Đỗ Ngọc Trâm, như tôi biết, tên thật là Đỗ Tất Phú. Năm 1954 vào Sài Gòn, sau đỗ tú tài toàn phần và học Đại học Sư phạm Sài Gòn. Đời sống khó khăn, vì anh chú tâm cho lý tưởng chính trị. Khi chiến tranh lan ra miền Bắc, Đỗ Tất Phú (Đỗ Ngọc Trâm) vào trường Võ bị Thủ Đức, mãn khóa, anh ra chiến đấu tại Sư đoàn 21, miền Tây. Anh kết hôn với một thiếu nữ tại thành phố Cần Thơ. Hai người có với nhau một con trai, tên là Đỗ Tất Trung. Anh tử trận tại chiến trường miền Tây. Chúng tôi đã xuống Cần Thơ, dự lễ tang tại gia đình vợ anh, và ở lại để tiễn anh ra nơi an nghỉ. Khi áo quan hạ xuống huyệt, tôi đã khóc quá. Từ đó đến nay, tôi chưa có khóc ai như vậy.
Sau biến cố ngày 30-4-1975, vợ con anh vượt biên và định cư tai Hoa Kỳ.
Về văn chương, anh Đỗ Ngọc Trâm để lại một tập truyện Ba mẹ con, do Đại Nam Văn Hiến của nhà văn Thế Phong in, thời kỳ Đệ I VNCH.
Đỗ Ngọc Trâm và tôi có cái duyên gặp nhau, có thể nói là « kỳ ngộ », tôi ghi lại trong bài sau đây :
Vào một buổi sáng, tôi thấy có hai thanh niên đến thuê nhà, chung một căn gác với tôi, trên đường Nguyễn Thông, trước cổng vào ga xe lửa Hòa Hưng. Dáng hai người này cũng bình thường, cả hai dong dỏng cao. Một người lâu lâu nhìn tôi cười lặng lẽ, còn người kia thì có da mặt tái xanh, sống mũi quặp xuống, ít khi ở nhà. Họ không ở lâu.Một hôm, người thanh niên hay nhìn tôi cười, đến bên tôi, lấy ra trong túi áo một tấm hình, đưa cho tôi xem, rồi hỏi: “Cậu có biết ông này là ai không?” Tôi nói ngay: “Nguyễn Thái Học”. Anh ta bảo: “Cậu có con mắt tinh đời”. Rồi anh cho biết tên là Đỗ Tất Phú, người kia là Cao Thế Dung.
Một sáng nọ tôi đi học về, không thấy hai người đó. Chủ nhà nói hai cậu ấy đã dọn đi nơi khác.Tôi quên họ ngay. Ít lâu sau tôi cũng không ở đó nữa. Tôi lên Ban Mê Thuột, sống vài năm, trở lại Sai-Gòn năm 1960, thuê căn gác của một y tá “ chích theo toa bác sỹ”, đường Nguyễn Thông nối dài, gần cống Bà Xếp, khu vực nổi danh về bất ổn xã hội.
Như thường lệ, lúc chiều tối, tôi thường “xuống núi” ra ngoài ăn cơm, quán cơm bình dân, bên cạnh đường rầy xe lửa. Đi được một quãng thì chợt thấy Đỗ Tất Phú đang đạp xe về phía tôi. Tôi bật tiếng gọi anh. Nghe có người gọi, Phú dừng xe, nhận ra tôi.
Tôi hỏi:
Đi đâu thế, anh Phú?
-Tớ đi tìm chỗ trọ, không có tiền trả tiền mướn nhà, chủ nhà họ đuổi, không cho ở nữa.
-Anh về ở với tôi.
Tôi dẫn Phú trở lại gác trọ, đẩy chiếc xe vào trong nhà, rồi trở ra quán cơm ăn tối. Từ đó Phú sống với tôi.
Một thời gian sau, tại gác trọ này hay tại một vài nơi khác, tôi gặp lại Cao Thế Dung. Theo lời Phú, lúc trước, Cao Thế Dung nghi tôi là việt cộng nằm vùng vì tôi là người Bắc mà sao lại ở nhà người miền Nam, và có lẽ thế mà hai người này đã không ở căn gác đó lâu. Ngoài Cao Thế Dung ra, tôi còn được là bạn với Đỗ Đức Thịnh, “cây thuốc lào” tại Đại học Văn khoa Sài-Gòn, Nguyễn Cái Thế, con của cụ Nguyễn Văn Lực, trong nhóm Caravelle; Nguyễn Tường Uyển, con gái của cụ Toan Ánh, một học giả về phong tục học Việt Nam. Sau này, Nguyễn Cái Thế và Nguyễn Tường Uyển nên duyên vợ chồng; rồi Lưu Thái Hưng, Đỗ Đình Duyệt.
Tôi với Phú khác biệt về quan điểm chính trị, và có lẽ các bạn anh cũng vậy. Tôi làm cho tờ nhật báo Dân Việt, khuynh hướng Ngô Đình Diệm, còn Phú thì tôi không thấy anh có những hành động cụ thể nào để nói là chống ông Diệm. Ngay đến “nhóm” của anh, mãi sau ngày có cuộc đảo chính năm 1963, khi các anh nhờ tôi viết bài cho tờ Sống Động, tiếng nói của Tổng bộ Thanh niên Sinh viên VNQDĐ, thường gọi là Tổng bộ Yên Bái, tôi thật sự mới biết quan điểm và lập trường chính trị của các anh. Còn trước đó một đôi lần trong chỗ riêng với tôi, Phú chỉ phê phán một cách chung chung chính sách của ông Diệm, không khác biệt lắm với những khuynh hướng chống Ngô Đình Diệm. Vì vậy giữa chúng tôi có một tình thân thiện. Chúng tôi tôn trọng nhau.
