Picture of Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Gã thiền gỉa Ngộ Không, tên thật: Phí Ngọc Hùng, sinh năm 1944, Thái Bình, ở Hà Nội từ nhỏ. Năm 54 vào Nam học Nguyễn Trãi- Chu Văn An và Kiến Trúc. Năm 75 tới Houston, Hoa Kỳ. Hiện về hưu và đang vật lộn với chữ nghĩa hàng ngày. Tác phẩm đã xuất bản: Phiếm Sử Lược Truyện (2016); Một Chút Dối Già–Tập Một (2016); Một Chút Dối Già Tập Hai (2017); Chữ Nghĩa Làng Văn (I) (2017); Một Chút Dối Già – Tập Ba (2017); Chữ Nghĩa Làng Văn (II) (2017); Chữ Nghĩa Làng Văn (III) (2018); Một Chút Dối Già – Tập Bốn (2019); Một Chút Dối Già – Tập Năm (2020); Chữ Nghĩa Làng Văn (IV) (2023);

Ngộ Không: Chữ Nghĩa Làng Văn (121)

Một số từ Việt miền Nam gốc Triều Châu Ảnh hưởng văn hóa mà người Minh Hương để lại sâu đậm nhất trong đời sống miền Nam là ngôn ngữ. Tiếng Việt miền Nam được lưu dân Minh hương bổ xung cho tiếng Việt thêm phong phú. Theo Bình Nguyên Lộc, những từ sau có

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 120)

Thơ vô thức (4) Đối với việc trước tác, khi muốn dựng lên một hình ảnh nào đó, điều trước tiên, ta cần chứng minh tài năng và bản lãnh của mình. Dư luận sẽ công bình phán xét. Ta không nên theo thói thường, phải “đạp đổ” một cái gì đấy xuống… Điều gì

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 119)

  Tiếng Việt trong sáng “Khủng”, từ trong nước, được một “bộ phận” giới trẻ và giới báo chí dùng. Từ cũ là “kinh khủng” hay ” khủng khiếp” (dịch từ “awful” / “awfully” trong tiếng Anh). Bây giờ, người ta cắt gọn lại cho nó “khủng” hơn. Thí dụ: nói về một món hàng, một thiết

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Ông thầy cũ

Chôn Đứng – Tranh: Trân Thanh Châu        Nhớ năm nào, một nhà văn nào đó đã khai bút…khai mê phá ngộ rằng cứ Tết đến, đọc qua một vài tờ báo xuân là thấy bài thơ rất ư khuôn mẫu mở đầu bằng vào mỗi năm hoa đào nở, lại thấy ông đồ già

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 118)

Chữ Việt gốc Tầu Chữ Việt gốc Tầu là một đặc thù của văn hóa Đồng Nai – Cửu Long, là những chữ, mà ta dùng thẳng từ của người Tầu và dùng âm của mẫu tự quốc ngữ viết lại. Như: Phở nguồn gốc từ chữ “phảnh” của tiếng Quảng Đông. Nạm là miếng

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 117)

  Bằng hữu kim kỳ phú Bài phú của Nguyễn Đôn Phục, ông đỗ cử nhân khoa quý dậu năm thời Tự Đức là một kho ngôn ngữ dân gian gồm những tục ngữ, thành ngữ, phương ngôn cúa một vùng đất, hàm súc về nhân sinh, tình yêu, tinh bè bạn ..v..v.. Nguyễn Đôn

Đọc Thêm »

Ngộ Không : Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 116)

  Giai thoại về một bài thơ Đầu làng Ngang có một chỗ lội Có đền ông Cuội cao vòi vọi Đàn bà đến đấy vén quần lên Chỗ thì đến háng chỗ đến gối Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười Cái gì trăng trắng như con cúi Đàn bà khép nép đứng liền

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Ao nghiên ruộng chữ (1)

 Trường thi Nam Định Dẫn nhập:  Rất ngay tình, năm cùng tháng tận thu vén bài vở trong kho chữ. Tình cờ gặp bản thảo viết đã lâu có hơi hướng đốt lò hương cũ cho một thời đã qua và đang chìm vào quên lãng. Đọc lại, thấy những góp nhặt sỏi đá trong

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Bồ Tùng Linh Tân Biên Liệt Truyện – II

        Khổng Phu Tử ngắt một bông hoa giơ lên và ngài mỉm cười…          Ngày nọ Bồ Tùng Linh đang chạy xe ngang trước cổng Tam Tông Miếu gần trung tâm          thành phố, hốt nhiên trời đất sáng lòa, cổng tam quan hóa thành khổng lồ lơ lửng trên          mây ngũ

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Bồ Tùng Linh Tân Biên Liệt Truyện – I

  Một tối Bồ Tùng Linh dạo chơi bên khe núi, chợt nghe tiếng cười khẽ trong bụi lau. Một nàng con gái yểu điệu thướt tha thơm nức xạ hương thoắt bước ra khêu gợi lạ thường. Bồ mê đắm quên trời đất. Nửa đêm thức dậy dưới trăng thấy mình đang ôm trong

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 115)

Tuyển tập thơ đầu tiên Lê Quý Đôn soạn bộ Toàn Việt thi lục, sách soạn xong năm Mậu Tý 1768 thời vua Lê Hiển Tông. Gồm 20 quyển với 897 bài thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến thời Trần. Lê Quý Đôn người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam hạ (Thái

Đọc Thêm »

Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 114)

  Tiếng Việt cổ  Một số chữ Việt có âm đầu “ph”, ngày xưa người Việt đọc là “b“. “Phòng” đọc theo âm tiền Hán Việt là “buông”, từ buông là buồng. “Buồng” nay thành “phòng”. “Phiền” (toái) là buồn, “phọc” là buộc..v..v. (Nguyễn Ngọc San – Cơ sở ngữ văn Hán Nôm). Nguồn gốc

Đọc Thêm »