HOÀNG HƯNG: VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” – PHẦN I – HỒI ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (3)

 GIỚI THIỆU: HOÀNG HƯNG & VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC”

PHẦN I

HỒI  ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN

 “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (3)

Tôi bắt đầu làm những bài thơ “ngoài luồng” để trong sổ tay kể từ cái năm 1969 đáng ghi nhớ đó.

Sự hoài nghi, khắc khoải, vỡ mộng đã hiện lên mồn một trong nhiều bài thơ:

“Vụt đứng dậy! Bồn chồn, kinh hãi

Sáng mau đi, đá sập đến nơi rồi!”

(Tỉnh giấc ở Hòn Gai, 1969)

“Biển những ngày hè đẹp lắm

Ngày nào tìm biển ta say…

.

Nhưng mùa hạ đã ra đi

Chân trời xa không ngấn nắng

.

Sao em còn mang áo mỏng

Có còn mùa hạ nữa đâu

.

Sao em làm lòng anh đau

Nhớ ngọn lửa hè đã tắt…”

(Đường phố hôm nay mùa đông, 1969)

Và nhất là trong nhiều đoạn văn vần ghi trong nhật ký, chưa dám đọc cho ai nghe:

… Các anh bảo chúng tôi

Đi chiến đấu cho ngày mai tươi đẹp

Chúng tôi đi

Vì không sợ chết

Chúng tôi chết

Vì sợ sống hèn

Nhưng sẽ ra sao cái ngày mai ấy?

.

… Chúng tôi đấy

Đều ngoan ngoãn cả

Anh vừa lòng chứ ạ?

Vâng, chúng tôi cứ khoanh tay nhắm mắt ngồi nhìn

Sự nặng nề ngu độn của các anh

Cứ chầm chậm dìm con tàu xuống biển

.

… Họ tháo cho ta cánh tay xiềng xích

Rồi đem xiềng xiềng chặt óc tim ta

… Bạn ơi! Hãy xé tan những lá cờ như vải liệm đời ta

Hãy lật đổ

Những thần tượng ta xiết bao yêu quí

Trích thông báo của Cục trưởng An ninh Điều tra Xét hỏi: “Từ khi còn là giáo viên cấp 3 ở Hải Phòng, anh Hoàng Thuỵ Hưng  [tên khai sinh đầu tiên của tôi] đã quan hệ với một số phần tử bất mãn có tư tưởng chống đối đường lối chính trị và văn nghệ của Đảng. Do đó về tư tưởng chính trị anh Hưng cũng bị ảnh hưởng nên đã làm những bài thơ có nội dung thể hiện tư tưởng hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, đả kích cán bộ lãnh đạo và đã đem trao đổi phổ biến với một số người có tư tưởng bất mãn chống đối khác”.

Nhận định này sai ở 2 điểm:

Một là tôi chẳng có quan hệ với “phân tử bất mãn, chống đối” nào! Trong thực tế, như trên đã nói, tư tưởng hoài nghi con đường xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng hoàn toàn chỉ do những sách báo tiếng Pháp tôi đọc, thực tế xã hội mà tôi đã chứng kiến, và thực trạng ở nhà trường tôi dạy, khi các Bí thư chi bộ Đảng trường cấp 3 An Dương của tôi đều là giáo viên cấp 2, cấp 1 dạy Chính trị có trình độ văn hoá rất thấp nên không “lãnh đạo” được ai! Cũng cần ghi nhận là họ là những người tử tế, rất yêu quí và trọng thị cá nhân tôi – một giáo viên giỏi chuyên môn và nhiệt tình với mọi công việc của nhà trường. Tôi đã được đưa vào diện chuẩn bị kết nạp Đảng, nhưng tôi không hề muốn! Khi Bí thư Chi bộ kiêm Hiệu trưởng tên Ngô Duy Hàn về Hà Nội thẩm tra lý lịch để kết nạp, không biết làm sao để “thoát nạn”, tôi bèn bỏ trường đi chơi suốt một tuần lễ, một hành động vô kỷ luật không thể hình dung ở một giáo viên luôn nhiệt tình và trách nhiệm như tôi! Khi tôi trở về, Chi bộ chỉ thị cho Chi đoàn thanh niên giáo viên họp kiểm điểm. Nhưng khi tôi bước vào phòng họp, tất cả phá lên cười, vì… ai cũng thừa biết lý do thật sự của hành động vô kỷ luật “đột xuất” ấy! Thế là tan buổi “kiểm điểm”!

Hai là tôi chưa hề “trao đổi phổ biến” những bài thơ “hoài nghi… đả kích” ghi trong nhật ký với ai hết!