Từ dạo đó đến nay, 50 năm rồi. Những chuyện liên quan đến Đỗ Tất Phú và tôi, đều đã được ghi lại trong truyện Ngọn nến ăn năn. Trong cuốn này, tôi viết về đời sống của hai chúng tôi trong gác trọ một cách đầy đủ, tôi cũng nói đến tập truyện ngắn Ba mẹ con của Phú, qua bút hiệu Đỗ Ngọc Trâm. Tập truyện mô tả một phần nào đời sống của một bộ phận thanh niên ngày ấy có một lý tưởng, một hoài bão, nhưng bế tắc. Nó phản ảnh con người tác giả của nó nói riêng và những thành phần thanh niên giữa thời loạn. Nhưng, chuyện đấu tranh và với nhóm bạn hữu của Phú trên đây, là một chuyện hệ trọng của các anh, tôi không thể nói theo cảm tính, hay văn chương hư cấu. Vì vậy, trong cuốn truyện của tôi, vấn đề này không được đề cập tới. May mà Đỗ Đình Duyệt về Việt Nam dịp Tết Quý Tỵ vừa rồi, tôi lại là người được anh ghé chơi, lại dành cho tôi gần trọn một đêm tâm sự tại căn gác nghèo của tôi. Nhờ đó tôi hỏi lại chuyện của Phú và các anh, được anh nhắc lại một vài chi tiết. Vì thế, tôi an tâm công bố ra đây. Chỉ tiếc rằng, Đỗ Tất Phú đã không còn nữa. Anh đã nằm xuống tại mảnh đất miền Tây, quê hương của vợ anh.
Nhớ Đỗ Tất Phú, viết về anh ít hàng nơi đây, nhắc lại một thời tranh đấu của anh, là một nén hương tinh thần, tôi xin dâng lên anh linh người bạn hiền của tôi.
GÁC TRỌ
Tôi có một người chị họ bên ngoại, thường hay nói với tôi về mẹ của chị, mẹ của tôi và mẹ của người chị thứ ba khác. Chị bảo, ba bà là chị em con dì với nhau, rất thương nhau, đến nỗi người trong làng phải nói, ba chị em “nhà ấy” sao mà thương nhau thế, đi đâu cũng có nhau, từ việc kinh sách, ca vãn trong nhà thờ, đến việc chợ búa và đồng áng. Sau đó thì chị nói, tôi cứ nghĩ đến các bà của mình sao mà hiền lành quá, thương nhau chẳng có nhà nào sánh được, nên cậu đi xa hay ở đâu thì tôi không biết, còn bây giờ cậu đã về đây thì cứ ở đây, không phải đi đâu hết.
Vậy là thời gian đầu khi ở Ban Mê Thuột về, tôi không phải lo việc ăn ở. Mọi cái bà chị tôi giúp. Ngay cả khi biết tôi có bệnh, bà đã gọi y tá đến chích thuốc cho tôi.
Dần dà, người y tá và tôi hiểu được nhau, đồng cảm về hoàn cảnh của nhau. Cho nên, một hôm ông nói với tôi là cậu ra ở với tớ cho vui, ngoài nhà tôi có cái gác bỏ không. Tớ cũng chỉ có một mình. Nếu cậu ngại thì trả tớ mỗi tháng một trăm đồng, không có thì thôi, cứ việc ở. Lúc này tôi đang bệnh và cũng thấy ra ngoài thì hợp với tính cách của mình hơn, nên tôi tính nói với bà chị tôi việc này, nhưng rất phân vân. Nói thế nào với bà đây, để bà chấp nhận cho tôi ra ngoài. Nhà bà chị tôi ở trong con ngõ, còn nhà người y tá nằm ngay trên dốc, cách một quãng đường ngắn khoảng hơn 100m. Tôi có hai lý do chính để nói với chị tôi. Thứ nhất, tôi đang có bệnh, một thứ bệnh truyền nhiễm. Tôi cũng nhờ người y tá nói giúp với bà về căn bệnh này. Bà có thể không tin tôi, nhưng sẽ tin vào ông thầy thuốc. Thứ hai, tôi cũng còn có bạn học cũ, thỉnh thoảng ghé thăm nhau, sẽ không tiện lắm mỗi khi họ đến chơi, vì bà là người khép kín. Bà còn có hai người con gái đang lớn, cũng khép kin như mẹ. Lúc còn trẻ ở nhà quê, bà chị tôi đã nổi tiếng về nóng tính, bộc trực, không nể nang ai cả, nên khi nghe tôi nói thế, bà có vẻ giận, bảo ngay : “ Nếu nhà ông y tá ở xa quá thì tôi nhất định là không cho cậu đi đâu. Ngay khi nghe tin cậu vào Sài-Gòn, tôi đã sai thằng Sĩ đi tìm cậu về. Mặc xác ai nói gì thì nói (ý bà muốn nói đến những người bên họ nội tôi), nhưng nhà ông y tá cũng ở gần đây, nên cậu thích ra ngoài ấy thì cậu cứ ra.”
