CHÂN Y NGHIÊM: NHƯ MỘT DÒNG SÔNG (HỒI KÝ) – KỲ 3: Dòng Sông Chia Cách Đôi Bờ

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

KỲ 3: Dòng Sông Chia Cách Đôi Bờ

Năm 1954, đất nước bị chia đôi, ngăn cách bởi dòng sông Bến Hải. Miền Bắc là Cộng Sản. Miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa, miền đất Tự Do.

Nhưng cũng chính năm đó, sinh mạng của mẹ tôi đã bị cướp đi bởi trái lựu đạn mà Việt Cộng đã cài trên con đường Vĩnh Phúc Yên, con đường hàng ngày có nhiều chuyến xe nườm nượp chở mọi loại hành khách lên xuống, trong đó có chuyến xe mẹ tôi đã đi để buôn gạo nuôi sống gia đình.

Mẹ tôi mất đi để lại bốn đứa con thơ dại. Lúc bấy giờ, thời thế hỗn mang, mọi người xôn xao chế độ đổi thay. Người người bảo nhau mau chóng dọn đồ và tư trang để di cư vào miền Nam. Ba tôi thì phân vân, lưỡng lự trước cảnh gia đình nheo nhóc bầy con thơ, vợ mới mất, vào miền Nam xa lạ, biết làm gì để sống.

Ngày hôm sau, mợ Tư, em dâu mẹ tôi lên nhà, hớt hãi nói:  Bác và các em phải di cư vào miền Nam ngay. Ở nhà quê, họ đang chuẩn bị mang gia đình bác ra đấu tố về hai tội:

  • Tội thứ nhất, bác trai là Việt Nam Quốc Dân Đảng.
  • Tội thứ hai, bác gái đi chở gạo đường Vĩnh Phúc Yên, tuy bác  bị giết chết, mất mạng, nhưng đã làm nổ mất quả mìn của Việt Minh, làm thiệt hại cho Đảng.

Thế là chúng tôi nhớn nhác trước cảnh đau thương mất mẹ, bây giờ bảy người trong gia đình chúng tôi gồm năm chị em, Ba tôi và bà Dì lại phải dắt díu nhau rời bỏ quê hương. Còn nỗi đau nào lớn hơn nữa không hỡi ông Trời. Giây phút đó, tôi thầm trách bà Dì, tôi nghĩ có lẽ vì bà Dì mà mẹ tôi phải vất vả sớm hôm, buôn gạo đường xa đến nỗi phải trúng mìn do Việt Cộng gài bẫy

Chuyến xe khách đã chở chúng tôi đến Hải Phòng đợi tàu vào Nam. Tới Hải Phòng, tất cả mọi gia đình phải ở tạm trong căn nhà rộng lớn, mỗi người được phát thực phẩm, đợi chờ tàu há mồm đến đón đi. Số người di tản quá đông, nên sống chật chội, mỗi người được phân chia 2 mét vuông, nằm sát nhau, thời tiết tháng mười rét nên cũng thấy ấm áp.

Ba gửi tôi đến nhà bác Hồ, bạn thân của ba. Bác có bà vợ kế rất trẻ, bà dáng người mảnh mai, rất khôn khéo. Bà ngoài mặt vui vẻ khi có bác trai ở nhà. Khi bác đi vắng thì nói mỉa mai tôi là chanh cốm, sai tôi làm như đầy tớ. Bác Hồ rất thương quí tôi, hay bế tôi lên nựng như em bé. Năm đó tôi vừa tròn mười bốn, tôi có hiểu gì đâu. Bà vợ ông tức tối ra mặt, mắng nhiếc tôi chẳng tiếc lời. Tôi trở về trại tị nạn sống với gia đình trong cảnh chật chội thiếu thốn.

