Giáo Sư CAO THẾ DUNG
LỜI GIỚI THIỆU
Chúng tôi vừa nhận được tập sách NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG của nhà văn Khải Triều viết về 16 khuôn mặt văn chương của Văn Học Việt Nam (và cũng là những người bạn của tác giả). Nhận thấy đây là một tập tài liệu văn học rất hữu ích cho các nhà làm văn học sử Việt Nam nên chúng tôi sẽ cho giới thiệu từng kỳ trên TV&BH, mỗi kỳ một tác giả để tiện cho người đọc quan tâm đến từng tác giả theo dõi. Sau đó, khi công việc giới thiệu 16 tác giả hoàn tất, chúng tôi sẽ cho phổ biến toàn tập sách NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN CHƯƠNG của nhà văn Khải Triều dưới dạng sách điện tử (PDF) trong khuôn khổ chuyên mục TỦ SÁCH ĐIỆN TỬ T.VẤN & BẠN HỮU.
Xin cám ơn nhà văn Khải Triều đã tin cậy gởi gấm tập tài liệu quý giá này cho TV&BH. Như chúng tôi đã từng thưa với các tác giả và quý bạn đọc, ngoài công việc giới thiệu tác phẩm, trọng tâm của TV&BH còn là lưu trữ và gìn giữ các tác phẩm đã giới thiệu để các thế hệ đời sau có cơ hội tiếp cận với gia sản văn học mà chúng ta sẽ để lại cho họ.
TV&BH
LỜI MỞ
Xin thưa ngay với quý vị đang có quyển sách này trên tay, rằng đây không phải là một tác phẩm biên khảo về văn học, mặc dù người viết nhận đây là những người bạn văn chương của mình. Bởi vì mỗi người trong số 16 vị này, đều có tác phẩm, thơ hoặc văn. Có người chỉ có một tập thơ, một quyển sách hay có người bạn cách xa nhau cả 40 năm trời, nhưng khi gặp lại nhau thì trao cho nhau một cục USB, chứa những tài liệu về lịch sử v.v…Có thể gọi là tiểu thuyết lịch sử dài! Đấy như thể là một “cám dỗ”, một “sợi chỉ điều” để liên kết, để “ngồi xuống” với nhau trên trang sách này, nhất là trong thời buổi rất dễ phân tán, rất dễ “xa nhau” này vậy!
Mặc dù sách không phải là tác phẩm biên khảo văn học theo nghĩa chặt của ngành nghiên cứu văn học trong trường, nhưng người viết sẵn sàng đi vào một con đường khác, không phải là lối cũ, để thưởng thức những trang văn, thơ của bạn mình, rồi mạnh dạn giới thiệu với quý vị. Chỉ tiếc một điều, chúng tôi, tác giả, không còn nhiều thời gian để cùng với quý vị nhấp chén rượu có thể ngọt, có thể cay và cũng có thể là chua chát, tùy ở tâm thức mỗi vị, nơi những người bạn khác không cùng với 16 vị và chúng tôi đi trên con đường độc đạo, nhưng có những hoa thơm, đồng cỏ lạ, suối nước mát.
Vì vậy trong số 16 vị này, người viết đã có những kỷ niệm sâu đậm hoặc thoáng qua, nhưng đã như là “vụ-nổ-tình-cảm” nên thấm sâu vào nội tâm mình, có người hơn nửa thế kỷ, có người thì bốn mươi năm hay mười năm. Người viết rất yêu quý những mảnh tình cảm đặc biệt này, coi như ân nghĩa trong đời mình. Chính điều này đã thúc đẩy người viết, dù đã bước vào chặng cuối cuộc đời, cũng luôn thầm nhủ trong lòng là phải thực hiện cho xong quyển sách này.
Xin cảm ơn các bạn. Chính các bạn đã tạo thành những trang sách này. Cho nên, nó thuộc về các bạn. Với người đã “VỀ!”, đây là quà tặng của họ gửi chúng ta và xin trao cho đời.
Xin được nhắc lại với độc giả, chúng tôi viết cuốn sách này cũng như cuốn Những nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay, năm 2022, chỉ với mục đích giới thiệu về những bài thơ cũng như một số nhà thơ, một số tác giả đã khuất, chúng tôi không làm công việc của nhà nghiên cứu hay biên khảo chuyên biệt. Chúng tôi nhớ đến lời trong Tin Mừng, (Lc 19, 11-28) nói về những nén bạc ông chủ trao cho những người làm công, rồi ông trẩy đi xa. Sau khi ông chủ trở về, ông gọi tất cả những người ông đã trao cho họ những nén bạc. Có người đem nén bạc ấy ra làm ăn, có sinh lời. Nhưng cũng có người đem chôn nén bạc nên không sinh lời. Tôi hiểu rằng, những tài liệu, sách báo tôi có từ trước kia và sau này là những nén bạc tôi đã nhận từ những yêu thương của bạn hữu trong các quan hệ ở đời, như tôn giáo và xã hội. Tôi đã đem ra giới thiệu với độc giả, chứ không cất giấu hay giữ làm của riêng mình. Tôi chỉ là người làm công cho Ông Chủ. Và tôi thấy có hạnh phúc, có an bình khi làm việc này.
Có mặt trong sách này là 16 khuôn mặt văn chương, cũng là 16 cây bút về thơ, văn, truyện, truyện lịch sử, có người đi từ buổi kháng chiến, Tự vệ thành, rồi thất vọng trên mảnh đất phương Nam; có người vì lý tưởng mà mất người tình; có nhà thơ mà tuổi trẻ là một võ sĩ địch muôn người, rồi trở nên nhà thơ có thơ trải dài trên Núi Cúi và khắp bờ biển Đông. Chúng ta cũng có nhà quan sát, lý luận về vấn đề dân chủ tại Việt Nam, về tranh chấp biển đông. Và có nhà thơ trở về từ hậu bán thế kỷ 20, không bao giờ thấy ông hồn nhiên sống với vợ và con cháu trong nhà. Viết mấy thi tập trường thiên về dân tình mà tác giả vẫn thôi khóc. Rồi sang đến xã hội mới, ông lại buồn chán vì nỗi thù hận từ hai cuộc chiến tranh đau thương và chia cắt.
Bây giờ, nhân loại đã bước vào năm 2000, mà thù hận nhau, chia rẽ nhau vẫn chưa hàn gắn được. Đó là một di sản chẳng ai muốn có và muốn để nó cứ diễn ra mãi, vì nó chỉ mang lại mất mát về tình đoàn kết và sự thân tình của con người với nhau. Nó cho thấy, xã hội ấy thiếu văn minh, thiếu nhân văn. Một xã hội như thê, hỏi ai là “kẻ sĩ”? Thời đương đại không còn “kẻ sĩ” như thời Cha, Ông mình. Nhưng, vẫn còn có những nhà thơ, những thi sĩ vốn nhận cái đau của dân tộc, của Tổ quốc, của người bần cùng, người đau khổ, nghèo đói làm cái đau của mình. Chúng tôi không tiện nói ra, nhưng độc giả có nhận thức, có lòng mộ mến văn chương và thi ca, hẳn cũng thấy được trong sách này, bóng dáng của những nhà thơ hay nhà văn có tấm lòng tha thiết, thương người cùng khổ. Có thể, đấy là những “Kẻ sĩ” thời đương đại.
Vì vậy, sách có nhiều thành phần, nhiều khuynh hướng: Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, không tôn giáo và đạo gia tiên.
Sách có mấy tác giả đã khuất bóng, (6 người), chúng tôi viết về họ như nén hương lòng dâng lên vong linh họ, xin cho các tác giả này được về nơi vĩnh hằng.
KHẢI TRIỀU
Chúng tôi chia bài viết về Cao Thế Dung ra hai phần. Phần I là những hoài niệm của tình thân hữu giữa anh Dung và tôi. Phần II đề cập đến tác phẩm của ông và những cuộc phỏng vấn hay những bài viết của các tác giả viết về ông, khi ông còn sinh thời hay sau ngày ông khuất bóng.
Phần 1
Cao Thế Dung với Khải Triều
Ngày Cao Thế Dung “Về Cõi Tiên”
Tôi nhận được tin từ Canada nói anh Cao Thế Dung mất ngày 31 tháng 10 năm 2017. Lúc đó tôi đang ở quê nhà mình, Phú Xuyên, Hà Nội. Tôi về “nhà mình” từ ngày 25 tháng 10 ngay sau khi nhận được tin báo của các cháu “Mẹ con đau nặng. Xin cậu về ngay”. Một lát sau, giọng một cháu nữ tu lại gọi “Ông về ngay, nếu trễ thì chỉ thấy xác bà nội con thôi!” Giọng nó có vẻ giục giã. Vậy là tôi về.
Ngày 30 tháng 10 năm 2017, chị tôi qua đời trong vòng tay của con cháu, người thân và xóm giềng. Bà đi nhẹ nhàng, êm ái, thánh thiện, tôi ít thấy.
Tôi ở lại “nhà” đúng một tuần lễ. Tâm trí tôi lúc nhớ về người chị vừa mất, khóc hoài với các cháu của tôi. Có lúc như lạc mất trí, bồng bềnh, viễn du. Lúc tỉnh thì lại nhớ đến anh Cao Thế Dung, người có nhiều kỷ niệm để lại trong tôi. Cho nên, về tới nhà trong Sài Gòn tôi chưa thể làm việc được ngay, phải mất hơn một ngày, tôi mới mở hộp thư đến. Các bạn ở bên này gửi tin về cho tôi, rồi viết một bản Phân Ưu của các bạn phụ trách hoặc ít nhiều có bài đăng trên Bán Nguyệt san Quần Chúng, từ 1968-1970, gồm bộ cũ và bộ mới.
Có một điều khá đặc biệt về anh Dung qua đời. Đó là Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, 38 Kỳ Đồng Quận Ba, đã viết một bảng thông báo: Nhà văn, Nhà giáo Cao Thế Dung đã từ trần tại Hoa Kỳ…Tấm bảng này dựng ngay bên trong cổng ra vào, sáng ngày 13-11-2017 mới cất đi. Thay vào Thông báo là bài của Phạm Trần: “Cao Thế Dung và cuộc thảm sát TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu”.
Mấy ngày sau, tôi nhận được mấy tấm hình chụp trong thánh lễ an táng anh Cao Thế Dung tại nhà thờ, ấm cúng, thiêng liêng, có nhiều người tham dự. Trên bàn thánh, tôi thấy có 5 cha đồng tế, thì đối với người tín hữu bình thường, điều này không thể có được. Vậy, anh Cao Thế Dung phải là người có những công trình rất lớn đối với Giáo hội. Tôi thấy điều này trong bài của Vĩnh Liêm về các công trình nghiên cứu học thuật, cách riêng là Thư viện có tên Nam San của ông. Một đoạn trong bài của Vĩnh Liêm nói đến điều này: “Công phu sưu tầm tài liệu của ông đã giúp ông thành lập được Thư viện Nam San mà các đại học nổi tiếng như Cornell và Georgetown đã đặt cọc. Nếu ông chấp thuận, họ sẽ dành cho ông cái tên là Cao Thế Dung Section trong thư viện đồ sộ của họ”. Riêng tôi, thú thực, khi tôi thấy bộ Việt Nam Công Giáo Sử Tân Biên (3 cuốn dầy hơn 2000 trang), và cuốn Công Giáo Việt Nam Trong Giòng Sinh Mệnh Dân Tộc, tôi sửng sốt và ngạc nhiên. Vì đây là lần đầu tôi nhìn thấy công trình của anh đã thực hiện ở nước ngoài. Thời trước, anh không hề đả động đến những dự định của mình trong lãnh vực lịch sử của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Tôi cũng rất thích anh dùng chữ “Việt Nam Công Giáo Sử”. Tôi viết thư cho anh và anh trả lời: trong bộ 3 cuốn về Việt Nam Công Giáo Sử, anh đã viết xong cuốn thứ 4 đề cập đến văn học Công Giáo Việt Nam. Đấy là những công trình lớn đóng góp cho Giáo hội Công Giáo Việt Nam. Cho nên, một thánh lễ đồng tế cho Cao Thế Dung, là một cử chỉ cho thấy Giáo hội trân trọng những công trình của ông. Xét cả về mặt đời sống công khai, anh Cao Thế Dung là một người Công Giáo đức hạnh. Anh không lừa lọc, hãm hại ai. Anh sống thực với mình.