Người y tá này tên là Đức Luân (+), mặt sau nhà của ông dựa vào bờ tường ga xe lửa Hòa Hưng, mặt trước là đường Nguyễn Thông (nối dài), gần cống Bà Xếp. Đây là khu vực bất ổn về an nình xã hội, thường xảy ra những vụ đánh nhau rất dữ dội, giữa các nhóm thanh niên “dao búa”. Một trong nhóm này, có mấy thanh niên đồng hương với tôi. Một buổi tối nọ, hai toán cãi vã nhau về một chuyện gì đó, từ trên gác nhà ông y tá nhìn xuống, tôi giật mình khi họ đang có vẻ muốn “ăn thua đủ” với nhau. Tôi vội chạy xuống can ngăn. Một thanh niên nhẩy vào toan đánh tôi. Ngay lúc đó có một người đàn ông đến bên tôi kéo tôi ra ngoài. Ông ta nói mình là nhân viên an ninh ở đây. Tôi hỏi giấy tờ. Ông rút trong túi ra tấm thẻ hành sự. Thấy thế, cả hai toán thanh niên tự động rút lui vào ngõ hẻm tối.
Về căn gác của ông y tá Đức Luân, có hai lối lên xuống. Một ở phía mặt sau. Ông chủ phá một mảng tường hàng rào nhà ga, đủ cho một người từ nhà dưới chui lên gác hay ngược lại, từ trên gác chui xuống nhà mỗi buổi sáng để rửa mặt. Còn lối trước thì có một cầu thang, đặt ở bên ngoài, sát vách nhà, phía ngoài đường. Lên hết mấy bậc thang, bạn có thể đặt một chân vào trong nhà qua cửa sổ. Có một cửa chính, nhưng thường là đóng hờ.
Đúng ra, đây có thể gọi được là cái “trạm y tế” tư nhân, giúp ích cho nhiều người nghèo trong khu vực có những bệnh thông thường, hoặc ai có toa bác sĩ thì ông Đức Luân chích theo toa.
Thường ngày, ông y tá chỉ mặc chiếc áo sơ mi mầu nâu, dài tay, cài cúc đàng hoàng, còn quần thì bạc phếch, cũ kỹ. Chiếc xe đạp nam của ông, từ thời Pháp, đã tróc hết lớp sơn, để trơ khung, nó cũng cũ kỹ như con người ông. Khi đi xe, vai trái ông luôn luôn lệch ngược lên, cao hơn bên vai phải.
Sáng nào cũng thế, ông luộc mấy cái kim và ống đựng thuốc chích, rồi bỏ vào một cái hộp inox chuyên dùng trong y tế. Cái hộp này có lẽ cũng lâu lắm, như chiếc xe đạp của ông, nên mầu hộp đã sậm lại. Có một hôm hai chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau. Ông tự kể, trước kia ông là y tá trong quân đội Pháp, nên ông nói được tiếng Pháp. Năm nào cũng thế, cứ gần đến kỳ thi quốc gia, ông đều mang sách toán bằng tiếng Pháp ra ôn và làm bài tập.Tôi có để ý đến cuốn sách toán này, nó là loại sách bỏ túi và hình như ông y tá chỉ có một cuốn này duy nhất. Ông bảo, tớ ôn bài để đi thi tú tài môn toán, nhưng không thấy ông nói đến kết quả thi, đậu hay rớt.
Ngoài cái “trạm y tế” này ra, có hôm ông Đức Luân đã dẫn tôi đi xem hai căn nhà nhỏ khác của ông. Một cái trong “Xóm chùa” cũng thuộc khu vực Nguyễn Thông (nối dài), một cái ở khu vườn cao su Phú Thọ. Cả hai đều cho thuê. Người thuê nhà cũng thuộc thành phần lao động nghèo, nên tiền nhà trả cho ông, tháng có tháng không. Lúc vào căn nhà ở vườn cao su Phú Thọ, người đàn ông thuê nhà có vẻ mệt mỏi, nói với ông Đức Luân rất nhỏ nhẹ, từ tốn như hàm chứa lời xin ông cảm thông cảnh nghèo của mình, vợ đã bỏ đi về nhà mẹ đẻ, để con lại cho ông. Lúc nào đi đạp xích lô, ông phải gửi con cho nhà hàng xóm giữ, mỗi tháng trả cho họ tiền, nên chưa có tiền trả cho ông, mặc dù đã mấy tháng rồi. Vừa nói mà ông ta như muốn khóc, nhìn vào mấy đứa con còn nhỏ đang quanh quẩn đâu đấy.Ông Đức Luân không tỏ cử chỉ khó chịu nào, chỉ nói tôi cũng không hơn anh bao nhiêu đâu, cũng nghèo thấy mẹ, anh cố gắng trả, rồi lặng lẽ đi ra.