Nói về “quan hệ”, thì chỉ sau khi về Hà Nội làm báo năm 1973, tôi mới thân thiết với một số nhà văn nhà thơ tạm gọi là “bàng thống” (không chính thống). Đúng ra thì ngay từ cuối năm 1969, khi đã viết một số bài thơ “ngoài luồng” không thể công bố, tôi đã từ Hải Phòng về Hà Nội, tìm đến làm quen với nhạc sĩ-nhà thơ-hoạ sĩ Văn Cao (một trong những nhân vật hàng đầu của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm) thông qua dịch giả Dương Tường. Chính Văn Cao là người đã khuyến khích tôi tiếp tục lối thơ mà anh gọi là “bàng thống” (đối lập với “chính thống”), sau khi nghe tôi đọc 2 bài “Mưa rào và trẻ nhỏ” và “Người yêu miệt biển”. Còn nhớ mãi câu anh nói: “Thơ phải bàng thống mới hay” (Để ghi nhớ kỷ niệm ấy, khi in tập thơ “Ngựa biển” ở Nhà xuất bản Trẻ năm 1988, tôi ghi dòng chữ “Tặng anh Văn Cao” dưới đầu đề bài “Mưa rào và trẻ nhỏ”).

MƯA RÀO VÀ TRẺ NHỎ

Tặng anh Văn Cao

Phút chốc mặt đường rửa sạch

Và bị trẻ con chiếm lĩnh.

Từ các nhà, các ngõ ùa ra

Trận mưa thứ hai

Mát tươi đường phố

.

Trần truồng, đen nhãy

Các em chạy nhảy lăn bò

.

Không còn bóng người lớn,

Không còn vết bánh xe bụi bặm bước chân chen chúc.

Chỉ các em với trận mưa to

.

Hứng thẳng nước tự trời cao mà gội những mái đầu hoang dại

Tiếng các em la hét và tiếng mưa như trống như chuông

.

Mưa lặng bất ngờ như mưa sa

Các em cũng biến đi tất cả

Trả lại mặt đường cho những người hối hả đua chen.

Và bây giờ thân mình nhỏ nhắn của các em

Đang lặng lẽ bốc hơi từ những góc nào kín đáo

Hải Phòng 1969

Vợ chồng nhạc sĩ-nhà thơ Văn Cao chủ trì đêm khiêu vũ trong đám cưới Hoàng Hưng 1975

HH thăm lại Văn Cao những năm 1990

Sau khi tôi chuyển từ nghề dạy học ở Hải Phòng về làm báo của Bộ Giáo dục ở thủ đô (1973), tôi thường đến thăm anh. Anh ngày càng thân thiết với tôi, và đã đứng chủ trì buổi tiếp bạn bè văn nghệ tại nhà tôi trong ngày cưới của vợ chồng tôi đầu năm 1975 (trong buổi ấy, có màn “nhảy đầm” có lẽ chưa từng có ở miền Bắc từ thời chiến tranh Bắc-Nam; căn phòng nhà tôi rộng tới 60m2 có thể làm sàn nhảy).

Dịch giả-nhà thơ Dương Tường là một cây bút có quan hệ mật thiết với các nhà thơ có khuynh hướng cách tân trong nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm: Văn Cao,Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, Hoàng Cầm. Anh chủ trương lối thơ “con âm”, thi pháp “âm bồi”, nằm trong xu hướng thơ “dòng chữ” (nhấn mạnh việc sáng tạo ngôn ngữ hơn là diễn nghĩa, tải ý). Bạn bè thường dẫn câu thơ của anh nhưng đùa đùa sửa một chữ để cho rõ tinh thần “con âm”:

“Những ngón tay mưa/ Dương cầm trên mái” thành “Những ngón tay mưa/ Dương Tường trên mái”. Thời đó, anh được biết đến như là dịch giả của những tiểu thuyết dịch từ tiếng Pháp, tiếng Anh, chứ thơ của anh chỉ lưu chuyển cho một số người bạn tâm huyết thưởng thức.

Dương Tường có nhiều tình nghĩa với tôi. Anh là người đã nhường cho tôi dịch thuê những tài liệu tiếng Anh đầu tiên, và mất công sửa be bét bản dịch của một người mới tự học tiếng Anh là tôi! Anh đã đi nhờ người chụp ảnh đám cưới cho tôi vào đầu năm 1975 (người nhận giúp là An Kiều con trai hoạ sĩ Nam Sơn, anh đã chụp ảnh miễn phí cho đám cưới của tôi). Chính trong buổi từ nhà An Kiều về mà Dương Tường gặp trời mưa, mắt kính cận dày cộp của anh bị mờ, anh đâm xe đạp vào ô tô bị thương, nên không đến dự đám cưới được!

Anh thân thiết hơn cả là với những cây bút bị coi là mang tư tưởng “xét lại”, các anh làm thành “bộ tứ”: Dương Tường, Châu Diên, Nguyễn Xuân Khánh (“ba chàng ngự lâm” Hà Nội), và Bùi Ngọc Tấn ở Hải Phòng (mới được về sau 5 năm tù). Từ Dương Tường, tôi trở nên thân thiết với Châu Diên, hay đến chơi với anh ở khu nhà tập thể trong trường Chu Văn An và anh Nguyễn Xuân Khánh ở ven con lạch đen hôi thối trong xóm Thanh Nhàn.

