Andrew Weissmann: VƯƠNG QUỐC CỦA KẺ DỐI LỪA-CHƯƠNG 6: MỘT CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC

Nguyên Tác: LIAR’S KINGDOM

Tác Giả: Andrew Weissmann

(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)

TÁC GIẢ & TÁC PHẨM

CHƯƠNG 6

MỘT CON ĐƯỜNG PHÍA TRƯỚC

Rồi sẽ đến lúc Trump rời khỏi chính trường, như điều cuối cùng cũng xảy ra với tất cả chúng ta. Nhưng những chính trị gia khác sẽ noi theo ông ta, bởi Trump đã chứng minh được hiệu quả của lời nói dối chính trị trắng trợn. Chúng ta phải phát triển một liều thuốc giải — một giải pháp vừa khôn ngoan vừa có thể đứng vững trước sự giám sát pháp lý theo chính hệ thống luật pháp của chúng ta. Bất kỳ giải pháp nào mà chúng ta đưa ra cũng phải tương thích với các giá trị và luật pháp của quốc gia này, đồng thời vượt qua được những kiểu thách thức pháp lý từng đánh sập nhiều phần của Đạo luật Stolen Valor.

Để xem xét những lựa chọn trước mắt, hãy thử hình dung ba đạo luật khả dĩ.

Trước tiên, hãy tưởng tượng rằng Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một đạo luật liên bang mới theo truyền thống của “Đạo luật Hồ sơ Trong sạch” của Brazil. Hãy gọi đạo luật này là Đạo luật Sự thật trong Bầu cử (Truth in Elections Act — TEA) và mã hóa nó thành Điều 1001A, được đặt ngay sau điều luật hiện hành về khai gian tại Điều 1001 thuộc Tiêu đề 18 của Bộ luật Hoa Kỳ (nơi tập hợp nhiều đạo luật liên bang của quốc gia). Điều luật thực tế 1001 quy định:

“Bất kỳ ai, trong bất kỳ vấn đề nào thuộc thẩm quyền của bất kỳ cơ quan hay ban ngành nào của Hoa Kỳ, cố ý và có chủ đích làm sai lệch, che giấu hoặc che đậy một sự kiện trọng yếu bằng bất kỳ thủ đoạn, kế hoạch hay thiết bị nào; hoặc đưa ra bất kỳ tuyên bố hay trình bày sai sự thật, giả tạo hoặc gian dối nào; hoặc lập hay sử dụng bất kỳ văn bản hay tài liệu nào mà biết rõ có chứa nội dung sai sự thật, giả tạo hoặc gian dối, thì sẽ bị phạt tiền theo tiêu đề này hoặc bị phạt tù không quá năm năm, hoặc cả hai.”

Điều luật này đã được diễn giải rất rộng để bao trùm các lời nói dối với nhiều viên chức liên bang. Sau đây là một ví dụ từ hơn hai mươi năm làm công tố viên của tôi: Khi tôi cùng một đặc vụ FBI tiến hành thẩm vấn nhân chứng, tôi sẽ thông báo cho họ về các quyền và nghĩa vụ của mình, bao gồm cảnh báo rằng dù họ không tuyên thệ, nếu họ nói dối trong buổi thẩm vấn thì họ có thể phạm tội theo Điều 1001 và đối mặt với khả năng bị truy tố cũng như ngồi tù. Khá đáng sợ — nhưng nhiều khi đó chính là mục đích, nhằm khiến họ nhận thức rõ sự cần thiết phải nói thật.

Điều luật giả định mới của chúng ta, Điều 1001A hay TEA, mở rộng Điều 1001 hiện hành — mở rộng phạm vi áp dụng sang các lời nói dối nhắm trực tiếp vào hệ thống bầu cử của chúng ta:

“Bất kỳ ai cố ý và có chủ đích đưa ra tuyên bố hay trình bày sai sự thật, giả tạo hoặc gian dối về kết quả hay quy trình của bất kỳ cuộc bầu cử liên bang nào, với mục đích gieo rắc nghi ngờ về tính toàn vẹn của kết quả hay quy trình đó, sẽ phạm một vi phạm dân sự mà hình phạt có thể bao gồm việc cấm đảm nhiệm chức vụ dân cử trong thời hạn lên đến 8 năm. Để bị xác định là có trách nhiệm đối với hành vi này, chứng cứ phải được thiết lập vượt quá mọi nghi ngờ hợp lý. Người bị xác định có trách nhiệm theo điều luật này có thể ngay lập tức kháng cáo theo thủ tục rút gọn đối với phán quyết.”

TEA sẽ áp dụng cho tất cả các cuộc bầu cử liên bang, dù là vào Thượng viện, Hạ viện hay Nhà Trắng. Tuy nhiên, vì đạo luật mang bản chất dân sự nên người bị xác định có trách nhiệm sẽ không đối mặt với khả năng bị bỏ tù; họ chỉ đơn thuần bị cấm giữ chức vụ trong một khoảng thời gian nhất định.

