu lòng dân mong nhớ ra sao mà đến nỗi để xảy ra một thảm họa.
Khi ấy Trần Thủ Độ chuyên chính, giết Huệ Tông, khiến tôn thất nhà Lý bùi ngùi thất vọng. Mùa đông năm 1232, nhân dịp người họ Lý làm lễ cúng các vua Lý đời trước ở thôn Thái Dương xã Hoa Lâm, Thủ Độ sai người ngầm đào hố sâu, làm nhà lên trên, đợi khi người ta uống rượu say, giật máy chôn sống hết. Bị tàn sát chỉ vì mang họ Lý !
Đời Trần Nhân Tông (1282), có con cá sấu đến sông Lô, vua sai hình bộ thượng thư là Nguyễn Thuyên làm bài văn tế ném xuống sông. Cá sấu tự nhiên bỏ đi. Vua cho việc này giống việc của Hàn Dũ, bèn cho Nguyễn Thuyên đổi họ thành Hàn Thuyên.
Hồ Quý Ly vốn họ Hồ, được Lê Huấn nhận làm con nuôi và cho đổi sang họ Lê. Đến khi cướp được ngôi nhà Trần, lại bỏ họ Lê lấy lại họ Hồ. Sử chép rằng năm 1400, Trần Vấn và Trần Tùng được Hồ Quý Ly ban họ Hồ. Rất có thể Hồ Quý Ly là người đầu tiên nhập cảng trò ban họ vua vào nước ta.
Năm 1460, Lê Thánh Tông bắt người họ Trần phải kiêng huý, đổi thành họ Trình.
Minh Mạng nhà Nguyễn có 142 người con. Để tránh rắc rối cho đời sau, ông có sáng kiến làm một bài thơ 20 chữ ( Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh…Thế, Thuỵ ), mỗi chữ sẽ được dùng làm tên đệm cho một thế hệ con trai. Chỉ những người có tên đệm kiểu này mới thuộc dòng chính thống, mới có thể được lên làm vua.
Được vài đời, có người cách tân, dùng chữ đệm thay cho họ. Từ đây, xảy ra trường hợp cha và con mang họ khác nhau: ông Ưng A, đặt tên con là Bửu B. Con Bửu B sẽ có tên là Vĩnh C, v..v..
(Nguyễn Dư – Chimviet.free.fr)
Hồng Lâu Mộng
Hồng lâu mộng (hay tên gốc Thạch đầu ký) là một trong bốn kiệt tác (tứ đại kỳ thư) của văn học cổ điển Tàu (3 kiệt tác kia là Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, Tây du kí của Ngô Thừa Ân và Thủy Hử của Thi Nại Am). Tác phẩm được Tào Tuyết Cần sáng tác trong khoảng thời gian giữa thế kỉ 18 triều đại nhà Thanh của Trung Hoa.
Tác phẩm xoay quanh câu chuyện tình duyên trắc trở giữa hai anh em con cô con cậu: Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, từ đó mô tả cuộc sống nhiều mặt của một đại gia đình quý tộc đời Minh từ lúc cực thịnh cho đến lúc suy vi trong vòng tám năm. Với hơn 100 triệu bản được xuất bản, tiểu thuyết này trở thành một trong những sách bán chạy nhất của mọi thời đại.
Tứ thời bát tiết
Tứ thời (4 mùa): Xuân, hạ, thu, đông.
Bát tiết (8 tiết trong năm): Gồm “tứ lập” và “nhị phân, nhị chí”.
Tứ lập (đầu mùa): Lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông.
Nhị phân, nhị chí (cuối mùa): Xuân phân, thu phân,
hạ chi, đông chí.
(Bút Chì – Hiểu đúng thành ngữ, tục ngữ, điển tích)
Ngộ Không
(Sưu Tập)
©T.Vấn 2025
