Khách mỉm cười khẽ đáp
Kìa, Thầy ngồi thanh thản
Tay nâng chén trà thơm
Khói sương mờ hư ảnh
Đang đợi khách tri âm.
Chân Y Nghiêm
LỜI MỞ ĐẦU
Nhà Xuân Trang, con gái thứ ba của tôi , ở tầng thứ 31, tòa nhà Vinhomes Tân Cảng, nhìn ra hai dòng sông. Đứng trên lầu cao nhìn xuống gần nhất là nhánh của sông của Sài Gòn. Dòng chảy thứ hai là sông Sài Gòn. Dòng sông nữa là sông Đồng Nai chảy qua Nhơn Trạch.
Từ trên nhìn xuống là khu công viên thiết kế rất đẹp với những hồ nước đủ kiểu, hình tròn, hình tam giác, hình vuông đều có vòi phun nước xòe ra tưới ướt những bãi cỏ xanh. Bên trái hoa viên là dòng sông uốn quanh những dãy nhà cao tầng, những khu công viên, nhà hàng, khách sạn.
Phía bên sông là quận Hai. Nằm chạy dọc mé sông là khu dân cư nhà cửa xây đủ kiểu, nhìn xuống thấy một quần thể kiến trúc lộn xộn.
Xa hơn nữa là những tòa nhà cao tầng đủ màu sắc, điểm vài tòa nhà tháp cao nhọn giữa bầu trời.
Buổi sáng mặt trời tỏa ánh nắng ban mai, lấp lánh những tòa nhà kính, và những mái ngói khu dân cư.
Buổi tối, rực rỡ trước mắt tôi là một vùng trời lấp lánh ánh đèn. Ngày rằm, mặt trăng treo lơ lửng trong bầu trời xanh thẫm, tỏa vầng trăng sáng trong dòng nước thủy triều.
Dòng sông quê hương gắn liền với tuổi thơ, với cuộc đời tôi. Sông chảy từ thượng nguồn xuống đồng bằng, chứng kiến bao cảnh đời cơ cực, thịnh suy. Dòng sông có lúc cuồn cuộn, tạo ra bao cảnh phong ba, gây sạt lở, bên đắp bên bồi. Buổi sáng con nước từ từ rút, có khúc lòng sông cạn, để lộ bờ cát lẻ loi. Đến trưa con nước từ từ lên, lặng lẽ cuốn đám Lục Bình nở những bông hoa màu tím.
Nhưng dòng sông cũng chính là nguồn sống cho con người.
Nếu như không có dòng sông, không có quê hương thì tôi đâu có hiện hữu. Dòng sông chính là sự sống, là cuộc đời của tôi và các bạn.
Thục Trinh Phan Thị Thuần 1960
KỶ NIỆM TUỔI ẤU THƠ
Tôi sinh năm 1940, giữa thế kỷ 19, cái thế kỷ đầy đau thương và ly loạn vì Pháp xâm chiếm, đô hộ nước ta. Lúc ấy, các đảng phái do những nhà chí sĩ yêu nước, như cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Cường Để, Nguyễn Tường Tam, cùng với những thành phần thanh niên ưu tú lập ra để chống Pháp đã lan rộng khắp nơi.
Quê Nội tôi làng Đông Ngạc, còn gọi là làng Vẽ, cách Hà Nội 10 cây số, đường quê toàn gạch đỏ, Người làng tôi không làm ruộng. Người nữ thì chuyên nghề làm nem rất ngon, được lan truyền thành câu tụng “giò Chèm, nem Vẽ” nổi tiếng khắp nơi. Nam thì đi học, ra làm quan. Trong làng có mấy dòng họ nổi tiếng như họ Hoàng, họ Phạm, họ Phan. Dòng họ Phan của tôi, đa số là tiến sĩ, cử nhân, làm quan và dạy học, không có ai làm nghề võ. Ba tôi, mà tôi gọi bằng Cậu, tên họ là Phan huy Liên, làm nghề giáo, tham gia vào Việt Nam Quốc dân Đảng.
Ông sinh thời khôi ngô tuấn tú, phong độ hiền lành nên được nhiều thiếu nữ con nhà gia thế mến mộ. Rồi ông kết duyên với cô Dậu, một thiếu nữ hiền hậu, có nét đẹp đoan chính, làm nghề trồng dâu nuôi tằm dệt vải ở làng Quảng Bá nằm ven đê Yên Phụ, một con đê chạy dài theo Sông Hồng ra tới Hà Nội.
Cô Dậu sinh được 4 người con, ba gái, một trai, theo thứ tự là chị Nghĩa, anh Thanh, và Chị Thuận. Tôi là con út.