Châu Diên tên thật là Phạm Toàn, nhà giáo (về cuối đời nổi tiếng là nhà giáo dục sáng lập nhóm viết sách giáo khoa cách tân Cánh Buồm mà tôi tham dự và gắn bó cho đến nay). Sau vài truyện ngắn đầu tiên nổi tiếng trên văn đàn chính thống, anh bắt đầu lặng lẽ viết những truyện không thể công bố. Ấn tượng về một trong những truyện ngắn ấy ám ảnh tôi rất lâu dài. Truyện “Trứng” kể về những đứa trẻ bắt được ổ trứng chim, mang về ấp iu chăm sóc, cho đến ngày nở ra… bày rắn! Một ẩn dụ xã hội không thể rõ ràng hơn: đó là tâm trạng vỡ mộng (illusions perdues) của lứa thanh niên yêu nước chống Pháp và mê mẩn lý tưởng xã chủ nghĩa!

Nguyễn Xuân Khánh, nhà báo, cũng như trường hợp Châu Diên. Sau khi nghỉ hưu sớm, anh lặng lẽ viết tiểu thuyết, cuốn “ghê gớm” nhất là “Trư cuồng” (Porcinomanie) anh vừa viết xong (năm 1982) mà tôi được đọc trước ngày bị bắt, nói lên cuộc sống u ám của người trí thức trong một xã hội tha hoá vì miếng cơm manh áo và bị kiểm soát tư tưởng.

Thời đó, cũng như phần lớn viên chức lương thiện, các anh sống một cuộc đời hết sức vất vả. Cả nhà Châu Diên ngoài giờ đi làm đi học là chúi mũi vào dán hộp giấy “gia công” lấy vài xu lẻ, Nguyễn Xuân Khánh thì nuôi lợn (từ thực tế ấy anh viết nên “Trư cuồng”), Dương Tường thì dịch thuê và… bán máu!   

Đúng là trong thế hệ làm văn-thơ trẻ ở miền Bắc thời ấy, chắc chỉ có tôi “dám” quan hệ với những tên tuổi “đen” của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm và “xám” (liên quan ít nhiều đến nhóm “Xét lại chống Đảng”) như kể trên!

HH và Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên tại Bờ Hồ Hà Nội những năm 2000

Cũng trong thời gian này, tôi giao du mật thiết với vài bạn văn chương có xu hướng tìm tòi những gì khác lạ: Trúc Thông (thơ), Trí Dũng (thơ), Lê Huy Quang (thơ), Nhật Tuấn (văn). Chúng tôi thường tụ họp ở nhà Nhật Tuấn (một căn phòng nhỏ xíu ở phía sau căn nhà ngõ Ấu Triệu, sát chuồng xí!). Lý do là Nhật Tuấn có cô vợ bán thịt quốc doanh ở chợ Cửa Nam, nên có thể cung cấp bộ lòng lợn (ngoài tiêu chuẩn tem phiếu, đó là “đặc quyền” của các nhân viên bán hàng) cho bạn bè của chồng nhậu nhẹt! Bọn tôi ăn uống, đọc thơ, văn, rồi những đêm hè thì rủ nhau ra thềm Nhà Thờ Lớn tán chuyện hay ra các chiếu “tẩm quất” của người mù ở góc Phan Bội Châu-Hai Bà Trưng!

Trong số bạn văn thơ này, đặc biệt có Lê Huy Quang, nghề chính là hoạ sĩ trang trí của đoàn Tuồng, nhưng mê thơ và ảnh hưởng nặng lối thơ “bàng thống” Hậu-Nhân Văn (nhất là Trần Dần, Đặng Đình Hưng…) và chỉ làm thơ “ngoài luồng” với “phương châm: Cứ Em mà giã”! Anh còn tham gia (hay quan hệ chặt chẽ) với nhóm văn nghệ mang tên “Chân đất” vốn là đối tượng theo dõi và khống chế của an ninh văn hoá Hà Nội. Tôi không chịu ảnh hưởng của Quang về thơ, nhưng lại chịu về lối sống “nghệ sĩ” buông thả, thật hấp dẫn với một thầy giáo vừa “tháo giày”, “mất dạy” nhiều năm buộc phải nền nếp, giữ gìn! Anh đã cho tôi niềm hứng khởi với những chén rượu lạc rang, chén chè (trà) rẻ tiền trên hè phố (in dấu trong những câu thơ sau này của tôi: “một trăm bạc rượu tới thiên đường/ lần đầu lén lút bán tem gạo/ mua cái sầu giữa phố”.

Đây là hình ảnh Lê Huy Quang trong thơ tôi lúc đó:

QUANG I

Xô-lếch dài

Đêm tóc

Môi lang thang

.

Chúng ta đi tìm vui

Cái buồn tự đến

Chúng ta đi tìm Cái Đẹp

Vươn ngực gầy, xe sắt tả tơi

.

Ồ những đốm hồng mặt

Ồ những rung rảy môi

Giật giật rượu, không buồn không vui.

Có ai biết vì sao mắt úa?

Có ai biết vì sao áo vét dạ sờn?

Có ai biết vì sao màu lên tranh?

Có ai biết vì sao câu thơ buông như đùa giữa hai dải tóc?

.

Bạn ơi

Ai biết có anh trên đời?

Anh tự biết mình

Quang.

Cỡ thế giới cỡ một con người

Thế đủ rồi

Cỡ Quang

.

Xô-lếch dài

Đêm tóc

Môi lang thang

 

QUANG 2

Anh có yêu một cô bé tí teo

Một cô bé tình yêu chưa mọc tóc

.

Tình yêu mưa chơi chơi

Biết đâu là lá nảy

Mưa thì mưa chỉ biết mưa rơi

.