Tôi cũng muốn nói đến một vài đức tính khác nữa của anh Dung, nhưng trước tôi, ông Vĩnh Liêm (https:vietbao.com ngày 9-11-2017) đã nói rồi, nên tôi nghĩ không nói thêm. Tôi chỉ ghi lại ở đây lời Đỗ Đình Duyệt , trong lần về Việt Nam sau 40 năm ra đi, đã cùng tôi đi Hà Nội, nói rằng, có lần anh Dung nhắc đến Đỗ Tất Phú, Nguyễn Văn Tuy và mình, chỉ ba người thôi, rồi khóc. Mình cũng khóc!
TỪ VỰC SÂU
Để nhớ Tiến sĩ Mai Tâm
và Cao Thế Dung
KT
Đêm mưa trong khuôn viên
Ánh đèn soi tượng đá
Chừ cũng thấy ưu phiền
Cô đơn, người xa lạ
Ánh đèn soi ánh nước
Cây lặng thinh nguyện cầu
Côn trùng lên tiếng hát
Nỉ non gọi đêm thâu
Tí tách giọt mưa rơi
Như tiếng chuông gọi hồn
Từ vực sâu, vực sâu
Lòng buồn nhớ cố nhân
Năm xưa còn quỳnh hoa
Trạng nguyên còn đua nở
“Thành Nhân” đứng hiền hòa
Giờ tan hoang gẫy đổ!
Tôi mơ đời tượng đá
Để dù người đi qua
Lòng vẫn thấy yên hàn
Trong mắt người xa lạ.
Khải Triều
(Đêm mưa tại Đại học Thành Nhân
Sài Gòn 5-1976)
Hoài niệm
Khoảng năm 1956 hay 1957 gì đó, căn gác trọ của tôi tại đường Nguyễn Thông, gần cổng vào ga xe lửa Hòa Hưng, bỗng có hai thanh niên xách túi quần áo bước lên gác. Trong hai người, chỉ một người nhìn tôi hơi mỉm cười, còn người kia dáng gầy, nét da tái xanh thì không, anh ta lặng lẽ và cũng ít khi có mặt ở căn gác đó suốt thời gian hai anh ở đây, khoảng một hay hai tuần gì đó. Trước ngày dọn đi, người thanh niên lâu lâu nhìn tôi cười, mở ví rút ra một tấm hình, đưa tôi xem, hỏi: “Cậu có biết ông này là ai không?” Tôi thoáng nhìn, trả lời: “Nguyễn Thái Học”. Anh ta nói: “Cậu có con mắt tinh đời”, rồi tự giới thiệu là Đỗ Tất Phú, người kia là Cao Thế Dung.
Mấy năm sau, tôi bỏ căn gác này, lên sống ở Ban Mê Thuột rồi mấy năm sau lại trở về. Lần này, tôi cũng thuê được căn gác ở đường Nguyễn Thông nối dài, gần cống Bà Xếp, nhỏ và lẹp xẹp hơn căn gác trước kia. Một chiều tối, tôi xuống đường đi ăn cơm, tình cờ gặp Đỗ Tất Phú đang đạp xe đi về phía căn gác tôi đang ở. Tôi gọi: “Anh Phú, đi đâu thế?” Anh nói ngay: “Mình không có tiền trả tiền nhà, họ đuổi đi”- “Đến ở với tôi”, rồi tôi dẫn anh vào nhà để cất xe, sau đó hai chúng tôi ra ngoài quán ăn cơm. Đêm hôm đó hai chúng tôi gần như thức trắng nói nhiều chuyện, về văn nghệ, thời sự. Anh nói về Cao Thế Dung. Ngày hai anh đến ở trên gác trọ với tôi, gần cổng vào g axe lửa Hòa Hưng. anh Dung nói với Phú: tôi là người Bắc mà lại dạy kèm trẻ người Nam, nên nghi tôi là Việt Cộng nằm vùng.
Về tờ Bán Nguyệt san Quần Chúng
Từ ngày Đỗ Tất Phú đến ở với tôi, dần dà tôi gặp lại anh Dung và những thành viên khác trong hệ phái Yên Bái VNQDĐ. Trong số này có anh Đỗ Đình Duyệt, Đỗ Đức Thịnh, vợ chồng Nguyễn Cái Thế-Nguyễn Tường Uyển v.v…Sau đó, tôi gặp anh Nguyễn Công Luận (tức Lữ Tuấn) rồi anh Trần Quốc Minh. Riêng anh Minh thì đã giúp tôi vào Không Quân, công tác tại BTL/KQ, ngành BTV sau khi qua một kỳ thi tuyển (năm 1966). Sau đó, anh trao cho tôi làm tờ BNS Quần Chúng (Bộ mới). Lúc này, anh Cao Thế Dung còn dạy học trên Ban Mê Thuột, trường Lasan K’Buôn Banmêthuột. Sau ngày trở về Sài Gòn, anh Dung nhận chân Quản nhiệm BNS Quần Chúng. Chủ nhiệm là chị Nguyễn Thị Bảo Kim. Còn chân chủ bút thì có kỳ để tên anh Bùi Đức Uyên (Bùi Phổ), rồi anh Cao Thế Dung. Mấy số cuối trước khi báo bị tịch thu thì đề tên Khải Triều. Mặc dù thế, mấy anh em chúng tôi không có ý tưởng gì về vị trí trong tờ báo. Tất cả đều làm việc chung, đều tin tưởng vào lập trường và quan điểm của nhau, ngay cả các bài của thân hữu. Về mặt này, hai anh Cao Thế Dung và Bùi Đức Uyên phụ trách. Riêng số báo Xuân Canh Tuất 1970, gồm 2 số (21 và 22 tháng 1+2-1970) thì tôi đứng tên Chủ bút. Báo bị tịch thu, theo luật 019/69, do Quốc Hội thông qua, và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký ban hành ngày 30 tháng 12 năm 1969. Theo Luật này, báo chỉ có thể bị tịch thu theo lệnh của Tòa án. Như vậy là tờ BNS Quần Chúng của chúng tôi là tờ báo bị tịch thu trước hết theo Luật này.
Báo giới tại Sài Gòn ngày đó xôn xao về vụ này. Họ chờ xem tờ tạp chí của chúng tôi vi phạm vào điều khoản nào của luật kiểm duyệt để có thể biết số phận tờ báo. Chẳng hạn, chúng tôi phải ra tòa để chịu một hình phạt nào đó, như tạm thời đình bản có thời hạn hoặc vĩnh viễn. Nhưng sau một tuần hồi hộp và lo lắng, anh Cao Thế Dung lặng lẽ gõ cửa một vị tướng (hình như vị này là cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu), vì anh Dung là giáo sư của con vị tướng này.
Chúng tôi thoát một bản án.
Sau đó, mấy anh em chúng tôi, trong ban điều hành, đến tư thất bà Chủ nhiệm Nguyễn Thị Bảo Kim, người thân thiết của Chuẩn tướng Lưu Kim Cương, Tư lệnh Sư đoàn 3 Không Quân, căn cứ đặt tại Tân Sơn Nhất. Ông là người bảo trợ của tờ báo. Bộ Tư lệnh Không Quân cũng đặt tại căn cứ này. Tôi là Thượng sĩ BTV, thuộc Phòng CTCT, công tác tại đây từ ngày nhập ngũ, tháng 2/1967 sau một cuộc thi tuyển trước đó.
Trong cuộc gặp gỡ bà Chủ nhiệm, chúng tôi trao đổi vắn tắt về tình hình hoạt động của tờ Ban Nguyệt San Quần Chúng, nhất là nguyên nhân báo bị tịch thu. Anh Cao Thế Dung đã đứng ra lo việc này, sự việc êm ả.
Bà Chủ nhiệm ngỏ ý sẽ vẫn tiếp tục hỗ trợ cho tờ báo nếu “các anh hoạt động trở lại.” Mấy anh em chúng tôi im lặng chốc lát và bất ngờ cùng nói với Chủ nhiệm: “Xin cám ơn Chị Chủ nhiệm, xin để báo ngừng luôn.”
Chúng tôi ngồi lại ít phút rồi chào Chị Chủ nhiệm ra về, nói với nhau là thấy bất ngờ chị Bảo Kim vẫn có ý định đứng ra bảo trợ tờ báo, mặc dù tướng Lưu Kim Cương đã không còn nữa, ông mất tại mặt trận Tân Sơn Nhất năm 1968 trong khi đang trực tiếp chỉ huy trận đánh diễn ra tại khu vực gần Ngã Tư Bảy Hiền.
Thực ra, Ban điều hành tờ Tạp chí Quần Chúng, có bốn người, ngoài Chủ nhiệm là Nguyễn Thị Bảo Kim, bốn người trong Ban điều hành là:
Quản nhiệm: Cao Thế Dung; Chủ bút: Khải Triều; Tổng Thư ký: Bùi Đức Uyên; Quản lý: Đỗ Đức Thịnh.
Trong bốn vị trí điều hành tờ Quần Chúng trên đây, chỉ có Khải Triều và Bùi Đức Uyên là có việc hoán đổi công việc, giữa Chủ bút và Tổng Thư ký. Tuy vậy, cả bốn anh em chúng tôi đều cùng một mục đích chung từ ban đầu.
Trong buổi gặp gỡ Chủ nhiệm Nguyễn Thị Bảo Kim, vắng mặt anh Cao Thế Dung, vì lúc bấy giờ anh đang làm việc cho tờ Nhật báo Chính Luận, Chủ nhiệm là ông Đặng Văn Sung, Tổng Thư ký là ông Thái Lân. Ngoài ra, anh còn một mớ công việc khác, nên anh không đi cùng chúng tôi được.
Dù tờ Quần Chúng bị tịch thu đã xa rồi, từ 1970 đến nay là 2017, gần nửa thế kỷ, nhưng có một bài viết của Đan Hồ, một bút hiệu khác của Cao Thế Dung, in ở đầu tờ báo bị tịch thu. Bài báo có tên: “Hòa bình-Liên hiệp-Trung lập-Chống Cộng theo kiểu Mỹ”. Trước khi đưa ra quan điểm về một nền hòa bình cho Việt Nam, tác giả Cao Thế Dung cho biết cần có một cuộc vận động. Như: thức tỉnh toàn bộ các khối quốc gia trong cộng đồng dân tộc; thức tỉnh lương tâm các tôn giáo trước sự tồn vong của dân tộc; kêu gọi và vận động tích cực toàn thể lớp người trẻ trong và ngoài quân đội quyết tâm đứng lên đòi quyền sống và quyền tự quyết cho dân tộc…Phát động phong trào vạch mặt chỉ tên bọn tay sai ngoại bang dưới chiêu bài chống Cộng (vì quyền lợi địa vị) hay bọn chủ trương liên hiệp, trung lập do ngoại bang giật giây chỉ đạo.
Sau đó, Đan Hồ (Cao Thế Dung) cảnh cáo: “Một điều dễ hiểu, ta chỉ trông cậy vào Mỹ có ngày ta bị tận diệt.”
Đó là một lời tiên tri!