Vào khoảng ba tuổi, tôi sống ở làng Tứ Tổng với ông Ngoại, và bác Mão-là bác trưởng, có thêm già Lý – chị của mẹ tôi, và những người con trai, con dâu khác của ông. Ông tôi giữ chức Trưởng Lý của làng. Tuy ông nghiêm khắc với các con, cháu, nhưng lại hiền từ và thân thiết với tôi. Ông hay dẫn tôi dạo chơi trong vườn để ngắm hoa nở, nhìn những cây ăn trái sai quả trĩu cành. Tôi thích từng chùm quả màu đỏ lủng lẳng trên cành của cây mận, những quả khế vàng ươm, múi khế mọng nước. Tôi thích cả cây nhãn nữa, trái nâu căng tròn, cùi ngọt và thơm.
Ông ngoại thường dạy tôi chào hỏi lễ phép, biết dạ thưa và cảm ơn khi tiếp xúc với người lớn. Ông còn dạy tôi nhiều về đối nhân, xử thế, và những lễ nghĩa ở đời. Những điều dạy quý giá của ông, tôi đã mang theo suốt cả cuộc đời. Ông thích đọc sách và thỉnh thoảng ngâm thơ. Tôi hay ngồi bên ông, nghe ông ngâm thơ với giọng sang sảng, đôi lúc trầm xuống, thật buồn. Khi ấy tôi còn bé, nhưng có trí khôn sớm, nên hiểu được những điều không vui đang xảy ra với ông và với mọi người chung quanh.
Thời gian nơi quê ngoại ấy, tôi được bao bọc trong sự chăm sóc, thương yêu. Tôi nhớ Già Lý mỗi khi đi chợ bán kén về thường mua cho tôi bánh, kẹo. Mợ Tư hiền lành chất phác, mỗi khi nhà có luộc ngô, khoai, đều mang cho tôi một phần còn nóng hổi. Hai anh con trai bác Trưởng Mão, buổi chiều ra bờ đê thả diều hay gọi tôi đi theo. Nhìn hai con diều bay lơ lửng trên bầu trời xanh, tôi vươn hai cánh tay nhỏ bé muốn bay theo cánh diều như cô tiên bé bỏng trong bài hát Thiên Thai.
Những buổi sáng ngày mùa, tôi theo mợ Tư ra đồng gặt lúa. Cánh đồng vàng ươm thơm mùi lúa chín. Tay Mợ cầm cái liềm thoăn thoắt hái từng cụm lúa vàng óng ả, mợ đặt bó lúa mới hái chất đống trên cánh đồng. Tôi muốn xuống ruộng hái, nhưng mợ không cho.
Có những buổi chiều mợ dắt tôi sang bãi dâu bên kia sông. Mợ nói bãi này, mùa nước năm ngoái đất mới bồi lên nên trồng dâu tốt lắm. Lúc xưa, mẹ cháu trồng dâu nuôi tằm giỏi nhất vùng này.
Những kỷ niệm êm đẹp thời thơ ấu bên quê ngoại in sâu vào ký ức bé bỏng của tôi, lớn lên cùng tôi trong tình yêu quê hương dân tộc.
Khi tôi lên năm, Mẹ tôi về thăm ông ngoại rồi đón tôi về Hà Nội. Có một hôm Mẹ từ ngoài phố trở về, ôm tôi vào lòng, gọi anh chị tôi đến và nói: “Ngày mai cả nhà phải tản cư về Hải Phòng, ở đây có thể đánh nhau. Mẹ phân chia việc: chị Nghĩa dắt em Thuần, xách túi quần áo, anh Thanh dắt em Thuận. Còn mẹ sẽ gánh dăm ký gạo, thực phẩm, bát đĩa, nồi niêu và ít đồ khô. Chúng ta thức dậy lúc năm giờ sáng. Các con dùng cơm xong rồi đi”.
Trời vào mùa Thu. Sáng sớm sương lạnh giá thấm ướt áo khiến tôi lạnh run, Trên cao vầng trăng khuyết treo lơ lửng trong màn đêm, tỏa ánh sáng mờ soi đường cho năm mẹ con tôi đi tới bến ô tô Hải Phòng.