Mãi về sau này khi ông Đức Luân đã chết ở bên Campuchia trong cuộc tìm đường qua đất Thái Lan tị nạn, một thanh niên ở gần nhà thờ An Phú cũ (nay là trường Tiểu học Trần Văn Đang), có quen biết với ông Đức Luân, đã nói cho tôi biết là, sau ngày đảo chính đầu tháng 11/1963, người của phe đảo chính toan bắt tôi, song ông đã bảo lãnh tôi, vì từ năm 1960, tôi làm trong tòa soạn Nhật báo Dân Việt, có đường lối chống Cộng và ủng hộ các chính sách của ông Diệm. Một lý do khác nữa là, tôi còn có một người bạn cùng sống trong gác trọ này. Anh là một đảng viên trẻ trong hệ phái Yên Bái, VNQDĐ, anh không muốn đi làm. Sau ngày hai anh em ông Diệm bị sát hại, có một hai lần gì đó, các bạn anh gặp nhau tại đây, nói chuyện thời sự, nói chuyện ra tờ tuần báo Sống Động. Việc này làm sao tránh được những con mắt chuyên môn của tình báo. Cái cầu thang lên gác đặt ở bên ngoài nhà, nên ai ra vào với tôi, người đi đường và người chung quanh cũng biết, huống nữa là mật vụ chìm, một khi họ có nghi ngờ chúng tôi.
Thực sự những người bạn của bạn tôi cũng chẳng thích về căn gác trọ của chúng tôi, có lẽ nó quá trống trải. Dưới Thủ Đức, họ có một ngôi nhà bỏ trống, nhưng như tôi biết, anh em họ rất ít lui tới. Chỉ có hai chúng tôi lâu lâu một lần, nhảy xe lửa xuống đó nghỉ một ngày. Có năm, sáng Mồng Một Tết, chúng tôi dậy sớm nhảy lên xe lửa, chuyến đầu tiên trong ngày, xuống ga Thủ Đức, qua mấy rặng dừa, cách ga khoảng 15 hay 20 phút đi bộ. Căn nhà này của Phạm Quốc Trị, một thành viên trong VNQDĐ, giao cho Tổng Bộ Thanh niên Sinh viên Yên Bái sử dụng, thường thường đóng cửa, không có người ở. Căn nhà này dựng trên một nền đất, trước nhà là một cái ao, cách biệt với các nhà chung quanh. Mỗi khi về đây, chúng tôi lại lội xuống mò cua, bắt ốc. Thế là đủ cho một bữa ăn trưa. Đến chiều lại đón chuyến xe lửa cuối cùng trong ngày trở về gác trọ.
TẬP TRUYỆN NGẮN BA MẸ CON CỦA ĐỖ NGỌC TRÂM
Những năm tháng cô đơn, không có cuộc sống ổn định và không nơi cư trú lâu dài, đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người bạn tôi, đó là Đỗ Tất Phú. Phần khác, lý tưởng cách mạng mang tính lãng mạn, không thể hiện được do sự phân hóa và thiếu lãnh đạo, cũng như bối cảnh xã hội, chính trị, Đỗ Tất Phú đã gửi vào Tập truyện ngắn của anh, có tựa đề Ba Mẹ Con, ký bút danh là Đỗ Ngọc Trâm. Cơ sở xuất bản Đại Nam Văn Hiến của nhà văn Thế Phong ấn hành, phổ biến trong thân hữu, mấy năm đầu thập niên 1960.
Đỗ Ngọc Trâm chỉ có một tập truyện này và mất sớm trước khi ông nhìn thấy đứa con trai đầu lòng của mình là Đỗ Tất Trung biết đi. Thấy thiếu sót với người bạn quá cố, với con trai của ông và với chính mình, nên tôi đề cập đến tập truyện Ba Mẹ Con ở đây, cũng chính là nhìn lại một giai đoạn, một quãng đời của thế hệ chúng tôi qua Văn xuôi, cùng thời với hai tập thơ của tôi : Người ôm mặt khóc và Tiếng hát khuẩn trùng.
Ba mẹ con, là tên một trong sáu truyện ngắn của toàn tập, phản ảnh một phần sự thật, rất thật, về bối canh xã hội Việt Nam trong chiến tranh. Truyện cũng phơi bày những bế tắc, những trăn trở, những thất bại trong tình yêu.
Cuộc sống của tác giả phần lớn gắn liền với những xóm lao động nghèo trong thành phố, nên hằng đêm, ông đã thấy ở đó diễn ra những “vở kịch”:
“Trời tối hẳn xuống. Từ trong hàng thịt chó hai người mặc quần áo bà ba loạng choạng bước ra. Họ giơ tay và làm điệu bộ và hát những bài vọng cổ rất mùi. Mọi người xúm quanh lại. Tôi cũng như họ, tự nhiên lại được xem diễn kịch không mất tiền mua vé. Ở cái xóm nghèo khổ này người ta thường dễ dãi cười sau những giờ vất vả. Những đám đánh nhau chửi nhau hay những người say rượu là những trò giúp vui cho người trong xóm. Thế mà những trò này hầu như không ngày nào là không có.
“Hai người mặc bà ba bắt đầu trình diễn một vở kịch. Hơi men làm họ có điệu bộ, giọng hát rất lôi cuốn. Ba mẹ con trước cửa nhà tôi cũng có mặt. Con mẹ cười híp mắt lại. Con chị mặc cái áo hở cổ rất cộc, tóc uốn ngắn. Con em trông xinh hơn, tóc để dài như Pier Angêli. Tên học sinh bên cạnh chạy vội ra làm như vô tình đứng sau con em. Từ trên cao nhìn xuống tôi thấy nó dúi vào tay con này một mảnh giấy nhỏ.
“Dưới đường hai người đàn ông vẫn tiếp tục diễn kịch. Người thứ nhất đóng vai vua. Hắn giơ cao tay áo rộng, bệ vệ như một vị thiên tử. Người thứ hai cúi rạp mình. Điệu hát chấm dứt ở một âm thanh rất trầm. Mọi người vỗ tay. Giọng hát dần dần líu lại. Cũng vừa lúc đó có hai người đàn bà đến lôi họ về.” (Truyện Ba mẹ con, tr.8)
Người đàn bà trong câu chuyện trên, lấy trai, mới sinh được đứa con còn nhỏ. Người chồng ở xa về biết chuyện, uống rượu say, đánh chửi vợ, đập phá đồ đạc trong nhà. “Nhưng rồi cũng vứt lại cho vợ một ít tiền để nuôi con. Không ai biết hắn làm gì. Người ta bảo hắn thương con lắm. Nếu không có những đứa ấy, hắn đã không bao giờ về đến nhà để nhìn thấy mặt con vợ khốn nạn của hắn.”
Trong truyện Những ngày mưa đầu mùa, tác giả nói đến câu chuyện tình yêu của mình. Nó là một sự thật, không hư cấu, không tiểu thuyết hóa tình yêu của mình, một tình yêu bị ngăn trở, khổ đau. Nhưng họ đã cương quyết vượt qua. Chính lúc ấy, người con gái, em của người bạn, ngã gục trong một tai nạn giao thông trên đường phố!
“Tôi nắm chặt tay Huyền, nét mặt thoáng vẻ sợ hãi. Huyền quay lại :
-Anh sao thế ?
-Anh sợ…Anh muốn hai bàn tay chúng mình liền vào nhau, như thế không bao giờ em xa anh được.
-Anh không tin em? Em nghĩ sau những ngày giận nhau, chúng mình hiểu nhau hơn. Và bây giờ chỉ có chết mới làm chúng mình xa nhau.
“Tôi lo sợ. Huyền đã nói đến cái chết. Có thể thế được không? Định mệnh khắt khe sẽ đến chụp lên thân phận tôi. Tôi nhớ lại những hình ảnh nối tiếp từ khi tôi ra đời. Bất hạnh. Đau buồn. Tôi sẽ bất hạnh trong tình yêu? Đã từ lâu tôi sống không tình cảm. Hồi bé, cha mẹ tôi bận buôn bán, thường bỏ mặc tôi lang thang ngoài phố. Tôi đi chơi suốt ngày, làm bạn với những đứa trẻ không nhà. Khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ, mẹ tôi qua đời. Lúc ấy chỉ có mình tôi là con trai ở bên người. Hai anh tôi còn ở mặt trận. Từ đây tôi bị hắt ra đời. Tôi đem lòng quả cảm để vươn lên nhưng hoàn cảnh vẫn bắt tôi phải cúi xuống.
“Khi gặp Huyền, tôi yêu nàng bằng tất cả tình cảm của tôi. Tôi khao khát được an ủi và thương yêu. Hôm nay ngồi bên Huyền, đen tối và mặc cảm tạo cho tôi những cảm giác lo sợ…”(tr. 15)
Tôi gặp tác giả tập truyện Ba mẹ con sau ngày người yêu anh mất. Mấy năm sống với nhau trên căn gác nhỏ, tôi không thấy anh nói đến một tình yêu nào khác, ngoài Huyền. Bây giờ nhân lúc nhắc đến anh, đọc lại tập truyện của anh, tôi mới thật sự hiểu anh. Vóc dáng cao gầy, khuôn mặt xương xương của anh hiện rõ lên trong tâm trí tôi. Anh không bao giờ nói đến việc đi làm, chấp nhận cuộc sống khó nghèo đến khó hiểu. Tất cả, anh đã gửi vào tập truyện duy nhất này. Tất cả, anh đã mang theo …
“Huyền nói chuyện về vài người văn nghệ. Tôi mỉm cười vì thấy ngộ nghĩnh. Huyền tiếc cho sự xuống dốc của một vài người. Tôi nói:
-Có lẽ họ lo sinh kế quá.
-Anh nhận xét đúng.
-Nhưng sống đầy đủ cũng không viết được.
-Vì thế anh không chịu đi làm.
-Có lẽ. Vì anh muốn tạo cho anh những ý nghĩ chua xót. Anh muốn được đau khổ đến tê buốt tâm hồn. Và chính điều này Huyền đã giúp anh. Nhưng bây giờ anh sẽ đi làm, vì em không sống như anh được.
-Huyền không muốn anh đổi ý nghĩ.
-Không. Anh vẫn mang những ý nghĩ ấy và sẽ đi đến cùng.
-Nhân vật đến với anh hình như đều bị anh khoác cho một vẻ đau đớn.