Nguyên văn câu này như sau:
“Một điều dễ hiểu, ta chỉ trông cậy vào Mỹ có ngày ta bị tận diệt cũng chỉ vì đường lối của Mỹ kể cả đường lối hòa bình hay liên hiệp do Mỹ chủ xướng”.
Lại nhớ, năm 1963 tôi ra mắt tập thơ Người ôm mặt khóc, thì năm 1969, Cao Thế Dung xuất bản quyển Văn học Hiện đại, Thi ca và Thi nhân. Ông đã đề cập đến tôi trong quyển này. Và ông đã nhận xét về thơ tôi, nhận xét tôi qua thơ tôi. Về thơ, ông viết: “Thơ Khải Triều là sự tìm kiếm Thượng đế – vẫn tin Ngài hằng có nhưng ông không thỏa mãn với sự hằng có trên thập tự giá trong giáo đường. Ông tin sự hằng có – tìm Đấng vô cùng hằng có kia trên vạn ngả đường và khắp dấu tích của khổ đau”. Còn về tôi, CTD viết: “Thơ ông là tiếng nức nở của chính ông – của một người tự vác thập giá của thân thể mình đi lầm lũi trên Quê hương đau nhức” (Sách dẫn trên, trang 83)
Từ đó đến nay, đã hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn thế. Vẫn tự vác thập giá của bản thân, lầm lũi một mình đi trên quê hương đầy thương đau. Vết thương cũ không được hàn gắn, trong khi vết thương mới thì ngày nào cũng có nỗi đau rỉ máu! Vì vậy, tôi coi lời của Cao Thế Dung viết về tôi là lời tiên tri, lời tiên tri thứ hai của ông. Lời tiên tri thứ nhất là người Mỹ phản bội Việt Nam Cộng Hòa. Thực ra, lời Cao Thế Dung nói về tôi xảy ra trước, đó là năm 1969 được thấy trong quyển sách Văn học Hiện đại, còn về việc Mỹ phản bội VNCH, được thấy trong Tạp chí Quần Chúng số Xuân Canh Tuất 1970, số báo này bị tịch thu.
Sau đó, Cao Thế Dung nói lên quan điểm của mình về hòa bình của Việt Nam, một phần dựa trên thế chủ lực, phần khác cần có sự liên hợp với một số quốc gia. Ông viết:
“Nền hòa bình của Việt Nam chỉ có thể có trong những điều kiện tốt đẹp khi không còn gắn chặt sau lưng Mỹ, khi “con đường ngoại giao” của Miền Nam được mở rộng, đón nhận mọi bàn tay thân hữu dù bàn tay ấy là Pháp, Anh, Nhật hay Miến Điện, Nam Dương…Chúng tôi chống sự liên hiệp với Cộng sản nhưng cái thế của VN buộc chúng tôi (nếu muốn có hòa bình, độc lập, tự do) phải tạo được thế liên minh và thế tựa từ nhiều quốc gia bạn và từ nhiều phía.”
(Trích từ bài: “Hòa bình-Liên hiệp-Trung lập-Chống Cộng theo kiểu Mỹ” của Đan Hồ, Tạp chí Quần Chúng số Xuân Canh Tuất 1970, số báo 21 và 22 tháng 1+2-1970, trang 13)
Bản chứng từ trích trong bài trên đây của tác giả Đan Hồ (CTD)
Hình bìa tạp chí Quần Chúng số Xuân Canh Tuất 1970, bị tịch thu. Tranh của họa sĩ Cao Bá Minh
Liền sau bài của Đan Hồ là bài của hai tác giả: Hoàng Văn Đức (Bác sỹ) và Trần Minh Tiết (Chủ tịch Tối cao Pháp viện, nhiệm kỳ 1968-1974). Tựa đề bài báo: “Con Đường Hòa Bình Của Việt Nam Trong Thế Quân Bình Mới Của Thế Giới Và Đông Nam Á”. Hai bài báo đều nói đến hòa bình cho Việt Nam trái ý người Mỹ, vì mãi hai năm sau đó, 1972, Mỹ mới ký được một Thông cáo tại Thượng Hải. Mỹ đã có “Hòa bình” cho Việt Nam trong cái cặp mà Nixon-Kissinger mang về từ Hoa lục.
Sau trận Việt Cộng tổng tấn công vào dịp Tết Mậu Thân 1968, tôi phải ở lại trong đơn vị. Sau khỉ “xả trại”, tôi về nhà trọ ở khu Vườn Chuối thì chủ nhà đã xóa tên tôi trong sổ gia đình. Tôi trở thành kẻ vô gia cư. Anh Cao Thế Dung giới thiệu tôi với Sư huynh Tiến sĩ Mai Tâm, tên thường gọi trong dòng là Frere Gagelin, giúp ông trong việc làm tờ NS Giáo Dục, nhận bản thảo từ tay ngài, rồi đem xuống nhà in Xây Dựng do ông Đinh Minh Ngọc quản lý, sửa bản vỗ rồi ký tên để đưa lên máy in. Anh Cao Thế Dung không phải là người có thể làm những việc như thế này. Cho nên anh nhờ tôi làm. Từ chỗ này, Sư huynh Mai Tâm dành cho gia đình anh Cao Thế Dung và tôi, mỗi người một phòng trong trường của ngài, là Viện Khoa học Giáo dục, góc đường Nguyễn Tri Phương-Hùng Vương, quận 5. Sau này đổi thành Đại học Thành Nhân. Gần 10 năm gia đình anh ở tại đây. Mãi về sau, trước ngày Sài Gòn mất khoảng 1,2 năm gì đó, gia đình anh mới dọn ra ngoài. Còn tôi thì vẫn ở lại cho tới năm 1981, sau khi một nhân viên Sở Giáo dục thành phố, hình như là một anh “cách mạng 30” dùng súng nhỏ dọa tôi,
Nếu không dọn đi thì…Và hắn đập bàn tay vào bao súng.
Về quyển sách: “Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống”
Tôi có đọc một số bài ở ngoài viết về tác phẩm này. Ở đây tôi chỉ nói đến việc Bác sỹ Trần Kim Tuyến có viết gì trong quyển Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống hay không. Hiện tôi đang ở Sài Gòn nên cũng không mấy có hào hứng để nói về tác giả Lương Khải Minh (tức Trần Kim Tuyến) đóng góp bài cho BNS Quần Chúng. Còn anh Cao Thế Dung lúc còn sống, tôi không thấy anh có ý kiến gì về việc tác giả Lương Khải Minh viết trong tác phẩm này. Nhưng chắc là anh biết và tôi cũng biết. Biết rõ nữa. Những ý kiến bảo ông Tuyến đã không viết một chữ nào trong sách này, là chủ quan. Không đúng. Những trang bản thảo ông Dung trao cho Nhật báo Hòa Bình có lẽ không có một trang nào viết tay của ông Tuyến thực. Nhưng khi Cao Thế Dung nhờ tôi mang tất cả những gì đã đăng trên tờ Hòa Bình xuống nhà in Xây Dựng để xếp chữ, thì có mấy trang viết tay của Bác sỹ Trần Kim Tuyến. Chữ của ông rất nhỏ.Việc này nói lên điều gì? Phải chăng, Bác sỹ Tuyến thấy cần bổ sung ở một đoạn nào đó mà sau khi đăng trên tờ Hòa Bình ông thấy anh Dung chưa nói đến. Tôi còn nghe, đấy là mấy trang ông viết khi ở trong tù.Công việc của tôi mà anh Dung nhờ, là tôi phải sắp xếp thành chương, mục từ Nhật báo Hòa Bình, Linh mục Trần Du làm Chủ nhiệm, rồi trao cho nhà in Xây Dựng do ông Đinh Minh Ngọc làm quản lý. tôi sửa bản vỗ toàn bộ quyển sách này.
Cao Thế Dung với quyển sách của tôi xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1988
Tháng 9 năm 1983 tôi viết xong quyển Công Giáo Miền Nam Việt Nam sau 30-4-75, nhằm nói lên thực trạng lúc giao thời của Giáo hội Công giáo miền Nam, thẳng thắn đưa ra trước dư luận một vài linh mục và giáo dân, nấp bóng chế độ mới dưới danh nghĩa những người công giáo yêu nước, để bôi nhọ giáo hội, chống phá giáo hội, phản đối những giám mục nào không ủng hộ họ. Điển hình là hai trường hợp: trục xuất Tổng Giám mục Henri Lemaitre, Khâm sứ Tòa Thánh tại Sài Gòn, buộc ngài phải rời khỏi Việt Nam. Thứ hai: chống đối Đức cha PX Nguyễn Văn Thuận trong chức vụ Tổng Giám mục phó với quyền kế vị tại Tổng Giáo phận Sài Gòn. Nhóm này còn kết án ngài là cháu của Tổng thống Ngô Đình Diệm, một lãnh tụ chống Cộng cực kỳ mãnh liệt. Kết cuộc, Đức cha Nguyễn Văn Thuận phải biệt giam suốt 13 năm. Bây giờ, chúng tôi tự hỏi: những giáo dân có cái nhãn hiệu Trí thức Công giáo của Sài Gòn ngày ấy, hiện nay ở đâu? Vì họ đã vội vã chạy khỏi Sài Gòn khi bóng dáng những quân lính Cộng sản còn lảng vảng ở cửa ngõ Sài Gòn!
Sách viết xong, nhưng khó khăn nhất là việc chuyển ra ngoài. Lúc này, người Cộng sản đang còn say chiến thắng, cực kỳ ngạo mạn, cực kỳ khó khăn. Tôi mang bản thảo sách lên Trung tâm Hành hương Fatima ở Bình Triệu dâng cho Đức Mẹ, thưa với Mẹ: việc của con tới đây là xong. Con chỉ là một dụng cụ của Chúa. Còn việc nó sẽ ra sao là việc của Mẹ. Con tin Chúa sẽ thực hiện theo ý của Người. May mắn cho tôi là, chị Ngô Thủy Tiên, vợ anh Cao Thế Song là em trong họ của anh Cao Thế Dung, nhận giúp tôi vô điều kiện. Tôi trao toàn bộ tập sách cho chị. Địa chỉ nhận là gia đình Nguyễn Tấn Khang ở Canada. Vợ anh Khang là em gái út của vợ tôi. Khoảng một tháng sau, chị Ngô Thủy Tiên cho tôi hay: sách đã chuyển xong, (nhờ chị có người quen làm tại Bưu điện Sài Gòn). Tôi hỏi anh Khang xem thế nào. Anh Khang nói là nhận đủ, theo số thư tôi nói đã gửi đi.
Có một việc mà sau này tôi mới nghĩ ra. Đó là việc chị Ngô Thủy Tiên giúp chuyển toàn bộ quyển sách, để vào hơn mười phong bì, khi in ra giấy là 294 trang. Cái may trong việc này là không bị phát hiện. Bằng không, tôi là người mắc tội rất nặng với gia đình anh chị Ngô Thủy Tiên. Lúc đó, chồng chị là anh Cao Thế Song với con gái lớn đang ở Mỹ sau cuộc vượt biên. Còn chị Thủy Tiên và mấy con gái nữa còn ở nhà, đang đợi để đi đoàn tụ theo diện bảo lãnh. Nếu việc chuyển đi bị phát hiện thì trước hết tôi sẽ vào tù và chị Thủy Tiên cũng chịu ảnh hưởng đến việc đi đoàn tụ. Vậy chị Ngô Thủy Tiên đã giúp để cuốn sách Công giáo miền Nam Việt Nam sau 30-4-75 ra đời. Năm chị Thủy Tiên gửi sách đi là năm 1983, thì ngày 13 tháng 7 năm 1995, chị lại là người mang sách về, tôi nhận sách từ tay chị sau khi chị xuống máy bay tại TSN vào lúc chị vừa từ trong phòng ra.