Mưa bay hay đậu mưa ơi

Lang thang trên những bờ môi u sầu

Bạn ơi giao hợp nơi đâu

Về nằm gác cũ sắc màu đung đưa

Tôi nhớ, khi tìm đến nhà Xuân Quỳnh (lúc này là biên tập viên trang Thơ của báo Văn Nghệ) ở nhà tập thể số 6 phố Huế, đọc cho chị nghe 2 bài này lúc chị đang vo gạo nấu cơm ở vòi nước công cộng, Quỳnh đã đỏ mặt và mắng tôi: “Thơ gì mà tục tĩu thế!” (Xuân Quỳnh là con người rất tình cảm, thẳng thắn, cởi mở. Chị đã ly hôn người chồng đầu, sống trong căn buồng 6m2, không giường tủ, đồ đạc, chỉ một manh chiếu cũ mỏng. Một ngày mùa đông tôi đến chơi, thấy căn phòng quá lạnh giá, khi có dịp về Hải Phòng tôi đã mua một lô thảm cói Hàng Kênh rất dày mang lên lót sàn cho căn buồng của chị!)

HH, Lê Huy Quang ở Hà Nội những năm 1990

Tuy nhiên, thời gian này tôi vẫn còn làm thơ đăng các báo chính thống!

Sự cố dẫn đến quyết định “ly khai” hoàn toàn với văn nghệ chính thống là trong một buổi họp cộng tác viên Thơ của báo Văn Nghệ. Lúc này, trên văn đàn đang xôn xao chuyện một số thơ, truyện của các tác giả trẻ bị phê phán vì tư tưởng “hoà bình chủ nghĩa” sau khi có hiệp định Paris giữa miền Bắc VN và Mỹ (1973): bài thơ “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật, “Ký sự đêm đợi tàu” của Đỗ Phú… Buổi họp có mặt đông đảo các nhà thơ từ thế hệ đàn anh như Tế Hanh,… đến lớp trẻ, để nghe nói chuyện về tình hình văn nghệ. Diễn giả là nhà thơ Chế Lan Viên, nhà trí thức uyên bác, ngôn luận sắc bén được nể phục, một lãnh đạo có uy thế của Hội Nhà văn. Ông cũng là người ủng hộ lớp trẻ. Còn nhớ, khi những câu thơ “hơi lạ” của tôi bị một số nhà thơ đàn anh cho là “phi lý” thì ông đã cho tôi xem chúng trong sổ tay chép những câu thơ hay của ông:“Một bờ sông tiễn đưa/ mà hy vọng cứ sa bồi thêm mãi”.

Ông Chế bước vào, đứng gác một chân lên thanh ngang của một chiếc ghế tựa, và mở đầu buổi nói chuyện bằng câu: “Tôi vừa đi họp Tuyên huấn về!”. Ông tập trung nói về hiện tượng tư tưởng không ổn trong các cây bút trẻ gần đây, và kết luận xanh rờn: “Đảng có thể bỏ đi cả một thế hệ các anh!”, “Khi trên trời máy bay ta và máy bay Mỹ đánh nhau, nếu thấy máy bay ta rơi, các anh cũng phải hô: máy bay Mỹ rơi!”

Tất cả phòng họp im phăng phắc. Riêng tôi giơ tay, đứng dạy. Tôi nói đại ý: Tác phẩm chỉ có sức thuyết phục khi người viết thực lòng yêu nước, yêu cách mạng, chứ nếu mình tự dối lòng thì làm sao mà thuyết phục ai!

Ông Chế khá bất ngờ trước phản ứng của tôi! “À, tôi có đọc bài viết gần đây của anh về Thơ, và sẽ có cuộc tranh luận với anh!” (ý ông nhắc đến bài viết về Thơ của tôi trên báo Văn nghệ, trong đó tôi nêu bật: Thơ không nên là thứ tụng ca thời thượng, mà phải thể hiện tâm trạng sâu bên trong con người!). Đó là ông còn… quên không nhắc đến việc Ban lãnh đạo Hội vừa họp, trong đó có lưu ý chuyện “tay Hoàng Hưng đang lan truyền những bản dịch thơ ngoại lai suy đồi” (ý nói những bài thơ tình của nhà thơ Pháp Guillaume Apollinaire mà tôi dịch từ tập thơ mà nhà thơ Phùng Quán mượn từ thư viện Hội Nhà văn, của nhà thơ Tây Ban Nha Federico Garcia Lorca mà tôi dịch từ bản tiếng Pháp do ông Việt Phương, thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mang từ Pháp về; các bản dịch của tôi được nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn ở tạp chí Văn nghệ Quân đội nhờ đánh máy và được lan truyền trong giới làm thơ trẻ ở Hà nội)! Tôi biết được việc ấy do lời “cảnh báo” của dịch giả Thuý Toàn là anh họ tôi!! (Là người du học ở Nga về, anh nổi tiếng về dịch thơ Nga và được Hội Nhà văn tin cậy).