-Anh cho rằng thời đại chúng mình là thời đại chua xót vô lý. Những bất trắc luôn luôn rình rập con người ở mỗi đoạn đường”. (tr. 14)
Cô đơn. Đau khổ trong cuộc đời. Tình yêu đã mất. Đất nước chiến tranh. Một người bạn lính đào ngũ từ trung đội trừng giới…đã làm anh không còn một niềm tin:
“Anh chán nản bỏ đi. Con đường dài đông người. Thành phố đèn xanh đèn đỏ, xe cộ và bụi. Tất cả hợp thành một bộ máy khắc nghiệt, nghiền nát con người thành những mảnh vụn. Qua một hiệu sách…Sách tôn giáo phủ đầy bụi…Đúng ra, Vĩnh cũng có những thắc mắc siêu hình. Nhưng cuộc đời dồn dập làm thắc mắc đó tan biến đi ngay. Anh chỉ không muốn bị ràng buộc vào một tôn giáo nào. Anh cho con người là phải có tự do. Tự do sống cũng như tự do suy nghĩ.” (truyện Buổi chiều, tr.22)
Nhưng tiêu biểu cho thế hệ của mình sống trong thời buổi chiến tranh, tác giả đã gửi tâm sự của mình vào truyện Ba người trong gác trọ, “với tính tình khác nhau lại có thể sống chung dưới một mái nhà. Rất thân yêu. Anh nghĩ đến căn bệnh của mình. Các bạn đã không xa lánh, còn tìm cách an ủi…” (tr. 25)
“Anh nhớ lại từ ngày đến sống với Miên và Chi. Anh thương bạn và thương mình. Nhiều lần ba người phải chia nhau mẩu bánh, từng điếu thuốc. Hay có ngày nhịn đói, chỉ ngồi nhìn nhau buồn. Những lúc ấy Dũng thường nói với các bạn:
-“Tao muốn bỏ đi thật xa…”
Dũng tự biết mình đã mất lòng tin. Anh không còn gì cả, ngoài vi trung Koch đang làm mòn mỏi hai lá phổi anh, còn bao thứ vi trùng khác…Chi đã bỏ học, bỏ cả hạnh phúc riêng để sống theo lý tưởng. Trái với Chi, thằng Di đi dạy học nhưng chỉ nghĩ đến tiền. Quốc ở nước ngoài về, vênh vang sống trong cái vòng tròn riêng mình.(tr.25)
Và đây là không gian trong căn gác trọ của ba người bạn:
“Dũng tựa lưng vào tường. Mắt nhìn khoảng trời trắng đục. Một vị nhạt dâng lên đầu lưỡi (…) Miên vẫn ngồi im ở cuối căn gác, đầu nghiêng nghiêng trên những trang giấy. Hai người cùng không thốt ra một lời. Sự im vắng của buổi chiều thấm dần vào lòng Dũng. Cảnh vật chung quanh chỉ là những cảnh vật chết trước mắt anh. Anh mỏi mệt thu đầu gối vào ngực rồi vòng hai tay ôm lấy chân, mắt đăm đăm nhìn xuống sàn gác trống. Những hạt bụi nhỏ bơ vơ. Thốt nhiên Dũng thấy mình như những hạt bụi đó. Không sống. Không chết. Không suy nghĩ. Cả thế giới biến động ngoài kia không liên hệ gì đến anh. Những thây người ngã xuống. Những tên Tây đen đang đốt phá quê hương anh. Trước những hình ảnh ấy, anh chỉ cảm thấy xa lạ.
“Có tiếng chân trên cầu thang. Đều đều mỏi mệt. Chi bước vào căn gác (…) đến ngồi bên Dũng. Chi đưa cho mỗi người một mẩu bánh.
-Tao sắp đi lính.
-Đi lính?
-Ừ, ít ra tao cũng không lo chết đói.
Dũng bảo:
-Chúng mình phải nghĩ lại? Mày nhớ Tao đã đào ngũ ra đây?
-Tao biết mày định nói gì. Giữa Tây và Cộng sản mình không có quyền chọn lựa bên nào. Nhưng tao vào lính chỉ để sống. Thế thôi.
-Còn lý tưởng?
-Tao vẫn nhớ.
Dũng nhìn bạn rưng rưng. Anh cũng đã sống một thời gian trong quân đội. Khi đang trọ học ở đây thì được tin gia đình bị du kích lùng giết cả. Anh nằm khóc suốt buổi chiều. Đêm hôm ấy anh chợt thấy, nước mắt không làm quên được gì. Từ khuôn mặt mẹ già đến khuôn mặt người em gái nhỏ cứ hiện ra trong giấc mơ. Sau cùng anh quyết định xin vào quân đội Pháp. Rồi trong một cuộc hành quân về làng, anh say sưa bắn vào bọn người đã giết chết gia đình anh. Một hôm Dũng bênh bạn đồng đội đánh một sĩ quan viễn chinh. Vì thế anh bị gửi đến trung đội trừng giới. Và bây giờ anh đang trốn về đây, sống với Chi và Miên. Dửng dưng trước cuộc đời.
Dũng đưa mắt nhìn bạn. Khuôn mặt Chi chìm trong bóng tối mà Dũng vẫn nhìn thấy đôi mắt long lanh. Miên bỏ quyển sách xuống bàn, từ lúc Chi về, Miên chưa nói một câu. Miên cảm thấy không giải quyết được gì. Với số tiền nhỏ hàng tháng gia đình gửi cho Miên, Miên nhiều khi đã phải chung cái đói với các bạn. Miên đến ngồi giữa hai người. Cả ba cùng im lặng nghe giọng hát buồn từ radio nhà bên cạnh. Dũng nằm dài xuống sàn gác. Đèn thành phố để một khoảng sáng dài phía trước cửa.(tr.26)
Thế là Chi đã đi rồi. Miên cũng về với gia đình. Chỉ còn mình Dũng với căn gác trống. Dũng đưa mắt nhìn khoảng trời cao và trong. Buổi sáng đưa Chi đến trại. Trời mưa nhẹ. Hai đứa đi sát vào nhau.