Cái may mắn khác nữa là sau ngày ở trại cải tạo về, anh Trung tá trong QLVNCH Nguyễn Công Luận giới thiệu cho tôi một sĩ quan trẻ, một người tranh đấu, là Nguyễn Thanh Vân. Vân vượt biên, trước khi có chương trình H.O. Anh qua được, lên trại tạm trú ở Malaysia, viết thư về cho tôi liền. Rồi anh vào đất Mỹ, cũng lại viết thư về cho tôi ngay. Tôi nhờ anh giúp cho quyển sách đang ở nhà Nguyễn Tấn Khang. Tôi viết thư cho anh Khang, xin gửi tập sách cho anh Thanh Vân. Nhận được sách, Thanh Vân đánh máy rồi mang đi các nhà xuất bản. Nhà nào cũng chê. Có lẽ do tác giả lạ hoắc, lại có cái tựa đề sách là Công giáo, in ra sẽ khó bán. Rồi tình cờ Thanh Vân gặp Cao Thế Dung ở California. Anh Dung đón nhận sách trong hoan hỉ, khi biết nó là đứa con tinh thần của tôi.
Trong một lá thư gửi cho tôi, nhờ địa chỉ nhà Thanh Vân trên đường Lê Văn Duyệt. Anh cho biết, cuốn sách của tôi đã in xong. Hôm lễ rửa tội cho cháu (tức buổi ra mắt sách), cả chục cha đến dự lễ thực là cảm động. Cháu đã được Linh mục Joachim Nguyễn Đức Việt Châu, SSS, Giám đốc cơ sở xuất bản Dân Chúa, đã đưa cháu đi Rôma vào dịp lễ phong thánh (Lễ Phong Thánh 117 vị tử đạo Việt Nam hôm 19-6-1988, do Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II cử hành tại Tòa Thánh Vatican) để xin ban phép lành cho cháu. (Tấm hình Đức Giáo Hoàng ban phép lành, có hình cha Việt Châu, được in trong sách Công Giáo Miền Nam Việt Nam sau 30-4-75, sau Lời nói đầu).
Còn về buổi ra mắt cuốn sách, anh viết tiếp cho tôi ở một thư khác: “Hôm làm lễ rửa tội cho cháu, nhà tôi và các cháu thay nhau bế cháu. Chúng tôi cũng làm một bữa tiệc để chào mừng bà con vì tôi đỡ đầu cho cháu. Hôm lễ có cả Dương Văn Khoa, chắc anh còn nhớ, có cả Duyệt và rất đông bạn bè. Thật là một vinh dự cho giòng họ. Đó là cái phúc lớn của ông bà Khải và Chị Triều”.
Cuối thư, anh viết: “Phần tôi, trở thành “to con”, mập lắm, đặt mình nằm là ngủ. Tôi vẫn nghiên cứu đều đặn. Phải mất ròng rã bẩy năm mới lấy xong Ph.D. Anh còn lạ gì cái tính tài tử giang hồ của tôi nên nay thì tang bồng hồ thỉ vân du. Nhà tôi vẫn như xưa, vẫn hiền và chịu đựng người chồng nghệ sĩ giang hồ “vặt”. Tôi cũng viết và đã xuất bản được 3 cuốn sách về chuyên môn của tôi”.
Ngày 5-10-2001, tôi nhận một thư nữa của Cao Thế Dung. Anh nói đến cuốn sách Công giáo miền Nam Việt Nam sau 30-4-75, hiện có trong Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ và Thư viện Đại học Cornell do anh và Dân Chúa gửi.
Những điều tốt đẹp về cuốn sách này theo như Cao Thế Dung nói đến, tôi vẫn hiểu đó chỉ là ở buổi đầu người Việt Nam tỵ nạn sống ở nước ngoài thấy một Việt Nam dưới chế độ Cộng sản, rất khác trước kia, đặc biệt là người Công giáo, là chủ đề của cuốn sách. Tôi đề cập đến một số linh mục ngả theo chế độ chính trị mới. Họ cầm đầu trong việc chống đối Đức TGM PX Nguyễn Văn Thuận, đẩy ngài vào tù. Họ còn trục xuất Đức TGM Henri Lemaitre, Khâm sứ Tòa Thánh, kéo nhau tới trụ sở Tòa Khâm sứ trên đường Hai Bà Trưng, đẩy ngài và Bí thư của Đức Khâm sứ là Linh mục Trần Ngọc Thụ ra khỏi trụ sở và trèo lên mái nhà kéo cờ Tòa Thánh xuống! Còn với tôi, tác giả của sách, ghi lại những điều mà một vài thành phần Công giáo theo khuynh hướng thân Cộng, dưới cái tên Ủy ban Đoàn kết Công giáo, quấy nhiễu giáo hội, bội nhọ giáo hội, đánh phá hàng ngũ linh mục không theo chúng để tiến tới “giáo hội tự trị” theo mô hình Trung Cộng. Đây là vấn đề người ở bên ngoài muốn biết. Lúc đó, Việt Nam còn bị Mỹ cấm vận, người Cộng sản còn đang trong cuồng say chiến thắng, ngạo mạn quá độ. Nên cuốn sách của tôi xuất hiện ở xã hội bên ngoài đã gây xôn xao dư luận. Họ không nghĩ đến những khuyết điểm về biên luận, về nhận thức, về nội dung còn sơ sài. Cũng vẫn với tinh thần và nội dung của cuốn này, năm 2021 tôi viết xong cuốn: Việt Nam Công giáo trong những bối cảnh lịch sử của dân tộc (1945-2020), 520 trang. Với cuốn này, tôi viết kỹ hơn, rộng hơn, lịch sử trải rộng ra cả đến bên ngoài, như với nhóm Giao Điểm ở Mỹ. Tôi gửi cuốn này cho anh Trương Văn Vấn, sáng lập trang Văn học T. Vấn & Bạn Hữu, anh lập ra Tủ sách cùng tên, thực hiện những ấn bản điện tử.
Có một việc buồn anh Cao Thế Dung đã nói đến trong một lá thư, là một ngày nọ, anh đang ở trong tiệm sách của cơ sở xuất bản Dân Chúa, thì có cuộc gọi điện thoại đến anh. Đó là một người đàn bà, nói là ở Bỉ, đòi tiền cuốn sách của Nguyễn An Tôn. Anh Dung nghĩ rằng đó là người thân thiết với tôi, đòi tiền cuốn sách cho tôi. Anh rất buồn, giúp tôi mà nay lại mắc vạ. Tôi vội vã viết thư cho anh, nói rằng, ngoài vợ anh và vợ anh Song, tôi không quen biết một người đàn bà nào khác. Lá thư của tôi đã làm anh nguôi ngoai, nên anh viết một thư khác mời tôi sang Mỹ chơi mấy tháng. Tiền máy bay đi về, các con của anh sẽ giúp.
Thiệp chúc Giáng Sinh và Năm Mới 2007 – Thủ bút của Cao Thế Dung
Trên đây là tấm Thiệp Chúc mừng Giáng Sinh năm 2007 anh Cao Thế Dung gửi cho tôi. Mở thiệp ra thì trang trái là những dòng thư anh nói về Bộ Việt Nam Công Giáo Sử Tân biên – Quyển thứ IV dầy 818 trang cộng trăm hình ảnh – trong đó có trích và viết khá nhiều về Nguyễn AnTôn. Phần Nhà văn Nhà thơ Công giáo VN ở miền Nam, CTD có viết về nhà thơ Khải Triều. Đáng lẽ in vào Giáng Sinh 2006 này. Nhưng không may bão Katrina quét sạch cơ sở Dân Chúa. May mà tôi còn giữ được toàn bộ bản lay-out. Chắc là sớm muộn trong năm 2007 sẽ in cho xong…
Mấy dòng cuối, anh Dung nói gửi tôi và anh Thế Phong chút quà. Việc này, anh Thế Phong có lần đã nói tới trên trang Facebook cá nhân, như một bày tỏ là anh cám ơn anh Cao Thế Dung và đã nhận quà của anh Dung qua tôi.
Ở trang này, anh chỉ ký một chữ Dung. Còn bên phải, trang 3, sau mấy lời chúc Năm mới và Giáng Sinh Đinh Hợi 2007, anh ghi bút danh Đan Hồ như đã ghi ngoài phong bì gửi về qua đường Bưu điện.
Tôi Lấy Vợ
Còn một việc gắn chặt tình thân giữa anh Dung và tôi là, sau khi tờ Tuần báo Diễn Đàn Chính Đảng tự đình bản. Trước khi báo nghỉ, tôi và luật sư riêng của cụ Chủ Nhiệm Trương Vĩnh Lễ phải ra Tòa. Quan Tòa nói vài câu nghe câu được câu chăng. Luật sư ngồi bên tôi nói vài câu, rồi quan Tòa lui vào trong, tôi và luật sư lặng lẽ ra về. Vì Nguyễn Văn Thiệu phá quá đỗi, báo liên tục bị tịch thu, nhằm đẩy liên danh ứng cử Tổng thống, Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ-Trương Vĩnh Lễ vào thế phải rút lui để ông ta “độc diễn”,anh Cao Thế Dung và anh Nguyễn Công Luận đứng ra cưới vợ cho tôi. Trong ngày cưới thì anh Phạm Kim Vinh (Trương Tử Phòng), làm chủ hôn. Chính Sư huynh Mai Tâm lái xe của ngài chở cô dâu chú rể đến nhà thờ Đồng Tiến làm lễ cưới, linh mục cử hành thánh lễ hôm ấy, lại là bạn cùng trường Latinh Hoàng Nguyên (địa phận Hà Nội) với chú rể. Sau lễ, Sư huynh Mai Tâm lại chở đôi vợ chồng về trường của ngài: Viện Khoa học Giáo dục Sài Gòn. Về sau đổi là Đại học Thành Nhân.
Việc tôi lấy vợ, đã được ghi lại đầy đủ cả chuyện bên lề, những nhân vật lịch sử nào tại miền Nam thời ấy tham dự, trong quyển Mệnh Nước Nổi Trôi. Ở đây, nhân chép về mối quan hệ giữa tôi với anh Cao Thế Dung, nên chỉ nhắc qua, như nhớ lại những ân nhân của tôi trong việc này. Có lẽ việc tôi lấy vợ là rất hiếm có trường hợp thứ hai, từ việc cưới một người, gồm “sính lễ” và “tiệc cưới”, “thành phần tham dự, xe cưới” đều do các anh: Cao Thế Dung, Nguyễn Công Luận, Phạm Kim Vinh, Đinh Minh Ngọc lo liệu. Anh Ngọc cho tôi tiền mua nhẫn cưới là hột xoàn, anh Dung và anh Luận đặt bàn và mời khách dự. Địa điểm cưới là Viện Khoa học Giáo dục của Sư huynh Mai Tâm.
Có những lúc tôi lặng người rồi khóc vì nhớ người này người kia, là ân nhân, là nghĩa thiết và khóc mình có lắm lỗi, có khuyết điểm với những người thương mình.