Giờ hãy tưởng tượng rằng Quốc hội đã thông qua một đạo luật mới thứ hai, cũng là một đạo luật dân sự phản ánh tinh thần của yêu cầu “sự thật trong quảng cáo” dành cho các chính trị gia tại Brazil. Đạo luật giả định thứ hai này yêu cầu rằng, trong mọi cuộc bầu cử liên bang, ứng cử viên phải định kỳ công khai chứng nhận với Ủy ban Bầu cử Liên bang (FEC) rằng mọi khẳng định về mặt sự kiện mà họ đã đưa ra (hoặc khiến người khác đưa ra thay mặt mình) trong quá trình tranh cử đều là đúng sự thật. Bản chứng nhận phải cung cấp cho FEC cơ sở thực tế của các khẳng định đó. Nếu ứng cử viên không thể chứng nhận bất kỳ phát biểu nào mà mình đã đưa ra trên đường vận động tranh cử, thì ứng cử viên đó phải rút lại phát biểu ấy thông qua hồ sơ nộp cho FEC để công chúng và báo chí biết được việc rút lại đó trước ngày bầu cử. Hơn nữa, không ứng cử viên nào đủ điều kiện tranh cử nếu không thực hiện các hồ sơ bắt buộc; và các ứng cử viên tổng thống sẽ không đủ điều kiện nhận quỹ hỗ trợ liên bang nếu không nộp các chứng nhận này, đồng thời phải hoàn trả mọi khoản quỹ đã nhận. Đáng chú ý, vì việc cố ý và có chủ đích nộp hồ sơ gian dối cho một cơ quan liên bang vốn đã là tội phạm, nên nếu bản chứng nhận của ứng cử viên chứa đựng một nội dung sai lệch trọng yếu và cố ý, ứng cử viên đó sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự vì khai báo gian dối.

Cuối cùng, hãy tưởng tượng một đạo luật liên bang mới thứ ba mở rộng một đạo luật hiện hành khác của Hoa Kỳ, Điều 2383 thuộc Tiêu đề 18. Điều luật này quy định rằng những người bị kết án về các tội nổi loạn hoặc phản loạn sẽ không đủ điều kiện giữ chức vụ công. Đạo luật mới của chúng ta bổ sung đoạn được gạch dưới sau đây:

“Bất kỳ ai kích động, khởi xướng, hỗ trợ hoặc tham gia vào bất kỳ cuộc nổi loạn hay phản loạn nào chống lại thẩm quyền của Hoa Kỳ hoặc các đạo luật của Hoa Kỳ, hoặc tiếp tay hay hỗ trợ cho các hành vi đó, hoặc cố ý và có chủ đích vi phạm Điều 1001A của Tiêu đề 18 Bộ luật Hoa Kỳ (TEA), sẽ bị phạt tiền theo tiêu đề này hoặc bị phạt tù không quá mười năm, hoặc cả hai; đồng thời sẽ không đủ tư cách giữ bất kỳ chức vụ nào thuộc Hoa Kỳ.”

Đạo luật mới này bổ sung các hậu quả hình sự — chứ không chỉ đơn thuần là việc truất quyền tranh cử — đối với hành vi vi phạm đạo luật giả định đầu tiên của chúng ta, tức TEA.

Mỗi một trong ba đạo luật mới này sẽ, theo những cách khác nhau, giải quyết vấn đề mà nền dân chủ của chúng ta đang phải đối mặt từ các lời nói dối chính trị; và mỗi đạo luật đưa ra những cơ chế khác nhau để buộc người vi phạm phải chịu trách nhiệm. Dĩ nhiên, mặc dù cả ba mô hình đều là các đạo luật liên bang khả dĩ điều chỉnh các cuộc bầu cử liên bang, thì mỗi trong năm mươi bang của chúng ta cũng có thể ban hành các phiên bản tương tự của cả ba đạo luật ấy để điều chỉnh các cuộc bầu cử cấp bang tương ứng. Thực tế, nhiều bang hiện nay đã tước quyền giữ chức vụ dân cử của những người bị kết án về nhiều loại tội phạm khác nhau.

Ba đạo luật liên bang ấy sẽ đứng vững thế nào dưới chế độ hiến pháp của chúng ta? Dĩ nhiên, cách chắc chắn nhất để bảo đảm tính hợp hiến của các đạo luật này là sửa đổi Hiến pháp để minh thị cho phép các giải pháp như vậy. Nhưng tôi tránh đề xuất con đường đó vì tính bất khả thi về mặt thực tế của nó. Đã nhiều thập niên trôi qua kể từ lần cuối Hiến pháp được sửa đổi, và theo thiết kế đầy khôn ngoan, đây là một tiến trình khó khăn và quanh co. Đôi khi còn quá khó: ngay cả Tu chính án Quyền Bình đẳng được đề xuất cũng không thể tập hợp đủ ba phần tư số bang cần thiết để được phê chuẩn theo hiến pháp. Vì vậy, điều thực tế hơn là đặt câu hỏi liệu các giải pháp mang tính đạo luật này có thể vượt qua sự giám sát theo Hiến pháp hiện hành của chúng ta hay không.

Hai đạo luật giả định đầu tiên sẽ có khả năng chống chịu mạnh mẽ nhất trước các thách thức hiến pháp, trong khi đạo luật thứ ba sẽ dễ bị tổn thương nhất.

Hai đạo luật giả định đầu tiên chia sẻ một đặc điểm quan trọng của đạo luật truất quyền của Brazil — mô hình đem lại phương án khả thi nhất về mặt pháp lý cho cách mà chúng ta có thể răn đe các lời nói dối chính trị tại Hoa Kỳ. Đạo luật Brazil bảo vệ tính toàn vẹn của bầu cử, nhưng nó làm điều đó mà hoàn toàn không cấm đoán phát biểu. Hãy nhớ rằng các lời nói dối bầu cử của Bolsonaro đã dẫn tới việc ông bị cấm giữ chức vụ, nhưng đạo luật truất quyền của Brazil không hề cấm phát biểu của ông ngay từ đầu. Theo cùng cách đó, hai đạo luật giả định đầu tiên của Hoa Kỳ — TEA và đạo luật chứng nhận với FEC — cũng không cấm phát biểu.

Thay vào đó, các đạo luật này giới hạn khả năng của một người trong việc tranh cử vào chức vụ công — điều mà, khác với quyền tự do ngôn luận, không hề tồn tại như một quyền tuyệt đối tại cả Hoa Kỳ lẫn Brazil. