Tàu Há Mồm 1954
KỲ 4: Chuyến Tàu Ly Hương
Chiếc tàu há mồm, to đùng cập bến Hải Phòng. Đoàn người di cư rất đông, đứng, ngồi ngổn ngang tràn ngập bến tàu. Người mẹ trẻ bồng con, dắt díu nhau, người đàn ông, phụ nữ mang đủ thứ: giường, chiếu, nồi niêu xoong chảo, gà, chó… Mọi người lần lượt xuống tàu khi được gọi tên.
Tôi bước xuống tàu bên cạnh ba, anh Thanh, chị Thuận, em Lan và người đàn bà của ba tôi. Tim tôi đau nhói. Mẹ tôi đâu rồi, sao mẹ không đi với chúng tôi? Sao mẹ bỏ chúng tôi lạc lõng trên con tàu vượt trùng dương tới miền đất lạ. Sao mẹ lại nằm trong mộ lạnh lẽo nơi quê nhà. Đứng trên boong tàu, nhìn con tàu lướt trên sóng biển, xa dần quê hương. Tôi nghẹn ngào gọi mẹ. Tôi oán giận trái mìn của Việt Minh đã giết mẹ tôi, đã cướp đi của tôi bầu trời yêu thương. Mất mẹ rồi, chúng tôi sẽ sống sao đây nơi phương trời lạ.
Con tàu vẫn bình thản lướt sóng vượt đại dương. Tôi đứng trên boong tàu nhìn về cuối trời, xa dần vùng trời xứ bắc, xa dần Hà Nội, xa dần con đê sông Hồng, xa dần khung trời quê ngoại, nơi tôi đã được nuôi dưỡng, lớn lên trong công lao và tình thương như biển nguồn của mẹ.
Con tàu vượt sóng ra khơi
Mang con sang tới bầu trời Tự Do.
Mẹ ơi, đất nước đôi bờ.
Thương về quê mẹ mà ngơ ngẩn sầu.
Chắp tay con khẩn nguyện cầu.
Mẹ về quê cũ, nương sâu Phật Trời.
Dòng nước mắt nhạt nhòa trong bầu trời xanh hòa với nước biển trong xanh. Vĩnh biệt Hà Nội, quê hương yêu dấu.
Con tàu cặp bến sông Sài Gòn. Một thành phố huy hoàng hiện ra. Mọi người tuần tự rời con tàu, dắt nhau lên bến cảng.
Tiếng loa phóng thanh kêu gọi mọi người hãy tuân theo hướng dẫn của Ban Tổ chức: Những ai có người nhà đến đón thì đứng riêng bên khu A. Những người còn lại sẽ được Ban Tổ chức đưa về những trại tạm cư, đứng bên khu B. Mỗi gia đình sẽ được cấp tiền, lương thực và đất để xây dựng cuộc sống mới.
Ba tôi bảo, ba anh em tôi đứng đợi chị Nghĩa ra đón, còn ba thì đưa bà Dì và em út Lan đến Ban Tiếp nhận Đồng bào Di cư để nhận đơn vị tạm cư.
Chị Nghĩa đang tìm kiếm chúng tôi. Thấy chị tôi mừng quá, gọi thật to: Chị Nghĩa ơi, chúng em đang đợi chị ở đây.
Chị chạy lại, ôm lấy chúng tôi, mừng rỡ. Tôi òa khóc, ôm chặt lấy chị, như sợ chị biến mất. Có chị đây rồi, em đừng khóc nữa.
Chị đến chào ba tôi và bà Dì. Chị mời ba về nhà với chúng tôi, nhưng ba tôi từ chối.
Nơi chị ở là cái chòi bếp của bà chị họ tên Nga. Chị Nga có chồng tên Tài và hai đứa con, một trai, một gái tên Ngọc. Chị Nghĩa hàng ngày ra bán phụ sạp quần áo ở chợ Tân Định của chị Tài, để nhận tiền công ít ỏi và ngày hai bữa cơm. Còn ba anh chị em chúng tôi tự nấu ăn. Bữa cơm chỉ rau luộc và mắm ruốc kho với chút thịt ba chỉ. Anh Thanh được xin vào học trường Chu văn An. Còn tôi và chị Thuận phải ở nhà, vì trường công không nhận. Chị Nghĩa không đủ tiền cho chúng tôi học trường tư.
Nhìn Ngọc đi học, tôi thấy nôn nao, buồn bã. Tôi nhớ mẹ. Nếu như mẹ còn sống thì tôi đâu phải thất học. Tôi đi theo Ngọc đến trường Đông Tây Học Đường, một trường tư thục. Thấy tôi đứng ngẩn ngơ trước cổng trường, ông gác cổng hỏi tôi muốn tìm ai. Tôi thưa tôi muốn gặp thầy hiệu trưởng, ông đã đưa tôi vào văn phòng.
Thầy hiệu trưởng nét mặt nhân hậu, thầy mời tôi ngồi ghế và hỏi tôi ghi tên học lớp nào. Tôi ngập ngừng, nước mắt rưng rưng không nói lên lời. Thầy ái ngại nhìn tôi, giọng thầy nhẹ nhàng: Em có chuyện gì, cứ nói cho thầy biết, thầy có thể giúp được em không.
Tôi kể hoàn cảnh tôi mồ côi mẹ, hiện ở với chị cả, chị phụ bán quần áo, lương rất ít; chị không thể nuôi tôi học. Tôi rất muốn đi học để thoát khỏi cảnh nghèo, để tương lai tôi có thể tự lập và giúp đỡ những trẻ mồ côi nghèo khổ như tôi.
Thầy hiệu trưởng nhìn tôi với ánh mắt nhân từ. Thầy ký giấy nhận tôi vào học, yêu cầu phòng giáo vụ miễn học phí hàng năm, còn cấp thêm sách vở, dụng cụ học tập cho tôi. Thế là hàng ngày, tôi cô bé mười bốn tuổi, như con chim nhỏ bé, lầm lũi ôm cặp sách đi bộ từ đầu đường Phan Thanh Giản tới trường Đông Tây Học Đường nằm trên đường Cao Thắng.
Tôi đã đi bộ như thế ròng rã 4 năm trên con đường Sài Gòn dài hun hút có hai hàng cây che bóng mát. Có những sáng bụng đói, những buổi trưa nắng gắt, cổ khát nước mà không có tiền uống một ly trà đá. Tôi chưa hề than thân, trách phận, những lúc như vậy tôi chỉ nhớ đến mẹ. Giá như mẹ tôi không bị lật xe trong chuyến đi buôn gạo trên đường Vĩnh Phúc Yên do Việt Minh gài mìn, thì hôm nay mẹ và chị vẫn chăm lo cho chúng tôi đầy đủ. Tôi chỉ thầm gọi mẹ và tự hứa trong lòng mình phải cố gắng học, cố gắng vươn lên để tạo cho chị em tôi một cuộc sống khá giả, để mẹ tôi yên vui nơi Suối Vàng.
(Còn Tiếp)