Thư Khải Triều gửi Cao Thế Dung
Trước khi chuyển sang phần tác phẩm của Cao Thế Dung, tôi cũng lưu lại đây một trong những thư của tôi gửi cho anh Dung và gia đình anh, là những người tôi yêu quý, có thể nói là ân nhân của tôi, mặc dù tôi cũng làm vợ chồng anh buồn nhiều lắm, liên quan tới tiền bạc trong việc in cuốn sách Làm thế nào để giết một Tổng Thống tại nhà in Xây Dựng. Nhưng đó là những điều thuộc về bản chất của tôi, nó tự phát, khi tôi nhận ra anh không minh bạch trong chuyện tiền bạc với nhà in. Tôi bộc lộ ra điều này như thể tôi làm mấy bài thơ mà có người mấy chục năm sau, bảo tôi là người Công giáo mà làm thơ “thiền” khi tôi chưa đọc thiền. Tuy nhiên đấy là chủ quan của tôi. Còn phía anh Dung, chắc chắn là anh không nghĩ thế. Anh sẽ rất phiền muộn, kể cả điều chê bai tôi là phản bội là đi theo nhà giàu, phe tư bản, chủ nhân ông. Và tôi âm thầm chịu đựng, như thánh giá của mình. Chính vì điều này mà anh Dung đã hiểu tôi sau khi gia đình anh sang sống tại Hoa Kỳ và cư xử với tôi, cụ thể qua thư từ tôi công bố cũng như giúp tôi để cuốn sách của tôi được ra đời ở Mỹ và mấy cháu hết mực quí mến tôi.
Lá thư dưới đây tôi gửi anh Dung năm 2004 về tuyển tập thơ tôi tự in sau năm 1975, vẫn giữ cái tên từ ban đầu: Người Ôm Mặt Khóc. Thư như sau:
Sài Gòn, 10-2004
Anh Dung thân mến,
Nhân dịp có người thân với gia đình anh tôi trở qua bên này, tôi nhờ anh tôi chuyển tới anh thư này và tuyển tập thơ của tôi đã 40 năm qua, bỏ đi ít bài cũ, nhưng có mấy bài sau này mới viết cho vào. 40 năm về trước anh đã đọc nó. Bây giờ nó lại được trao cho anh như một vật quý nhất đời tôi. Vì nó là chính tôi, rất trọn vẹn, anh Dung ạ. Sau này tôi có để lại thêm được gì, có lẽ cũng phát xuất từ đó thôi. Tôi còn e rằng tôi không thực hiện hết những gì đã gửi vào hai tập thơ ấy. Tôi đang cố gắng để năm tới sẽ xong tập thứ hai, sau quyển Nguyễn An Tôn.
Lúc này tôi làm việc chậm lắm anh Dung ạ. Năm 2005 tới đây tôi lên hàng thứ 7 về tuổi tác rồi. Chỉ mong sao tôi được gặp anh một lần thôi. Nhớ anh lắm.
Tôi lại khóc rồi.
Thôi, tôi có lời thăm chị và các cháu.
Kính chúc Anh Chị và tất cả các cháu luôn mạnh khỏe, an bình.
Kính
Tuy
Một thư khác: Chúng tôi có những người bạn thân, đã có thời cùng nhau điều hành một tờ báo hay in tác phẩm cho nhau. Nhưng vì biến cố ngày 30-4-1975, bạn hữu có người đi có người ở lại. Cho nên, họ rất mong có người nào cho họ biết tin tức của nhau. Điều này tôi có viết cho Cao Thế Dung về mấy người bạn đó. Thư viết như sau:
Sài Gòn, ngày 10 tháng 5-2005
Kính gửi Anh Chị Dung và các cháu thân quí,
Tôi mới nhận được quà của cháu Đài Trang qua người bạn của cháu ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích viết những lá thư như thế này hơn là qua email, tuy chậm, nhưng cảm nghiệm được một cái gì mà mình khó diễn tả bằng lời. Cám ơn nhiều.
Mới hôm qua đây, sau khoảng hơn một năm, Thế Phong điện thoại cho tôi. Chúng tôi gặp nhau vào buổi sáng, tôi mang theo bộ Việt Nam Công giáo sử tân biên, (q. I và II) cho anh ấy mượn. Thấy hình anh ở bìa sau, Thế Phong lộ vẻ ngạc nhiên vì thấy anh lạ nhiều, anh khỏe hơn hồi trước. Thế Phong dẫn tôi lên lầu, vào phòng làm việc riêng của anh ấy. Đầy sách là sách, anh mở máy, tìm trên mạng phần của anh, một danh sách các cây viết bên này v.v…Thế Phong cũng làm việc rất hăng say ở cái tuổi như anh vậy.Tôi thì vì công việc trong nhà thờ, ở hội Legio Mariae và bệnh nhân nên việc riêng của mình cũng chịu ảnh hưởng nhiều. Tôi nghĩ đây là ơn gọi của tôi ở vào giai đoạn cuối đời đồng thời tôi vẫn tiếp tục công việc riêng. Anh em ở ngoài gọi tôi “linh-mục-đời”. Và vì công tác phục vụ, tôi có viết được mấy quyển, tinh thần là tu đức.
Tâm sự với anh chị và các cháu mấy lời trên đây để tôi có thêm được lới cầu nguyện của anh chị và các cháu, mong với ơn Chúa, tôi đi hết đoạn đường đã được ấn định cho mình để như lời thơ trong bài Cầu nguyện của tôi từ hơn 40 năm trước,
với bàn tay nguyên tuyền, tôi khắc lên đá những bài thơ của người ôm mặt khóc
với những bàn chân nguyên vẹn hình hài, tôi mang những phiến đá ấy đi về dâng Thượng đế.
Tôi vẫn cảm nhận, đấy là sứ mệnh đích thực của tôi. Nhưng chẳng biết trước khi sự việc này xảy ra, anh em mình có dịp để gặp lại nhau không đây.
Tết Ất Dậu vừa qua, vợ chống anh Đỗ Đức Thịnh và cháu gái có về thăm nhà. Mồng 3 Tết trở lại bên này. Anh Thịnh nói là vẫn chưa liên lạc được với anh.
Kính chúc Anh Chị mạnh khỏe luôn, an lành. Các cháu luôn gặp mọi điều may mắn và thành đạt trong công việc.
Phần riêng chị, chắc hằng ngày bận mà vui với các cháu nội, ngoại. Mong Anh Chị tìm thấy hạnh phúc dồi dào bên các con cháu.
Kính
Nguyễn Văn Tuy
PHẦN 2
TÁC PHẨM CỦA CAO THẾ DUNG
-Khúc ca nhược tiểu (Thơ) –Đại Nam Văn Hiến, 1960.
-Văn học hiện đại-Thi ca và Thi nhân, Quần Chúng xuất bản, 1969
-Làm thế nào để giết một Tổng Thống (Bút ký lịch sử về chế độ đệ I VNCH. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cuộc đảo chánh 1963) dưới bút hiệu Cao Vị Hoàng, 2 tập 689 trang, tái bản 8 lần. Xây Dựng xb, 1970.
-Lịch sử Văn minh Việt Nam (Giáo khoa Đại học BKNN 1974
-Công Giáo Việt Nam trong giòng sinh mệnh dân tộc, Dân Chúa 1988.
-Chân dung phụ nữ Việt Nam, Tiếng Mẹ xb. Pheonix 1990.
-Cơn Hồng Thủy Biển Đông (thảm nạn thuyền nhân và tỵ nạn VN), Đan Tâm xb, 1990.
-Việt Nam 30 năm máu lửa, Q1 632 trang, Alpha xb, 1996.
-Tuổi Trẻ Việt Nam, Đồng Hướng xb, 1993
-Việt Nam huyết lệ sử, 973 trang, Đồng Hướng xb 1996.
-Hoa kiều trên Đất Việt, Việt Báo Denver xb 2002
-Chứng từ lịch sử. Các vụ mất đất, mất biển và chủ nghĩa bành trướng bá quyền của Bắc phương, Chính Luận, 2002.
-Dân tộc chủ nghĩa khái luận, Học Viện Quốc Gia, 2002.
Việt Nam Công Giáo Sử Tân Biên (1533-2000)
Trọn bộ 3 cuốn
Tác giả Cao Thế Dung
Cơ sở Truyền thông Dân Chúa xuất bản, 2002
Hiện chúng tôi chỉ có 3 quyển trong toàn bộ 4 quyển. Như Cao Thế Dung đã nói trong Thiệp chúc Giáng Sinh và Năm Mới 2007 gửi chúng tôi, thì quyển thứ 4 này đã thoát cơn bão Katrina, do ông còn giữ bản layout, dầy 818 trang, trình bầy về văn học Công giáo Việt Nam trước năm 1975. Khi chúng tôi viết quyển sách này, nhận thấy cần biết thêm chi tiết về quyển thứ 4 trong bộ 4 quyển của CTD, chúng tôi đã nhờ người ở Mỹ hỏi thăm một vài nhà sách Công giáo do dòng Nữ hay dòng Nam của người Việt Nam chủ nhiệm, thì được trả lời là họ đã trực tiếp trao đổi với một nữ tu tại một nhà sách ở California. Theo sơ này nói, sách bây giờ khó bán, những bộ sách như của Cao Thế Dung hiện ở đây không còn, vì có lần sơ dọn kho sách, còn lại ít sách có liên quan đến Công giáo Việt Nam thì có một người Việt đã đến và mua hết. Những loại sách như của Cao Thế Dung cũng không in nữa vì quá tốn kém lại không bán được. May ra ở một vài tiệm sách Công giáo tại Việt Nam có thể còn.
Trong lá thư CTD gửi cho tôi viết tại Hoa Thịnh Đốn, đề ngày 5-10-2001, ông nói vài dòng về việc hình thành bộ Việt Nam Công Giáo Sử Tân Biên của mình. Ông cho biết, mình vẫn thế, vẫn miệt mài. Đã hoàn tất xong bộ sử: Việt Nam Công Giáo Tân Biên (1553-2000), 4 quyển. Do Dân Chúa in, có phép của giáo quyền (Imprimatur), nghĩa là một thứ “chính sử” với tài liệu mới. Đó là công trình của anh ấy (*) gần 20 năm – qua Pháp, Rôma, Madrid (Tây Ban Nha) và Macao. Bộ I và II chắc là có thể đưa về Việt Nam vì “không có vấn đề hiện đại”.
—————
(*) Ghi chú– Trong các thư Cao Thế Dung gửi cho tôi, anh thường không nói đến tên anh, mà nói trại đi. Cả khi nói đến tôi và quyển sách của tôi, anh cũng chỉ “nói bóng nói gió” miễn là tôi hiểu. Bởi vì lúc đó, anh đang là một nhân vật nổi trong cộng đồng người Việt tỵ nạn, có chân trong một lực lượng chính trị, bị ám sát vào vai, hình như do mâu thuẫn nội bộ. Vụ này anh có viết thư nói với tôi. Anh cũng từng bị báo Công An TP Hồ Chí Minh viết những bài đả kích nặng nề. Thế nhưng, trong tang lễ của anh, những hình ảnh tôi nhận được thì tràn ngập sự thiêng liêng tôn giáo, không hề có một chút gì dính dấp đến chính trị.
Về bộ Việt Nam Công giáo sử Tân biên (1553-2000), hiện tại chỉ có 3 quyển, tổng cộng 2215 trang. Chúng tôi chỉ muốn nói đến quan điểm và lập trường của Cao Thế Dung khi biên soạn bộ sử này. Trước ông, đã có mấy bộ rồi: bộ của Linh mục Phan Phát Huồn, Dòng Chúa Cứu Thế, bộ của LM Nguyễn Văn Trinh, của Lm Trần Phúc Long, của Lm Bùi Đức Sinh, của Hồng y Trịnh Văn Căn. Mặc dù mỗi tác giả của các bộ sử Công Giáo Việt Nam này đều có những sắc thái riêng, nhưng với tác giả Cao Thế Dung, chúng ta có những ý kiến riêng, rất riêng về phương pháp làm việc, về tài liệu, về cách đánh giá một số nhân vật chính trị đã từng bị chỉ trích mà CTD nói là “sai lầm” nên ông “hiệu đính” với chứng cứ xác thực của mình.
Ngoài ra, còn có những trang rất quý trong bài Tựa của Linh mục Gioakim Nguyễn Đức Việt-Châu, Sss, Dòng Thánh Thể, Giám Đốc Cơ Sở Truyền Thông kiêm Chủ nhiệm Nguyệt san Dân Chúa. Cha Nguyễn Đức Việt-Châu còn là Cựu Chủ tịch Cộng Đồng Giáo Sĩ Tu Sĩ Việt Nam & Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Trong bài Tựa của cha, quý vị sẽ nhận ra công trình rất công phu và thật đáng trân trọng của bộ Việt Nam Công Giáo Sử Tân Biên (1553-2000) của Giáo sư Cao Thế Dung.
Nhưng trước hết xin được tiếp cận qua ngôn ngữ của tác giả về phương pháp và sử liệu, có thể nói đây là cốt lõi của toàn bộ công trình biên soạn của bất cứ nhà sử học đầy tham vọng nào mà ở đây là Giáo sư Cao Thế Dung.
Theo ông, lịch sử nhân loại và lịch sử của một dân tộc như dân tộc Việt Nam, vốn phát triển rất phức tạp, không đi theo một đường thẳng tắp mà nhiều quanh co, nhiều uẩn khúc. Vì vậy, Gs Cao Thế Dung cho rằng, vấn đề chính vẫn là “nhận thức, quan điểm và phương pháp sử”. Tác giả viết: “Trên thực tế khó mà có khách quan tính của tri thức lịch sử như khách quan tính của khoa học. Sự khách quan trong sử học là một nỗ lực để đạt được một khách quan tương đối, hợp lý, có lôgích. Do vậy đã không thể đặt giáo hội tính hay tính dân tộc trong giáo hội và lịch sử VN. Cũng do vậy, trong bộ Giáo sử này, về nhân xưng, chúng tôi chỉ gọi là ông, hoặc viết tên như Đắc Lộ, Bá Đa Lộc, Nguyễn Bá Tòng, Trần Lục hoặc thêm danh vị như Gm Pallu, Giáo sĩ Cadière, Lm Souvignet, Lm Thanh Lãng, chúng tôi không sử dụng phụ từ đức trên danh vị của bất cứ nhân vật nào trong Giáo hội, ngoại trừ Đức Giáo Hoàng là vị lãnh đạo tối cao của GH Công giáo toàn cầu, trong tín lý ngài là hiện thân của Đức Kitô ở trần gian nên chúng tôi viết là Đức Giáo Hoàng và dùng chữ ngài.” (Trích trong: Việt Nam Công Giáo Sử Tân Biên (1553-2000) Q.I trang XVII, Cơ sở Truyền thông Dân Chúa xuất bản, 2002)
Vấn đề sau đó mà tác giả Cao Thế Dung gặp phải là cách thức ông viết bộ giáo sử này, trước hết vẫn phải dựa vào nguồn thư tịch Hán Nôm. Ngoài các bộ chính sử như Khâm định Việt sử thông giám Cương Mục, Đại Nam Thực Lục, tiền biên và chính biên, Liệt truyện và các Châu bản triều Nguyễn nhưng đề cập đến Công giáo lại rất giới hạn. Bộ Cương mục đồ sộ như thế, kể từ năm 1533 là năm được coi như Công giáo truyền vào Việt Nam cho đến hết đời Lê Chiêu Thống cũng chỉ tìm được không quá năm lần nhắc lại các vụ cấm đạo. Lịch Triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng cũng chỉ nhắc lại các vụ cấm đạo được viết ở bộ Cương Mục. Các nguồn sử liệu khác như gia phả, truyện các thánh, bi ký, truyền thuyết dân gian lại càng hiếm hơn. Trong khi đó các nguồn sử liệu của quốc sử Việt Nam thì lại khá phong phú, ngoài các bộ chính sử, còn cả một kho Hán Nôm từ bi ký, thần phả, địa lý chí, truyền tích danh nhân…Do vậy, viết bộ giáo sử này, một là chúng tôi không được phép sử dụng một cách tùy tiện, sau nữa lại đòi hỏi phải nắm được cơ sở của văn bản tài liệu của từng thời ký, từng lãnh vực để có thể phân loại các nguồn sử liệu cho tới từng sự kiện và từng vấn đề cụ thể” (Sđd, trang XVIII).
Sau đó là nguồn tài liệu của một số nước có các thừa sai sang Việt Nam truyền đạo, như Pháp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, hoặc “Văn khố của Hội Thừa sai Ba Lê là một trung tâm phong phú và đa dạng nhất”. (Sđd, tr. XVIII)
Thế nhưng, theo tác giả, “Sử học đã định hình biến cố lịch sử là những hiện tượng, sự việc xảy ra một cách khách quan trong lịch sử và thành sự kiện lịch sử, nhưng khi sự kiện được chép lại thành văn bản thì không thể tránh được sự chủ quan của người chép lại nguồn sử liệu” (Sđd, trang XIX)
Từ nhận xét này, Gs Cao Thế Dung nhìn sang sử học, ý thức hệ và một vài quyển sử học tiêu biểu ở Đức và Pháp. ông viết “Về khái niệm, quan niệm và nhận thức lịch sử có nhiều trường phái khác nhau trong khoa sử học Tây phương. Ngành viết sử thế kỷ thứ XIX ở Đức thì sử được coi như là sự hình thành sản phẩm của thời đại, biểu hiện của dân tộc và các triều đại. Các sử gia Đức vào thời kỳ này đặt lịch sử chính trị lên hàng đầu. Dân tộc và các triều đại (nhà nước) là thực tại lịch sử. Các sử gia Pháp thời danh ở thời Phục Hưng và thế kỷ thứ XIX tiến xa hơn và hoàn hảo khái niệm và nhận thức dân tộc trong khuôn khổ sử học và lịch sử cũng là lịch sử dân tộc, lịch sử các triều đại, lịch sử chính trị và xã hội. Các sử gia Pháp Guizot và Thierry nổi bật như những nhà sử học khuôn mẫu. Dân tộc, nhà nước, chính trị là những khái niệm và nhận thức lịch sử mà ta có thể thấy rõ qua sử gia Michelet với tác phẩm sử tiêu biểu “Histoire de France”. Chúng tôi tổng hợp lại để có những khái niệm và nhận thức lịch sử sao cho phù hợp với bối cảnh và thực tại lịch sử Việt Nam để đi đến một tổng thể chung chung để khi viết bộ giáo sử này mà tự thân giáo sử đã không tách rời chính trị không thể không gắn bó với lịch sử của các triều đại, quan trọng hơn nữa, Giáo sử như Giáo sử Công giáo Việt Nam cũng là lịch sử bách đạo nên giáo sử từ thực tại đã nằm trong lịch sử đất nước, dân tộc, lịch sử các triều đại, chính trị và xã hội” (Sđd, tr. XXI).
Từ một khái niệm về lịch sử dân tộc, chính trị, lịch sử các triều đại và tôn giáo trong bối cảnh bị bách hại, Gs Cao Thế Dung đã nghĩ gì về Giáo sử Công giáo tại Việt Nam? Ông viết: “Những khái niệm và nhận thức lịch sử không tách rời khỏi các phạm trù xã hội, chính trị và ý thức hệ. Đã có một ý thức hệ Nho giáo và ý thức hệ Kitô giáo đụng chạm đến mức “nảy lửa” và đẫm máu ở Trung Hoa và Việt Nam. Do vậy, khái niệm và nhận thức lịch sử không thể không phát xuất từ thực tại ấy. Nhưng, thiết tưởng người viết sử không thể câu thúc trong một ý thức hệ nào. Nhận thức lịch sử phát xuất từ thực tại những ý thức hệ đối chọi mâu thuẫn quyết liệt như ý thức hệ CS Mác-Lê nhưng thiết nghĩ bắt buộc phải phi ý thức hệ khi đặt bút viết sử và giáo sử. Khó ai có thể phủ nhận được ảnh hưởng của thời sự, chính trị, ý thức hệ đối với nội dung các khái niệm lịch sử, nhận thức và lập trường của người viết sử” (Sđd, tr. XXII).
Chẳng hạn, theo Gs Dung, sử gia Launay viết về CGVN, rõ rệt là ông đã bị chi phối bởi ý thức hệ Kitô giáo, ảnh hưởng sâu xa nền chính trị thuộc địa, kể cả “ý thức hệ của chủ nghĩa thực dân”. Các sử gia của Quốc sử quán triều Nguyễn lại càng chịu ảnh hưởng sâu đậm ý thức hệ Nho giáo thời Nguyễn và Tống Nho, đồng thời họ cũng không thể tách ra khỏi thời thế và triều đại đương tại. Viết giáo sử CGVN thế kỷ XIX không thể nào không nghiên cứu một cách sâu rộng bộ Đại Nam Thực Lục chính biên. Nhưng rõ rệt là bộ sử này đã được chỉ đạo bởi ý thức hệ Nho giáo và kinh điển như kinh Xuân Thu. Các sử gia triều Nguyễn cũng không thoát ra được hoặc lại đồng tình cùng một chủ trương tuân thủ theo chính sách cấm đạo của triều đình nên, các phần viết về CGVN của bộ sử vĩ đại này đã gắn bó chặt chẽ với chính trị và thời sự lúc ấy. Sử gia Vũ Phạm Khải khi còn làm quan ở tỉnh Ninh Bình, nổi danh với “tờ tâu về việc đối với giặc Tây” (gửi lên vua Tự Đức), ông chống “Gia tô Tả đạo”. Năm 1865 lần thứ 3 ông được triệu vào Huế nhận chức sử quan (Toản tu), ở Quốc sử quán và cùng các sử quan đồng nghiệp hoàn thành bộ Đại Nam Thực lục đệ II kỷ (đời Minh Mệnh) và khởi thảo bộ đệ III (thời Thiệu Trị). Khi viết về các vụ bách đạo CGVN trong hai bộ Thực lục nêu trên, quan điểm và nhận thức của sử gia Vũ Phạm Khải là quan điểm và nhận thức chống “Gia tô Tả đạo” và bài ngoại (về Vũ Phạm Khải, xem Nghiên cứu Lịch sử số 2 (260) -1992, tr. 20-25) (Sđd, tr.XXII)
Đấy là khái quát về nhận thức và quan điểm của một vài sử gia ngoại quốc cũng như Việt Nam như sử quan Vũ Phạm Khải qua bộ Đại Nam Thực lục/
Thế còn với Gs Cao Thế Dung, nhận thức và quan điểm của ông khi viết bộ Việt Nam Công giáo sử Tân biên (1553-2000), 3 cuốn. Ông đã cho biết như sau:
“Chúng tôi đứng giữa hai dòng thác “ngược chiều”, tiêu biểu như một Launay-Louvet và Vũ Phạm Khải, nhưng cố gắng không để bị cuốn trôi bởi một dòng thác nào. Nhưng vẫn phải soi tìm trong các dòng thác ấy những sử liệu, sự kiện và biến cố. Một người viết sử, đạo đức, sự tín cẩn và trách nhiệm theo tinh thần và nguyên tắc của sử học thì không thể nào để cho nhận thức quá khứ tùy thuộc vào những tiền đề của những người đi trước mà nhậnthức của họ vốn đã tùythuộc vào vị trí của họ trong xã hội, môi trường và thời đại của họ. Như Launay, ông ở trong hàng giáo phẩm Công giáo, ông tùy thuộc vào vị trí của ông trong Hội Thừa sai Ba lê. Các sử gia triều Nguyễn cũng tương tự như thế. Trong tình trạng như trên, khối tài liệu qua các tác phẩm đã xuất bản có giá trị của các sử gia Pháp vẫn là nguồn tài liệu phong phú nhất phải nghiên cứu, tham khảo và trích dẫn. Hàng đầu là Andrien Launay với “Histoire de la Mission de Cochinchine 1658-1803 (Paris 1924) v.v…(Sdd, tr. XXIII)
Sau đó, Gs Cao Thế Dung đặt vấn đề tín cẩn của sử học, như một điều căn bản, một yếu tố của giáo dục lương tâm con người. Ông viết:
“Thật là khó khăn, nên ở đây, trong suốt gần 2000 trang sách, chúng tôi luôn luôn tự đặt cho mình một chuẩn đích: đạo đức, uy tín và sự tin cậy của sử học phải được đặt lên hàng đầu. Do vậy, chúng tôi tự thấy không có quyền lảng tránh trước những vấn đề gay go của sự thực lịch sử hoặc chỉ viết lên những sự thực nửa vời. Trong giáo sử Công giáo Việt Nam vốn đầy những hệ lụy, đầy những khúc mắc và ngộ nhận nên còn phải nỗ lực sáng tỏ tất cả những sự thực mà ta tìm kiếm được, nếu cố tình bỏ qua hoặc nếu che dấu hay lảng tránh sự thực không tốt đẹp này thì chắc không những sẽ mất sự tín cẩn mà cũng không thể sáng tỏ được sự thật tốt đẹp khác để người đọc tin cậy. Trong giao tế và ứng xử ở đời sống xã hội thì có thể có những sự thực không nên nói, nhưng sử học thì không cho phép như vậy, phải nói lên tất cả sự thực mà ta có được, tìm kiếm được vì sử học trước hết là khoa học của sự thực. Các vua chúa và triều đình Việt Nam đã phạm những lỗi lầm nghiêm trọng trong các vụ cấm đạo và bách đạo, dĩ chí còn là tội ác và là sự tàn bạo đến khốc liệt đã bị lịch sử lên án nặng nề, nhưng đồng thời Giáo hội Công giáo Việt Nam thời còn lệ thuộc vào Tông tòa với các vị bản quyền ngoại quốc cũng đã phạm nhiều những sai lầm nghiêm trọng, thậm chí những sai lầm ấy còn là nguyên nhân gây nên các cuộc bách đạo và Đạo bị lên án là ngoại lai. Sự sai lầm của cả hai phía kể trên đều phải nêu lên, không thể lảng tránh”(Sđd, tr. XXVI)
Vậy, chúng ta cùng xem nhà văn Cao Thế Dung viết gì về việc quân Pháp chiếm thành Bà Rịa vào ngày 07-01-1861, còn Biên Hòa thì đã thất thủ. Và, Biên Hòa trở thành đất Thánh tử đạo vào đêm thiêu sinh 15 rạng 16-12. Tác giả viết: “Một số giáo dân Tha La (Phủ Tây Ninh) chạy thoát qua Miên, một số chạy về Vàm Cỏ Đông lại gặp quan quân của Thượng Cáp, truy lùng, quay trở lại về phía Biên Hòa, bị quan quân lùa hết vào khám đường. Biên Hòa còn gọi là Đông Phố, Đồng Nai nhận được Tin Mừng Kitô từ năm 1747. Vào thập niên 1840 đã trên 20 họ đạo toàn vùng. Số nhân danh các họ đạo không nhiều, họ đạo nhỏ chỉ có vào khoảng vài chục người. Họ đạo Đá Lửa 500 nhân danh, họ đạo Đất Đỏ 380. Không rõ giáo dân Biên Hòa là bao nhiêu, bị nhốt trong khám đường 407 người, kể cả trẻ em. Khám đóng kín, Tuần phủ sai lính lấy rơm tẩm dầu đốt bốn phía ngục, một số lao qua lửa chạy thoát ra ngoài thì bị lính đâm chết ngay, chỉ có 5 người chạy thoát, một thiếu nữ trèo lên một cây cao, bị lửa đốt cháy 2 bắp đùi,cô được đem về Sài Gòn cấp cứu, hai ngày sau thì chết. Cô Madalêna Lành bị một lưỡi đòng sướt qua đầu, cô bất tỉnh, lính tưởng cô chết, bỏ đi. Cô là nhân chứng sống sót thoát lò thiêu sinh. Trước khi bỏ chạy, Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan gửi hỏa lệnh cho các phủ, huyện trong tỉnh, thực hiện chỉ dụ của Tự Đức tàn phá các họ đạo, giết hết giáo dân. Các giáo họ Long Thành, Tân Triều, Búng, Trảng Bàng, Thơm và Gò Sầm trong bão lửa. Nhà thờ bị đốt. Một số phủ, huyện không do quân triều trấn đóng như họ đạo Trảng Bàng, giáo dân chạy tứ tán. Họ đạo Long Thành bị phá sạch, một ông Huyện giáo dân đứng lên ngăn làn sóng bạo động sát đạo, ông bị giết (không rõ tên). Viện bình từ Huế đổ vào Bình Thuận, đánh xuống Cù My (Xuyên Mộc), giáo dân bỏ chạy lên rừng hay xuống Bà Rịa. Khoảng 20 giáo dân đang gặt lúa ở Thạnh Mỹ thuộc giáo họ Gò Sầm, bị quân Triều bắt trói 2 người làm một đem ném xuống suối Xích Răm (thượng nguồn sông Rai). Trên 80 giáo dân Đất Đỏ chạy trốn bị quân Triều bắt, tàn sát hết (theo L.E. Louvet, sđd II, tr.315-317). Họ đạo Thơm bị diệt gọn, gần 100 giáo dân bị ném xuống giếng sâu, chết hết, chỉ còn một thiếu phụ sống sót, ở dưới giếng 4 ngày, được cứu thoát. (Cáo Thế Dung, sđd, q.III, tr. 2048-2051)
Còn tại Bà Rịa, quan Phủ Phước Tuy nổi tiếng khoan nhân. Trong các cuộc bách đạo, giáo dân Bà Rịa sống khá yên ổn. Cũng như các phủ, huyện khác ở Biên Hòa dân tình thuần hậu “việc vui thì mừng nhau, việc tang thì viếng nhau. Khi gặt hái xong thì hội họp ăn uống, đánh chiêng cùng nhau vui thích…”, không phân biệt giáo lương. Phủ Phước Tuy ở thôn Phước Lễ, huyện Phước An. Tháng 8 năm 1861, sóng gió lại nổi lên, Tri phủ được lệnh kiểm tra giáo dân. Ai trốn được cứ trốn. Ai bị bắt, bị khắc tự trên má, một bên chữ Biên Hòa, một bên chữ Tả đạo. Tháng 9, tỉnh ra lệnh tập trung giáo dân, nhà ngục của phủ quá nhỏ, không đủ nhốt nên cho dựng 4 ngục mới: ngục Dinh (Phước Lễ), là ngục chính ở ngay Bà Rịa, giam 300 đàn ông. Ngục Thơm ở Long Kiên cách Bà Rịa 4 km về phía Bắc, nhốt giáo dân xứ Thơm gồm họ đạo Ngũ Kiên, Long Tân, Long Hiệp, Long Nhong, Long Phước, gọi chung là Ngũ Long. Dân Ngũ Long bị nhốt ở ngục Long Kiên (Thơm) dành riêng cho đàn bà và trẻ em. Ngục Thành (Long Điền) giam 140 đàn bà con trẻ. Ngục Phước Thọ, Đất Đỏ nhốt 120 đàn bà con trẻ họ đạo Đất Đỏ. Bốn ngục nhốt 700 giáo dân thuộc giáo hạt Đất Đỏ.
Nhà ngục không có phên che mưa nắng, tù nhân phải nằm trên đất, chết bệnh khá nhiều. Lính canh gác 4 ngục rất chặt chẽ và hà khắc. Lúc đầu giáo hữu còn tiền bạc, đút lót cai ngục và lính canh nên được thông cảm. Thân nhân giả dạng lương dân đến thăm tiếp tế lương thực thì phải chia đôi cho cai ngục và lính. Tù nhân đi đại, tiểu tiện ở ngay trong ngục. Dù ở vào một hoàn cảnh thê thảm như thế, không một ai bỏ đạo. Thân nhân vẫn tìm cách vào ngục thăm, giả dạng làm người bán hàng ăn để dễ bề tiếp tế. Cha Trí giả dạng xin vào ngục bán nước mắm để gặp giáo dân và ban các phép bí tích. Bị giam cầm đầy ải như thế trong hơn ba tháng. Cũng như nhà ngục ở thành Bình Ý (Biên Hòa) xếp trước củi khô, dầu và chất bắt lửa quanh ngục. Ngục Bà Rịa chuẩn bị sẵn như vậy, chờ có lệnh là phóng hỏa.Thủ đoạn hiểm độc của Thượng Nghi, Đề Đốc Quyền là dùng 4 ngục làm hàng rào lửa ngăn quân Pháp đuổi theo.
Ngày 7-01-1862, Đô Đốc Bonard hạ lệnh tấn công Bà Rịa, ba tàu chiến từ Cần Giờ chạy ngược dòng sông Dinh vào Bà Rịa, tới khúc sông Cỏ May thì chia hai ngả, một vào Bà Rịa, một đến Chợ Bến. Tầu chiến không tiến lên được vì gặp lúc thủy triều xuống. Lính Pháp đổ bộ, 4 giờ chiều tiến đến cầu Thủ Lựu gần ngục Dinh. Cánh quân của Đô Đốc Lê Quang Tiến chống trả mạnh, quân Pháp phải rút lui đợi thủy triều lên tầu chiến mới có thể chạy vào. Quan quân thấy không chống nổi, Đô Đốc Quyền lui quân, ra lệnh phóng hỏa 4 ngục. Đó cũng là cách làm hiệu lệnh cho các đơn vị rút quân. Theo Thực lục, “Bá Nghi, khâm sai thống lãnh quân vụ lấy hạt phủ Phước Tuy làm đường vận lương” (Thực lục, XXIX, tr.235-236). Gs Dung viết về vụ này: “Vậy người trực tiếp lãnh trách nhiệm vụ thiêu sinh tập thể này là Bá Nghi, Đô Đốc Tiến thi hành.
Thực Lục và Châu Bản không chép về cuộc thiêu sinh rùng rợn này. Giữa đêm 7 rạng 8-1-1862, bốn “bồn lửa” bốc lên cháy rực một vùng trời. Quân triều do Đô Đốc Tiến chỉ huy bỏ căn cứ cuối cùng chạy về Cu My trong tỉnh Bình Thuận. Lính vây quanh ngục Dinh, đàn ông còn mạnh tông cửa ngục chạy ra bị đâm chết, 10 người chạy thoát, các ông là nhân chứng sống thuật lại cảnh rùng rợn kinh hoàng này. Ai chạy thoát “biển lửa” bị đâm chết rồi vất vào lửa. Ba ngục nhốt phụ nữ và trẻ em cũng bị phóng hỏa một lượt làm hiệu lệnh lui quân. Binh lính vẫn còn nhất điểm lương tâm động lòng thương xót, mở cửa ngục cho đàn bà trẻ em chạy ra ngoài. Các bà mẹ bế con, chậm chân luống cuống nên cả mẹ lẫn con đều chết cháy. Ngục Thơm giam 135 đàn bà con trẻ, chết 106, do tên cai ngục tham tàn chận cửa cướp của nên tù nhân không thoát được, chỉ có 29 nhân chứng sống sót thuật lại. Có phụ nữ mang thai. Có bà mẹ vừa sinh con trong ngục, cả mẹ con chết cháy. Nhân chứng cho biết: ngục Thơm giam cụ bà Mạc Liệu 76 tuổi, em Mađalêna Lợi 1 tuổi, em Micae Giao, em Phêrô Ban, em Carôlô. Ngục Đất Đỏ giam hai anh em sinh đôi trong ngục là Antôn Trước và Antôn Sau. Ngục Phước Lễ giam cụ Giuse Vệ 75 tuổi. Tổng cộng 444 giáo dân bị thiêu sống trong 4 ngục: 156 đàn bà trẻ em và 288 đàn ông. Ngày 8-1-1862, quân Pháp chiếm Bà Rịa, ngục Dinh chỉ còn đống tro tàn, ngổn ngang xác chết cháy. Linh mục Trí là giáo sĩ Việt sống sót, không bỏ giáo dân, vẫn lẩn khuất ở vùng Bà Rịa trong suốt thời gian giáo dân bị giam trong 4 ngục. Cha Trí trốn ở nhà lương dân, được lương dân nuôi và che chở. Ngày 9, cha xuất hiện gặp Linh mục Croc tức Cố Hòa vừa là tuyên úy và thông ngôn của binh đoàn Pháp. Cha Trí thật là người anh hung, một tay đôn đốc mai táng các giáo dân tử đạo. Với sự giúp sức của Cố Hòa, cha Trí cho đào 3 cái huyệt lớn cùng Cố Hòa làm phép xác, chôn 288 vị tử đạo ngay cạnh ngục Dinhy, nấm mồ tập thể của các chiến sĩ vô danhy của đức tin Kitô. Nơi đây, Bà Rịa thành đất thánh của Công giáoViệt Nam. Trên nấm mồ lớn, dựng tấm bia ghi sáu câu thơ thất ngôn bằng La Văn và Nôm:
“Ba tram bổn đạo xác nằm đây,
Những trông sống lại hưởng phước đầy
Vì Chúa tù lao dư ba tháng,
Cam lòng chịu cháy chết chỗ này.