Thời gian đó là cận kề cái tết, vào ngày ba mươi Tết, tôi ra phố nhìn thiên hạ mua sắm trái cây, hoa đào, hoa cúc, bánh tráng, giò chả, nem chua, mứt… Những cặp vợ chồng trẻ dẫn con đi sắm quần áo Tết, giày dép mới. Nhìn chúng cười nói, nũng nịu bên bố mẹ mà tôi thấy đau thắt trong ngực. Tôi oán trách quả mìn nghiệt ngã đã cướp mất mẹ tôi trong một đêm giá lạnh, đã xô đẩy mấy chị em tôi thành những trẻ mồ côi, lạc lõng giữa chợ đời oan trái. Mẹ ra về với cát bụi bằng cái chết đau thương, để lại bốn chị em tôi còn thơ dại. Chị Nghĩa, người chị cả xinh đẹp, ngoan hiền đã giúp đỡ mẹ tôi buôn bán vất vả sớm hôm để nuôi cả gia đình bảy người. Bây giờ, đôi vai nhỏ bé chị phải gánh vác gia đình trong thời thế hỗn loạn. Chị vào Nam trước để chuẩn bị rồi đón các em. Lúc đi, chị cho tôi năm đồng bạc, bảo tôi sống ngoan, đừng khóc, chị sẽ đón tôi vào sau và cho tôi đi học.

Đêm ba mươi, đường phố vắng dần, ánh đèn vàng hắt hiu trong cơn gió lạnh thấu xương. Tôi co ro như con mèo hoang đi tìm mẹ.  Tôi gọi mẹ thầm trong họng, khóc nấc lên từng cơn, khan cả tiếng. Chung quanh tôi chỉ có tiếng chổi sột soạt của người phu quét đường, tiếng gió lạnh rít từng cơn, tiếng quạ kêu đêm ba mươi gọi nhau về tổ. Tôi đưa bàn tay lạnh cóng vào túi, năm ngón chạm vào đồng bạc chị Nghĩa cho tôi.

Có tiệm tạp hóa còn mở cửa, tôi bước vào, mua một xị rượu đế. Cậu con trai ái ngại nhìn tôi:

– Em đi đâu đêm ba mươi này, dáng điệu thất thểu, còn mua rượu đế nữa.

Tôi trừng mắt nhìn hắn:

– Kệ tôi, có bán rượu không, tôi sang hàng khác.

Cậu trai mỉm cười, cầm xị rượu đưa tôi, ái ngại nói:

– Em đi về nhà ngay, buổi tối con gái đi ngoài đường, nguy hiểm lắm.

Tôi cúi đầu, cảm ơn. Trên đời này vẫn còn người tử tế.

Tôi cầm xị rượu uống một hơi, rồi bật khóc. Tôi cắm đầu chạy nhanh về trại tị nạn trong nỗi sợ hãi. Tôi vừa chạy vừa khóc, một nỗi  cô đơn ôm chặt lấy tôi. Chung quanh tôi, mọi người đang quây quần đánh bạc, đang cười đùa rộn rã, quên hẳn đêm nay là giao thừa, giờ phút linh thiêng.

Tiếng chuông chùa hòa quyện chuông nhà thờ khua vang báo tin mừng năm mới. Tiềm thức gọi tôi về, bàn thờ hương khói lung linh, đầy bánh trái hoa quả, mẹ tôi mặc áo dài lụa Hà Đông, đầu quấn khăn nhung đỏ, tay thắp ba nén hương thành kính khấn vái mời chư vị tổ tiên, ông bà, cha mẹ về vui Tết cùng các con cháu. Anh Thanh, con trai trưởng lễ trước, rồi đến chị Nghĩa, chị Thuận, tôi và cô em.

Pháo giao thừa nổ vang sân nhà, khắp xóm. Mẹ dẫn chúng tôi đi lễ chùa hái Lộc. Trước ngôi Tam Bảo, nghi ngút khói hương. Mẹ hiền, dịu dàng như đức Quan Âm. Cảnh tượng sum vầy hạnh phúc ấy như quấn lấy tôi, hiện rõ trong tâm thức, vẫn còn quanh quẩn đâu đây.

Tiếng cười nói ồn ào, kéo tôi về thực tại. Chất men rượu thấm vào người khiến tôi say quay cuồng trời đất. Tôi không còn thấy ai, chỉ thấy bóng mẹ trong màn sương đục, tôi gọi: “Mẹ ơi, mẹ đợi con’  nhưng chẳng có ai cả.  Tôi gào lên:  Cuộc đời thật phi lý. Thật phi lý.

Có ai đó quất cái roi trên lưng tôi. Tôi bừng tỉnh, nhìn thấy ba. Tôi không gào khóc nữa, nằm im, chìm sâu vào giấc ngủ.

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search