Đến trại lính. Người đưa tiễn đứng trước cổng trại…Chi lên xe rồi khuất dần trên con đường dài.
Lúc trở về (…) anh lại rẽ sang một phố vắng. Mưa bụi vẫn bay. Những cành lá chơ vơ trên nền trời trắng đục. Bóng thánh đường hiện ra sau những lùm cây. Anh bước lên thềm mang theo một linh hồn đầy tội lỗi. Bên trong thánh đường hơi tối. Tượng Đức Mẹ in hình phía trên. Dưới hàng ghế có một người đàn bà áo đen gục đầu khóc lặng lẽ. Dũng nhìn những ô kính mờ, lòng vẫn thản nhiên trống vắng. Những hàng ghế cô đơn, những ngọn nến, những bức ảnh. Tất cả chỉ làm cho Dũng thấy xa lạ. Anh mong được cứu rỗi nhưng khi bỏ thánh đường lại phía sau, anh chỉ thấy tội lỗi hơn. Anh đã đến trước mặt Chúa mà không có niềm tin. Anh muốn khóc…” (tr.28).
Đọc tập truyện ngắn Ba mẹ con của Đỗ Ngọc Trâm, tôi thấy tôi, gặp lại con người tôi ở trong đó vào một thời, một giai đoạn nhiều chua cay, nhiều biến động. Có lúc tôi đã bỏ Sài-Gòn lên Ban Mê Thuột mấy năm, rồi lại trở về vì căn bệnh phổi.Gặp lại bạn học cũ, tôi cảm thấy mình đã khác bạn bè. Nhưng trong các buổi gặp gỡ, chuyện trò, vấn đề thời sự đã được xen vào chung quanh việc tương lai của từng người. Không ai biết mình sẽ làm gì giữa lúc Sài-Gòn đã xảy ra những biến động chính trị, một vài nhóm chính trị tỏ thái độ chống chế độ đương thời lúc ấy, qua cuộc đảo chính, tuần lễ đầu tháng 11/1960, song thất bại. Ngay lúc đó, chính quyền Mỹ đòi ông Diệm mở rộng cơ sở chính trị của chính phủ. Điều này chỉ có nghĩa ông Diệm phải dùng những thành phần chính trị khác nữa. Đó là một thái độ Hoa Kỳ ủng hộ lập trường của một đơn vị quân đội đã phản kháng ông qua hành động quân sự kia. Hai sự kiện này, có vẻ như “ăn khớp” với nhau rất nhịp nhàng với những hành động của Cộng sản. Hoặc là người Cộng sản đã biết nắm cơ hội qua hành động khủng bố ngay tại Sài-Gòn. Đến tháng 12/1960, họ tiến một bước dài nữa : thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Tôi đã hỏi một người bạn thân của Đỗ Tất Phú, qua điện thoại, từ bên kia Thái Bình Dương. Người này quen với Phú từ ngày còn ở thành Nam trước kia. Ông kể cho tôi một vài chuyện đời của Phú, từ hoàn cảnh gia đình hồi còn ở miền Bắc, rồi sau này tại Sài-Gòn, chuyện học hành, chuyện tình yêu, cho đến lúc Phú thi đậu Tú tài toàn phần, vào Đại học Sư phạm, mắc bệnh lao phổi. Điều này nếu Phú nghe lời Bác sĩ, thì anh miễn được việc đi lính, năm 1967. Nhưng như một truyện ngắn trong tập Ba mẹ con, anh đã bỏ học để vào lính. Cuối cùng là cái chết ngoài mặt trận của anh, năm 1971.
Qua cuộc nói chuyện dài gần một giờ đồng hồ này, tôi đem đối chiếu với một vài truyện trong tập Ba mẹ con, thì thấy con người của tác giả ẩn hiện lên trong truyện này truyện kia, từ ngôn ngữ cho đến ẩn sâu trong tư tưởng. Mặt khác nhiều năm sống với tác giả, tôi hiểu tính cách của con người tác giả, quan niệm sống của tác giả. Vì vậy, tôi biết Phú viết rất thực về cuộc đời của anh, về thời đại và xã hội anh đã sống. Đó cũng là thời đại và xã hội tôi sống. Cho nên, có những giai đoạn và mảnh đời của anh, tâm tư của anh, ít hay nhiều, cũng là những giai đoạn, là mảnh đời, là tâm tư của tôi. Chỉ khác anh ở điểm tôn giáo.
Chẳng hạn, truyện Ba người trong gác trọ, tác giả nói đến việc anh đưa tiễn một trong ba người sống chung ở một căn gác, lên đường đi tới trại lính, còn người thứ hai thì đã về với gia đình. Nay chỉ còn lại một mình anh với căn bệnh lao phổi. Đứng trước cổng trại lính, anh nhìn bạn lên xe rồi khuất dần trên con đường dài. Lúc trở về, anh đi trên một phố vắng. Mưa bụi bay…
Đấy là một giai đoạn và một mảng đời lẻ loi, nghiệt ngã, một bước ngoặc bi đát của tác giả. Anh mang nó đi vào một ngôi thánh đường. Ở nơi này, anh lại thấy “dưới hàng ghế có một người đàn bà áo đen gục đầu khóc lặng lẽ”. Còn anh, “Anh đã đến trước mặt Chúa mà không có niềm tin.” (tr.28).