Lập mộ táng chung vào một huyệt,
Giáo nhơn coi đó nhớ hàng ngày”
(Ghi chú của tác giả Cao Thế Dung: Viết theo tài liệu của Nguyễn Văn Quí, Sưu tập trong quyển: Những họ đạo cổ xưa Tây Đàng Trong. TP.HCM 1992)
Sau đó Gs Cao Thế Dung viết tiếp: Giáo dân hạt Bà Rịa trước ngày bị tập trung vào khoảng 2300 nhân danh. Quân triều rút về Bình Thuận, giáo dân hồi cư, trở về họ đạo cũ nhưng không ai muốn trở lại Long Kiên, Long Nhong vì thê thảm quá. Theo các nhân chứng và cha Trí, một “Á Thánh sống” thuật lại, phần lớn giáo dân vẫn lẩn trốn ở Bà Rịa, Đất Đỏ và Long Điền, cũng như cha Trí được dân lương dấu trong nhà, giả dạng là lương dân. Nhờ vậy mới còn khoảng 1500 người sống sót (Cao Thế Dung, sđd. Q.III, tr. 2051-2055)
Như vậy là tác giả đã có cuộc hành trình tìm về nguồn Công giáo tại Việt Nam, từ thuở ban đầu (1553) cho tới thời điểm ông dừng cuộc hành trình tìm kiếm là năm 2000, suốt 477 năm qua. Với thời gian này, chúng tôi chỉ giới thiệu với độc giả ít trang về việc quan quân triều đình bắt giáo dân ở Bà Rịa nhốt vào 4 ngục, lấy củi chất chung quanh rồi đốt thiêu sinh họ, như một hiệu lệnh rút quân. Như vậy quan quân đã dùng mấy trăm con người tín hữu Kitô như một phương tiện vật chất. Gs Dung cho biết quyển Đại Nam Thực lục và Châu bản không chép về việc thiêu sinh này và ông cho rằng sự thực này không thể lảng tránh. Ngoài ra, Gs Dung còn đề cập tới những trại giam giáo dân ở Bắc hà, việc phân tháp người theo đạo Chúa vào những gia đình lương dân. Thế nhưng, qua việc này, người lương dân đã có những hành động biểu hiện tình con người đối xử với con người rất có tình. Lương dân chẳng những che chở người có đạo mà còn trợ giúp cả vật chất nữa. Số giáo dân không giảm sút mà còn tăng triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, sau mấy trăm năm cấm đạo, những thiệt hại về cơ sở và nhân sự của giáo hội Việt Nam là rất lớn. Tác giả Cao Thế Dung đã ghi lại bản tổng kết, dựa theo sử gia Louvet, Lm Trần Đức Huynh, Đại Nam liệt truyện, Q. XXV, tr.485, như sau:
“Bốn năm cấm đạo đời Tự Đức, tàn bạo hơn tất cả các thời, kể từ cuộc bách đạo đẫm máu đời Nguyễn Phúc Chu (1700), 115 Linh mục tử đạo, khoảng 10.000 chức dịch trong họ đạo từ các ông trùm đến giáo lý viên bị tống giam, lưu đày, quá nửa bị chém, bị thiêu sống, chôn sống, trói buộc đá ném xuống sông, bị bỏ cho chết đói, chết khát. 50 tu viện Mến Thánh giá và khoảng 18 tu viện nữ Đaminh bị tàn phá, 2000 xứ đạo bị phá bình địa, hơn 300.000 giáo dân phân tháp, hơn 10.000 Nữ tu phải xiêu tán, lưu đầy, bị tù, khoảng 100 Nữ tu quyết giữ đạo bị chém, thiêu sống, đánh cho đến chết, khoảng hơn 50.000 giáo dân nam nữ bị giết, đa số bị thiêu sống, chết đói, chết khát và bị trảm (CTD, sđd. Q.III, tr. 2130-2131)
Trong 5 năm phân tháp khốc liệt, riêng 3 giáo phận ở Bắc Hà, có vào khoảng 40.000 giáo dân tử đạo. Số giáo dân tử đạo ở giáo phận Tây lên đến 1500 người, 30 Linh mục. Theo sử gia Louvet tổng kết, trong 5 năm diệt đạo, số Linh mục tử đạo là 115 vị: Hải Phòng 9, Bùi Chu 38, Hà Nội 31, Vinh 20, Huế 3, Qui Nhơn 11, Sài Gòn 3. 100 Nữ tu tử đạo, 2000 Nữ tu trong 80 tu viện bị tù, tu viện bị tàn phá và phân tán. Khoảng 300.000 giáo dân bị phát vãng váo các làng lương trong cuộc phân tháp. Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định: 200 đầu mục (chức sắc) chết đói vì bị cấm cốc, mất 2 phần 3 tư điền.
Trong thời kỳ 5 năm, từ năm 1858 đến năm 1862, vua Tự Đức cấm đạo, địa phận Trung bị thiệt hại về nhân mạng và tài sản như sau: 16000 người bị chết vì đạo, trong đó có 2 Giám mục và 38 Linh mục. Riêng trong tỉnh Hưng Yên, tới 5000 người chết vì đạo, 10.000 người bị giam tù và chết trong tù hay bị lưu đầy.
Sau thời sát đạo, giáo phận Đông còn 11 Linh mục Đaminh, 17 Linh mục triều, giáo phận Trung: 6 Linh mục Đaminh, 26 Linh mục triều. Các giáo xứ và họ đạo lại tiếp tục hồi sinh trên hoang tàn, sụp đổ với di sản tinh thần, có thể nói vĩ đại trong giáo hội toàn cầu: Giáo xứ Bách Tính (Nam Trực), giáo phận Trung với 37 vị tử đạo, giáo xứ Tương Nam 107 vị tử đạo trong 2 năm (1861-63), họ đạo Chiền bé nhỏ (Hiệp Luật, Nam Trực) còn lại một gia sản với 14 tiểu sành đựng 14 bộ xương Tử đạo, giáo xứ Ngọc Cục (Phủ Lý, Xuân Trường) với 48 vị tử đạo.
Dù vua đã “tha” đạo, giáo dân Nam Định vẫn còn khốn khổ với Thượng Tân. Linh mục Đaminh Gioan Nhường, giáo phận Trung bị ám sát cùng với 2 chủng sinh vào cuối năm 1862. Các giáo sĩ vẫn phải lẩn trốn cho đến tháng 5 -1863, Thượng Tân triệu hồi về Huế, chấm dứt thời kinh hoàng rùng rợn của giáo dân Nam Định (bao gồm cả Thái Bình và Hà Nam ngày nay), cũng như Hưng Yên và Ninh Bình thuộc quyền quản hạt của tay hung thần này mà chỉ hai năm sau, Thượng Tân và gia đình đã phải trả một giá rất đắt, sụp đổ trong máu và nước mắt” (Cao Thế Dung, sđd, Q.III, tr.2132)
Ở quyển III, trang 2167 là phần Tổng luận, Gs Cao Thế Dung viết bài: Triều Nguyễn trên đường suy thoái: Nguyên nhân và hệ lụy nỗi oan khuất của người Công giáo Việt Nam -Trong vinh quang đức tin.
Chúng tôi chỉ đưa ra nhan đề bài tổng luận, mà không trích dẫn, vì e ngại quý vị sẽ mất nhiều thời gian đọc. Có lẽ nhan đề bài tổng kết có thể giúp độc giả có một cái nhìn khái quát về bộ sách VNCG sử tân biên và quan điểm của tác giả.
Mỗi khi tôi có một bộ sáchdầy cả ngàn trang, như bộ Việt Nam Công giáo sử Tân biên, 3 quyển (1553-2000), tôi thường mở trang Mục lục ra xem trước, để sắp xếp cho việc đọc. Với bộ Việt Nam Công gi áo sử tân biên của Cao Thế Dung, ông và gia đình đã định cư tại Hoa Kỳ từ sau ngày 30-4-1975, thế nhưng, tôi thật sự ngạc nhiên khi nhìn vào nguồn tài liệu các sách Việt Nam và sách ngoại văn tác giả dùng để biên soạn bộ giáo sử này, tôi lưu tâm đến những tác phẩm và tài liệu được in hay xuất bản tại Việt Nam, trước và sau năm 1975. Mỗi quyển đều có Thư mục riêng, dài mấy trang sách. Tác giả còn dùng tài liệu của Thượng tọa Thích Mật Thể qua quyển: Việt Nam Phật giáo sử lược, Huế 1942; Thượng tọa Thích Thanh Kiểm với quyển: Lịch sử Phật giáo Trung Quốc, Nxb Phulauma 1991; Hòa Thượng Thích Thiện Hoa với quyển Phật giáo phổ thông, 4 quyển, TP. HCM 1992. Còn về thư tịch, chúng tôi đếm được 20 nhan đề cho cả 3 quyển; tạp chí 45 nhan đề; sách Việt Nam 63 quyển; sách ngoại văn 85 quyển. Tất cả cho 3 quyển. Trong các số liệu này, có thể có những quyển sách Việt Nam hay ngoại văn tác giả có thể dùng cho cả 3 quyển của mình. Nếu điều này có thế thì cũng hạn chế, vì nội dung mỗi quyển mỗi khác nhau. Mặc dù thế, nhìn vào các số liệu sách, tạp chí và 97 bài khảo luận tác giả dùng cho bộ sách của mình, chúng tôi từ đó mà nghĩ đến công phu của tác giả, giá trị của bộ sách có khó với tác giả chắc chắn cũng sẽ hiếm hoi.
Bộ sách Việt Nam Công giáo sử Tân biên, 3 quyển (1553-2000) có bán tại các nhà sách Công giáo tại Sài Gòn, nhưng tác giả thì không một lần trở về! Chỉ có cô con gái thứ hai về. Cháu đến thăm tôi. Tôi ra đầu ngõ đứng đợi. Từ xa, cháu thấy tôi thì nhảy ngay xuống xe, chạy vội qua đường đến chỗ tôi đứng, ôm chầm lấy tôi mừng tủi. Sau khi cháu trở về Mỹ, Cao Thế Dung viết cho tôi lá thư. Ông viết là nghe con gái nói đã gặp tôi, cháu bảo tôi khỏe và vững vàng, thì ông mừng lắm.
Khải Triều