Người đứng ở bến rất đông. Tôi thấy Cậu tôi dắt một em bé nhỏ hơn tôi, đứng cạnh một bà dong dỏng cao, mặc áo dài xanh, môi son má phấn, chứ không mộc mạc lam lũ như mẹ. Tôi nhìn người đàn bà đó, trong lòng cảm thấy bất nhẫn cho mẹ. Chuyến xe đò lăn bánh, đưa đoàn người đi qua những con đường, chỗ thì có nhiều nhà cửa hai bên, chỗ thì có những ruộng lúa vàng óng, nặng trĩu hạt, chỗ thì có những dòng sông nước trong xanh uốn theo những con đường cái chạy tới tít chân trời. Xe đò cũ chở rất đông người, đường đầy ổ gà nên xế chiều mới đến Hải Phòng
Khi vừa đến, chúng tôi ở nhờ nhà chị thông Hàm, cháu cậu tôi. Vài hôm sau mẹ tôi thuê được căn nhà cũ phố Cát Dài Hải Phòng. Mẹ và chị cả tôi, tên Nghĩa, đi ra phố, mua mỡ, thịt ba chỉ, hành lá, bột gạo, vôi để nấu bánh đúc nóng. Gà vừa gáy sáng tôi đã thấy mẹ thức dậy nhóm bếp. Mùi hành xào với thịt thơm phức khiến tôi thấy bụng đói. Thấy tôi ngồi dậy, mẹ đến nhẹ nhàng đỡ tôi nằm xuống, khẽ nói: “Ngủ đi con, trời sáng mẹ sẽ lấy bánh cho con ăn.” Tôi nằm xuống, nhắm mắt rồi thiếp vào giấc ngủ.
“Thuần, sáng rồi dậy đi, đánh răng rửa mặt rồi dùng bánh. Mẹ để lại cho mỗi đứa bát bánh đúc, có nhân thịt hành mỡ, ngon lắm.” Tiếng anh hai Thanh gọi:
Tôi rửa mặt rồi ra lấy bát bánh đúc mẹ nấu hồi khuya. Nhìn bát bánh màu trắng ngà, phủ trên một lớp nhân thịt, hành mỡ, chan nước mắm với chanh đường mà tôi thấy thương mẹ. Mẹ phải dậy thật sớm, lui cui thái hành, băm thịt, trộn bột với vôi rồi nấu nồi bánh. Chị Nghĩa cũng phải dậy sớm, phụ mẹ bưng bánh cho khách. Những ngày bán hết, mẹ về nhà, nét mặt vui vẻ, mua gạo, thịt, cá nấu cho chúng tôi bữa cơm ngon. Ngày nào nhìn mẹ không vui, tôi biết hôm nay chúng tôi phải ăn bánh đúc trừ cơm.
Ngày tháng âm thầm trôi. Cùng với đôi quang gánh nhẫn nại trên đôi vai gầy, mẹ tôi thoăn thoắt đi trên đường phố Hải Phòng lúc mờ sương. Chị tôi lúc ấy mới tuổi mười lăm, đi theo phụ mẹ.
Hôm nay mẹ tôi không đi bán. Trông nét mặt bồn chồn, mẹ lo lắng cài cửa thật chặt, kéo mọi người vào sâu trong nhà. Tôi lén lại gần cửa, hé nhìn qua khe. Đường phố hôm nay vắng vẻ, chỉ có mấy người Tây đen mặt rằn, dáng đi nghiêng ngả như say rượu, ôm mấy cô gái còn rất trẻ. Mẹ kéo tôi vào, quát: “Con vào trong ngay, Tụi nó phá cửa vào, chết cả đám.”
Vài ngày sau, mẹ nghỉ bán. Cậu tôi đến bảo mẹ chuẩn bị để tản cư. Việt Minh khởi nghĩa, có đánh nhau lớn với người Pháp trong Thành Phố.
Thế là Mẹ cùng chị Nghĩa, anh Thanh vội vã thu xếp rồi cũng cả nhà đi đến chỗ cậu tôi. Giờ đây, gia đình của tôi có thêm một em bé và người đàn bà xa lạ mà Cậu tôi bảo chúng tôi gọi là Dì. Tiếng Dì xa lạ ấy, tôi không thể nào gọi được.
Cậu tôi bế em bé. Dì đi trước, bốn mẹ con tôi lủi thủi đi bên đoàn người tản cư rất đông. Bỗng có tiếng la: “Tất cả nằm xuống, máy bay đang đuổi, ném bom.” Mẹ tôi đẩy các con nằm xuống đất. Tiếng máy bay đang lượn trên bầu trời, một lúc rồi im. Mẹ kéo chúng tôi dậy, miệng hớt hải: “Dậy, chạy nhanh đi.” Chúng tôi đứng dậy thật nhanh, chạy bên mẹ. Được một quãng đường ngắn, chúng tôi nghe tiếng bom nổ như xé không gian nơi đám bụi cây mẹ con tôi vừa mới rời khỏi.
Đoàn người tản cư hớt hải chạy nhanh trên con đường đất, người cõng mẹ già, người gánh con thơ, có người tật nguyền phải bò lết, cùng nhau chạy. Trên đầu, tiếng máy bay đang gầm rú, khiến tôi sợ hãi khóc òa.
“Nín đi em, chạy nhanh lên kẻo lạc mất mẹ.” Chị Nghĩa gọi tôi.