Cũng thời gian này, tôi bắt đầu biết đến thơ miền Nam qua mấy tập thơ của Thanh Tâm Tuyền (“Liên, đêm, mặt trời tìm thấy”), Nhã Ca (bài thơ ấn tượng mạnh “Em là con gái/ Buồn như lá cây…”) mà nhà thơ Trúc Thông làm việc ở Ban Thành thị miền Nam của Đài Phát thanh Tiếng nói VN cho mượn.

Nhưng “coup de foudre” đối với nhận thức tư tưởng và thẩm mỹ văn chương của tôi xảy ra trong chuyến vô Sài Gòn ngay sau ngày “giải phóng” 1975! Từ khu chợ trời sách đường Đặng Thị Nhu bạt ngàn sách thoát khỏi chiến dịch đốt sách của Cách mạng!

Phát hiện ghê gớm nhất với tôi là tư tưởng Phật giáo (“khai tâm” với “Thiền luận” của Suzuki), triết lý hiện sinh của Sartre  & Camus; văn chương “sex” của Henri Miller, “dòng ý thức” của W. Faulkner!

Ảnh hưởng của “văn hoá suy đồi” miền Nam đối với tôi vào thời điểm đầu những năm 1980 có thể tóm tắt trong câu nói đùa với đồng nghiệp viết về giáo dục, nhà báo Kim Dung (báo Nhân Dân) mà chị nhớ rất lâu: “Ở Sài Gòn, tôi có 2 cái thú là đọc sách triết học và… ngắm các cô gái trên phố”!

Trích thông báo của Cục trưởng An ninh Điều tra Xét hỏi gửi Báo NGVND: “Từ năm 1978, khi được cơ quan cử vào công tác tại TPHCM, anh Hưng lại quan hệ tụ tập với một số văn nghệ sĩ của chế độ nguỵ Sài Gòn, đọc cho nhau nghe những bài thơ phản ánh cuộc sống tiêu cực, có nội dung phản động. Mặt khác bọn chúng còn hướng dẫn cho Hưng tìm đọc sách báo triết học và giáo lý phản động [tức Phật giáo!!!] nên anh Hưng càng biến chất…”.

Với giới cầm bút Sài Gòn cũ, thực tình tôi chỉ thân tình với 2 người do có mối quan hệ cá nhân cụ thể:

Một là nhà văn Nhật Tiến anh cả của nhà văn Nhật Tuấn bạn thân tôi ở Hà Nội. Vốn là một nhà giáo nghiêm túc và người cùng vợ mình (Phương Khanh) lập ra một tờ báo thiếu nhi, anh đã chào đón “giải phóng” như một lực lượng tiến bộ bênh vực dân nghèo (như lời anh tâm sự với tôi), nhưng thực tế cuộc sống sau ngày 30/4/1975 khiến anh ngày càng thất vọng. Tôi còn nhớ một hôm anh phẫn nộ nói với tôi: “Sáng nay họ viết to tướng lên bảng lớn ở sân trường: Mỗi thầy/cô giáo được ½ kg thịt lợn! Thật là sỉ nhục!”. Cả nhà anh vượt biên sang Mỹ năm 1979, và đã là nạn nhân đau khổ của hải tặc.

Hai là nhà thơ Hà Thúc Sinh là bà con xa với vợ tôi. Mối quan hệ với anh sẽ khiến vụ án của tôi thành rắc rối và tăng nặng vì sau khi đi cải tạo về, anh thường đến nhà tôi tụ họp với vài văn nghệ sĩ Hà Nội và năm 1981 anh vượt biên sang Mỹ.

Có những buổi tối tụ tập đọc thơ, hát hò ở cư xá Thanh Đa trong đó văn nghệ sĩ 2 miền giao lưu thân ái với nhau: tôi, vợ chồng hoạ sĩ Bùi Quang Ngọc, vợ chồng nhà thơ Tuân Nguyễn – Phương Thuý… (từ miền Bắc vào sống ở Sài Gòn), vợ chồng hoạ sĩ Nghiêu Đề – Lê Chiều Giang, nhà văn Trần Lê Nguyễn, cùng với vài hoạ sĩ, ca sĩ (Sài Gòn cũ) mà tôi không nhớ chính xác.

Tôi cũng thường tới quán cà phê vỉa hè của nhà văn – hoạ sĩ Hoàng Ngọc Biên ở đường Trương Minh Giảng và vào nhà anh mượn sách tiếng Pháp (như thơ Apollinaire…) 

Cũng trong những năm cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980, tôi hay ra quán cà phê của nhà thơ Huy Tưởng ở đường Bà Lê Chân bên hông chợ Tân Định, tụ bạ với nhà thơ Phan Đan (mới từ Hà Nội vào), Phương Kiến Khánh (sau này sang Mỹ lấy bút danh Chân Phương), nhà văn Phạm Việt Cường, dịch giả Nguyễn Tiến Văn… Chính tôi đã cho họ đọc mấy bài thơ “Cây, lá, quả” của Hoàng Cầm mà ông chép tặng tôi lần thứ nhất vào khoảng 1980, và lần năm 1982 khi xin HC chép cả tập VKB là tôi chủ ý mang vào cho họ đọc. 

Tại nhà tôi thời gian cuối những năm 1970 đầu 1980 có khá nhiều buổi tụ tập bạn bè văn nghệ, hầu hết là ở Bắc vào! Hầu như hàng tuần! Vợ tôi thời đó còn đủ sức và sẵn lòng lo ăn uống nhậu nhẹt cho bạn bè văn nghệ của chồng!

Đặc biệt là những buổi “sinh hoạt tri thức” do tôi tổ chức cùng với Dương Thụ (bạn học đại học cũ, dạy văn hoá ở trường Mỹ thuật TPHCM); mỗi buổi tôi mời 1 nhân vật trình bày một chuyên đề: nhà ngữ học Cao Xuân Hạo, hoạ sĩ Lưu Công Nhân, nhà điêu khắc Nguyễn Hải… (Sau này, khi đã thành nhạc sĩ nổi tiếng, Dương Thụ phát triển mô hình này thành hoạt động của quán “Cà phê thứ bảy” được hãng cà phê Trung Nguyên đỡ đầu). Mỗi khi có các bạn văn nghệ ở Hà Nội vào, tôi lại mời gặp mặt tại nhà với các bạn ở Sài Gòn. Hà Thúc Sinh thường tham dự những buổi này. Khi tôi bị bắt, nhiều người trong số họ đã được công an “mời” để hỏi về tôi (như Lưu Công Nhân, Phương Kiến Khánh…).

Một buổi gặp có Hà Thúc Sinh mà tôi nhớ mãi: Trong buổi ấy, anh tâm sự cho biết mình sắp vượt biên! Đỗ Hải, một dịch giả con nhà giàu ở phố Hàng Trống Hà Nội vào SG sau 1975 tiếp thu ngôi nhà lớn của bố mình ở đường Lê Lợi, nghe xong thì tán thán:“Vous êtes parmi les élus de Dieu!” (Anh ở trong số những người được Chúa chọn). Hoạ sĩ đại tá quân đội Quang Thọ thì kêu lên: “30 năm trước chúng tôi đã chọn sai đường!”

***

Riêng câu này trong Thông báo thì không sai lắm: “(anh Hưng) lao vào con đường buôn bán kiếm lời”.

Thời đó, cuộc sống của hầu hết “cán bộ công nhân viên” đều bi đát mà người ngày nay thật khó hình dung! Có ai sống nổi với đồng lương chết đói và tiêu chuẩn nhu yếu phẩm được mua bằng tem phiếu cấp phát theo bậc lương? Tôi còn nhớ như in cảnh anh cả tôi, TS Y khoa Hoàng Văn Sơn, chủ nhiệm khoa Xét nghiệm Sinh hoá của bệnh viện lớn nhất nước (BV Việt-Xô, nơi chữa trị cho giới cán bộ cao cấp nhất nước), phải ghi vào vỏ bao diêm: “sử dụng đến ngày…” (ngày được mua bao diêm mới)! Hay cảnh một bác sĩ lớn tuổi xun xoe thưa gửi chị chị em em với cô bán thịt mậu dịch ở chợ Hàng Da đáng tuổi con ông, để được mua một miếng thịt ngon theo tem phiếu!

Để có thể sống sót, thì ở Hà Nội và Sài Gòn, những cảnh dậy từ mờ sáng nấu sôi rồi đội thúng sôi đi bán rong trước giờ đi làm, mở quán nước chè chén trước cửa nhà, nuôi lợn cả trong căn hộ tầng cao chung cư, lật bê tông vỉa hè trước nhà lên để trồng rau, không có gì lạ! Đặc biệt là các chuyến tàu “Thống nhất” đi về giữa hai miền Nam-Bắc đã trở thành phương tiện giao thương của hàng vạn người, trong đó không ít người là cán bộ công nhân viên.

Như lương của tôi, năm 1977-1978 là cán sự 4 thì phải, khoảng dưới 80 đồng, không nuôi nổi 1 đứa con. Những bữa ăn hàng ngày, miếng sườn lợn cỏn con được lóc hết thịt băm ra nấu với bột cho con ăn, còn nước luộc sườn thì bố mẹ chan cơm độn mì sợi! Hàng tháng, vợ tôi phải đi “khám sữa”: vạch vú ra vắt trước mặt “hội đồng xét duyệt”, không có giọt sữa nào chảy ra thì được mua 8 hộp sữa Ông Thọ vàng đặc vì để lâu ngày!

Vì thế, với lợi thế là Phóng viên thường trú báo NGVND tại miền Nam, mỗi dịp về toà soạn ở Hà Nội họp hành, tôi lại “buôn” thượng vàng hạ cám theo đường tàu hoả, kể cả gạo, buồng cau, quả dừa… mua dọc đường đem ra Bắc, rồi thuốc lá sợi, giấy cuốn thuốc lá, mỡ lợn… từ Hà Nội đem vào!

Khó mà quên được những chuyến tàu chật chội, phải nằm cả đêm trên đống quả dừa lổn nhổn dưới sàn toa! Không thể quên những buổi hai vợ chồng hì hục đun mỡ phần cho tan thành mỡ nước đổ vào những chiếc can bằng sắt tây mua ở phố Hàng Thùng, hay phun nước lã vào đống sợi thuốc lá Cao Bằng cho ẩm để nhồi nhét, thậm chí dẫm chân lên cho chặt cái ba lô! Không thể quên những giờ phút hồi hộp trên tàu khi các nhân viên “quản lý thị trường” cùng với công an đường sắt đi từng toa xét nét từng bao tải, từng va li của khách đi tàu (thường là “con buôn không chuyên” như tôi)! May mà tôi chưa lần nào bị… túm!