Còn tôi, cũng có những tháng ngày mắc bệnh lao phổi. Có đêm ho ra máu, người bạn sống chung gác trọ, cũng chính là tác giả tập truyện trên đây, phải chở tôi vào nhà thương Hồng Bàng bằng chiếc xe đạp của anh. Người ta dẫn tôi vào phòng cấp cứu, tiêm cho tôi một mũi thuốc, rồi cho về.
Có lúc tôi cũng đi đến nhà thờ. Và đã thấy :
“Trên kia tiếng hát nữ tu đơn điệu
Dưới này một người ôm mặt khóc”
(1963)
Mọi hình ảnh trong nhà thờ, với tác giả Ba mẹ con, anh chỉ thấy xa lạ, “những hàng ghế cô đơn”. Nhưng với tôi, những hàng ghế này làm tôi liên tưởng đến “những linh hồn”. Nơi cái ghế và một ngày nào đó, tôi cũng ra đi!
“Tôi mang niềm đau lớn khôn đi vào thánh đường
Buổi chiều cuộc đời tâm hồn tôi âu lo
Những hàng ghế song song đều nhau như những linh hồn sám hối
Bây giờ tôi ngồi đây trước Thượng đế
Hai bàn tay úp mặt
Cuộc đời bên ngoài diễn ra những đau đớn anh em bạn hữu…
(1963)
Tôi khác anh là vậy. Nhưng lại như giống anh, gặp lại chính mình ở một nơi trong truyện : Người bệnh trong giấc ngủ (tr.19)
“Trời bắt đầu mưa. Không khí lạnh từ ngoài phà vào làm người tôi nhẹ hẳn đi. Tôi thấy mình bồng bềnh trên không gian, như người bệnh vừa qua một cơn sốt. Gió từ địa ngục thổi lên bỗng làm tôi tê buốt. Bao nhiêu ý nghĩ dồn nén trong tiềm thức thoát hẳn ra ngoài. Tôi bước ra mái hiên, nhìn những giọt nước màu tím ào ạt chảy. Tôi đưa hai bàn tay trống trơn hứng mưa. Tay tôi đen sẫm lại. Tôi ấp lòng bàn tay lên trán. Tôi bỗng lùi lại, mười đầu ngón tay tê buốt, những giọt máu đỏ chảy xuống ròng ròng.
“Tôi thoát ra ngoài phố, chạy dài theo bóng tối. Những con chó đói mù mắt đang vục đầu tìm thịt người trong thùng rác.” (tr.19)
Kinh dị. Ma quái. Bệnh hoạn. Cô đơn, là cảm nghĩ của tôi sau khi đọc xong truyện này.
Năm 1967, đang học ở Đại học Sư phạm Sài-Gòn, nhưng tác giả tập truyện ngắn Ba mẹ con đã bỏ học để vào trường Võ bị Thủ Đức. Cũng đầu năm này, tháng 2/1967, tôi dự một cuộc thi tuyển vào Biên tập viên, HSQ đồng hóa, BTL/KQ, căn cứ ở TSN. Còn Đỗ Tất Phú, sau khi ra trường, anh được chuyển đến SĐ 21 BB. Mấy năm sau, anh cưới vợ, người Cần Thơ. Và rồi…, anh đã tử trận. Đứa con trai đầu lòng của anh chưa biết đi.
Khi tôi được tin Đỗ Tất Phú mất, tôi và Trần Ngọc Tự, một sĩ quan trẻ cùng phòng với tôi, vội vã xuống Cần Thơ dự lễ tang. Bạn hữu thân thiết nhất đã có mặt. Trên nắp áo quan của anh, thay vì phủ lá cờ Tổ quốc như thường lệ đối với những chiến sĩ Cộng Hòa tử trận, nhưng với Đỗ Tất Phú, các bạn anh đã phủ lên lá cờ VNQDĐ. Tôi ở bên anh trọn một đêm. Sáng ngày hôm sau, đưa anh ra nghĩa trang. Trong lúc chiếc áo quan ôm trọn thân xác gầy còm của anh được hạ xuống huyệt sâu, tôi đã khóc nhiều, hai tay bấu vào mép huyệt cơ hồ như sắp ngã xuống, thì anh Lữ Tuấn Nguyễn Công Luận, Giám đốc Trung tâm Chiêu hồi Thị Nghè, đã phải kéo tôi ra khỏi giây phút âm dương cách biệt đó.
Sau ngày Đỗ Tất Phú mất, tôi đã có một giấc chiêm bao thấy anh về. Tôi nghĩ rằng anh về để báo cho tôi biết anh đã tử trận ở đâu. Anh như đang từ trên cao dẫn tôi “đi xuống” một khu rừng đang có trận chiến. Anh bay đi như cánh chim trước mặt tôi, không có thân xác mà chỉ là cái bóng mầu trắng, hai con mắt lõm sâu đen lòm.
Đấy là dấu hiệu, Đỗ Tất Phú đã chết trận tại khu rừng này?!
Khải Triều