Tôi không đi nổi, phải nhờ chị cõng. Mãi đến xế chiều cả nhà đến được một làng quê. Khi nhìn thấy mẹ con tôi nheo nhóc, dân làng tỏ vẻ ái ngại, và mang tới một tô cơm. Mẹ cảm ơn rồi chia cho bốn chị em tôi. Tôi không ăn, cứ lắc đầu dù cho mẹ kiên nhẫn dỗ dành, trong lòng tôi nghĩ mình không ăn,để nhường cho mẹ, mẹ vất vả nhiều, chắc mẹ đói lắm. Nhưng thấy mẹ khóc, tôi nhai vài miếng cho bà vui. Sau đó Mẹ lại tiếp tục dẫn chúng tôi đi, mãi đến tối mới về tới Làng Phụ Dực tỉnh Thái Bình. Dân làng vui mừng đón chào, họ gọi mẹ tôi là bà Giáo.
Những năm trước Cậu tôi dạy học ở đây, nên dân làng đối với gia chúng tôi thân thiện. Họ nhường ra nửa căn nhà, giúp đỡ hết lòng. Bà con lối xóm đến thăm, cho ngô, lạc, khoai lang và dăm lon gạo, Còn các anh thanh niên trong làng thường đến thăm hỏi chúng tôi, mục đích để gặp chị Nghĩa, vì chị trông dịu hiền, khuôn mặt trái xoan, nước da trắng hồng có dáng xinh đẹp của cô gái thành phố.
Mẹ dẫn chị tôi đi thăm bà con trong xóm, cảm ơn về việc họ đã nhiệt tình giúp đỡ gia đình mình. Dần dà mẹ được người trong làng chỉ cho một nghề để mưu sinh. Đó là nghề làm bún, theo như lời họ nói, không tốn nhiều vốn mà dễ bán. Bà Tư cho mẹ mượn cái nồi thật to, cối xay bột, khuôn vắt bún rồi chỉ mẹ mọi thứ. Đầu tiên là xay gạo ra thành bột, ngâm một đêm, rồi đổ vào khuôn và vắt cho từng sợi chảy xuống thật đều vào nồi nước thật sôi. Khi sợi bún nổi đều thì vớt ra, phân ra từng nhóm nhỏ, quấn vòng thành hình lưỡi trai để trên cái mẹt lót lá chuối, cho đến khi ráo thì lần lượt xếp vào hai cái thúng đã được lót đáy, rồi đậy bún bằng lá chuối tươi. Bốn giờ sáng mẹ tôi gánh bún bằng đôi quang ra chợ Huyện bán. Chị tôi đi phụ với mẹ. Trời vào tiết xuân mưa phùn suốt ngày. Đường quê ướt át, lầy lội. Chợ quê vắng bóng người. Gánh bún của mẹ ngày nào cũng mang về. Chúng tôi có bún thay cơm.
Thế là mẹ phải đổi sang làm nghề hàng xáo.
Hàng ngày, mẹ phải vào thôn làng để mua thóc rồi gánh đến chú Ba nhờ xay vỏ trấu. Xay xong, mẹ gánh gạo đến nhà bà Tư mượn cối giã gạo. Vì mẹ gầy yếu mảnh khảnh, chị Nghĩa phải giã gạo phụ với mẹ, giã xong, phải sàng cám và nhặt thóc cho sạch. Phải tốn biết bao công sức mới làm ra được thúng gạo. Rồi sáng sớm tinh mơ, hai người lại gánh gạo lên chợ Huyện trong cơn mưa phùn gió bấc lạnh buốt của tháng ba. Khi phiên chợ ế ẩm, mẹ phải gánh vào thôn xóm để bán cho những người ngại mưa gió không đi chợ. Hôm bán hết, mẹ mừng lắm, mua chút mắm ruốc và thịt nọng về rang cho chúng tôi. Những lúc đó, cả nhà ăn rất ngon.
Cậu tôi bị Việt Minh bắt chỉ vì lý do tham gia Quốc Dân Đảng. Bà Dì đã mất đi để lại người con gái nhỏ, bé Lan . Năm chị em chúng tôi, gồm luôn cả bé Lan này, sống trong sự đùm bọc và yêu thương của Mẹ và chị cả.
Trong thời buổi khốn khó ấy, mẹ tôi thân cò gầy yếu lận đận nuôi sáu miệng ăn. Anh tôi thì chẳng giúp cho mẹ việc gì, chỉ cả ngày tụ tập với đoàn thiếu sinh quân. Tôi và chị Thuận đi với thím Hai nhà bên cạnh ra đồng mót lúa, mót khoai, xuống mương mò cua bắt ốc. Có hôm cũng bắt được vài chục con về cho chị Nghĩa nấu canh. Mặc dù thiếu thốn, bữa đói bữa no, nhưng cuộc sống của chúng tôi trải qua vui vẻ, êm đềm trong tình thương yêu của Mẹ và chị.
(Còn Tiếp)