Tôi còn kiếm sống bằng nghề đi chụp ảnh dạo ở trung tâm thành phố, khu vực bồn hoa Nguyễn Huệ, hay chùa Vĩnh Nghiêm những ngày chủ nhật, ngày lễ, Tết. Có một dịp Tết tôi còn “thầu” toàn bộ dịch vụ chụp ảnh ở chùa Vĩnh Nghiêm, tổ chức hàng chục người chụp và rửa ảnh cho khách. Từ đó, tôi chuyển qua “nghề buôn” chuyên về vật liệu, dụng cụ chụp ảnh: mua máy ảnh, máy rửa ảnh cũ từ Sài Gòn gửi ra Bắc bán, mua phim giấy ảnh (của Liên Xô, Cộng hoà Dân chủ Đức) từ Hà Nội gửi vào. Đầu mối mua bán của tôi ở Hà Nội chính là nhà nhiếp ảnh có biệt danh “Tiến trố” hay “Bố hàng Tiền” (Tiến hàng Bồ). Thậm chí có thời gian tôi (cùng với nhà báo truyền hình Nguyễn Nguyên Bảy) còn liều lĩnh ra ngồi ngay lề đường Huỳnh Thúc Kháng bày bán đồ nghề ảnh ngoài giờ làm việc! Nhớ có lần nhà thơ Phạm Tiến Duật gặp tôi ở đó, khi về Hà Nội anh đã loan báo tin giật gân với hai câu thơ “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt/ Xếp bút nghiên theo nghiệp đi buôn”! Nghe kể lại, tôi cười, nói: “Tôi buôn đủ thứ, nhưng quyết không buôn thơ và quyền chức!”

Cuộc mưu sinh bằng việc buôn bán của tôi gặp không ít lần bị lừa; kẻ lừa đảo cũng từ Hà Nội vào, cũng tên là Hưng, hỗn danh là “Hưng đói”, “Hưng lừa”, cũng chính là kẻ đã dắt tay tôi vào “chợ”. Tay này có biệt tài thương thảo các vụ buôn bán, dụ khị ngọt ngào, cho đối tác hưởng lợi ban đầu để rồi tin cậy trao cho hắn món tiền lớn và không thể lấy lại. Tất cả những món tiền lừa được của mọi người sẽ bị “Hưng lừa” nướng vào các canh bạc đỏ đen, nên kết cục Hưng vẫn là “Hưng đói”!!!

Cũng chính “Hưng lừa” đã lừa anh bạn nhạc sĩ D.T. một cú cực lớn mà rút cục tôi lại là kẻ chịu nạn. D.T. được một người quen chung của chúng tôi là phụ trách cửa hàng bách hoá cho mua “hoá giá” (với giá cực rẻ) món hàng lớn cần “thanh lý” nhưng cần có số vốn lớn. Anh đã đi vay khắp nơi mà không ai cho. Thì tôi lại nhận đứng ra vay tiền cho anh, vì tin anh sẽ được một cú chắc thắng. Cú buôn thành công, tôi chưa kịp lấy lại tiền thì “Hưng lừa” đã kịp dụ D.T. để hốt trọn cả vốn lẫn lời! Số tiền lúc ấy đủ mua một ngôi nhà ở Sài Gòn. Người cho vay chính là cô H. bạn của vợ tôi. Vì danh dự, chúng tôi phải trả nợ đậy! Vợ tôi đã phải bán hết tư trang, của cải tích cóp được, cộng với số tiền bố tôi cho để “lập nghiệp” nơi đất mới! Đáng quí nhất là vợ tôi đã không than trách một lời, còn khuyên tôi buông bỏ! Chỉ đáng buồn là anh bạn nối khố mà tôi đã không ít lần nhiệt tình giúp đỡ từ thời đi học, cho đến khi mới đặt chân vào Sài Gòn, đã coi như không hề mắc món nợ rất lớn kia, đã mặc kệ vợ con tôi đói khổ trong suốt thời gian tôi đi tù, và sau này khi trở nên cực kỳ giàu có cùng tiếng tăm lừng lẫy cũng không hề bận tâm trả “bát cơm Phiếu Mẫu”!

Ảnh hưởng của cuộc mưu sinh trên đường phố Sài Gòn “bão loạn” như một cái chợ trời khổng lồ và nơi chờ chực vượt biên những năm sau 1975 thể hiện rõ trong loạt “thơ vụt hiện” đầy hoang dại của tôi:

ĐƯỜNG PHỐ (VỤT HIỆN 2)

Đường phố 1

Bão loạn. Lốc dù. Xanh mí. Cốc ré. Váy hè. Tiện nghi lạc-xon. Chất chồng trô trố. Môi ngang. Vô hồn. Khoảnh khoắc. Mi-ni mông lông. Cởi quần, chửi thề. Con gà quay con gà quay.

Bão loạn. Múa vàng. Te tua. Nhừ giấc.

Bão loạn. Rùng rùng. Sặc nước. Giạt tóc. Liên tục địa sầm. Tìm, chết, đi.

Bão loạn. Dứt tung tay. Óc lói. Lơ láo tù về lạc thế kỷ. Sương đầm đẫm vóc miên mai.

Đường phố 2

Dường như ra khỏi nhà bằng một khung ngực rỗng. Hai bàn tay đỡ mắt mờ. Chợt thấy chiều trên phố say. Đỉnh vú đi lừng lững. Đèn đuốc cháy lưng trời. Cười ngớ ngẩn sứt răng sâu thẳm. Hội quỷ ma nhảy múa thét gào. Tan biến ta đi chiều mọc cánh. Một phút thang mây lẫng lẫng ánh chớp loè đá sóng trập trùng. Xuyên như tên bắn rụng một chùm tín hiệu đỏ xanh. Trở về chân nhiễm độc.

Đường phố 3

Em gọi thơ về. Từng thớ thịt rung lên âm điệu trở về. Thành phố nổ bùng đêm người đi như biển. Tiếng còi, lửa cháy. Anh dắt tay em chạy trên cỏ dại. Giấc mơ vô lý bàng hoàng. Đường phố mùi da thịt. Gió rùng mình hư vô thổi đến. Trăng sáng không tin được. Gái trai mới lớn đội mũ lông chim. Thiếu nữ mắt đờ cà phê quán chật khói thuốc im lìm. Bụi sáng. Xe điên.

Em gọi thơ về. Từng thớ thịt rung lên âm điệu trở về. Thành phố lồng trăm ngả. Ngã bảy ngả năm giành giật. Và chiều tràn ngập gió đê mê phần phật quần bay. Cánh nhạn khua rối mù cao ốc. Đèn lên đèn lên mời gọi hoang đường.

Em gọi thơ về. Từng thớ thịt rung lên âm điệu trở về. Thơ thoát ra từ đốt xuơng căng thẳng. Vũ trụ hồi sinh rực rỡ. Gân chùng mỏi mệt hân hoan.

SG 1977-1981

Nhà thơ Trần Đăng Khoa có dịp dự một tối “văn nghệ” giữa vài anh em từ Bắc vào với vài anh em Sài Gòn tại căn hộ của vợ chồng nhà thơ Tuân Nguyễn-Phương Thuý tại bán đảo Thanh Đa đã kể cho anh em thơ Hà Nội về sự kinh dị của anh khi nghe tôi đọc những bài “vụt hiện” ấy!

Loại thơ này chỉ có vài người bạn “tâm giao” của tôi lúc ấy thưởng thức, nhà văn Nhật Tuấn, nhà thơ Dương Tường… Đặc biệt trong giới mỹ thuật. Hoạ sĩ Thọ Vân ở Hải Phòng nhận xét Thơ Vụt hiện đúng là “chủ nghĩa ấn tượng”! Hoạ sĩ Đào Minh Tri đọc đến đoạn “Đỉnh vú đi lừng lững/đèn đuốc cháy lưng trời/ Cười ngớ ngẩn sứt răng sâu thẳm” thì kêu lên: “Phải vẽ ngay một bức tranh!”. Nhất là nhà điêu khắc Nguyễn Hải, người nghệ sĩ bộc trực của đất Nam Bộ, ít học (tôi gọi anh là “un génie inculte” một thiên tài vô học) nhưng rất nhạy cảm. Nguyễn Hải lúc đó đã nổi tiếng là nhà điêu khắc cách tân với những tượng và tượng đài cách mạng nhưng có ngôn ngữ hiện đại phương Tây. Cứ gặp tôi là ông đòi nghe Vụt hiện và nghe xong là cười sảng khoái. Có lần, tại Hội Mỹ thuật thành phố, gặp Nguyễn Khải, ông bắt nhà văn nghe Vụt hiện. Nghe xong, ông cười sảng khoái rồi dồn dập bắt nhà văn trả lời: “Ông thấy thế nào?”. Nguyễn Khải trầm ngâm: “Tôi cũng thấy cái gì đó. Nhưng lâu nay mình đã quen, chỉ nhìn những gì bày ra trên mặt bàn, có cảm thấy bên dưới có gì đó thì cũng ngại, không dám nhìn xuống”.

Trong lúc ấy, cách xa nửa vòng trái đất, từ Paris, nhà phê bình văn học Thuỵ Khuê “đọc vị” ngay lập tức những dòng thơ “khó hiểu” ấy:

“… và đôi khi Hoàng Hưng không nói bằng thơ, không nói bằng văn mà nói bằng thần chú: “Đi sắp đi, tươi sắp tươi, phất gió lá sáng. Rằm tươi rằm tốt rằm mốt rằm mai, con thuyền chật chội “… “Nghe, nghe và đắm mộng, buồn dứt thuốc lá… Đen. Đá. Đen. Đá. Đen. Đá. Phóng thích. Chết chìm”. Những lời chú ấy gọi hồn, gọi biển của những người đi, đi tìm một lối thoát, biển ở đây là cứu cánh và cũng là tuyệt lộ, là cõi chết và cõi phục sinh, biển là mệnh số của bạn, của tôi, của Hoàng Hưng và của dân tộc mình” (RFI)

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search

t-van.net © 2024
All images © their rightful owners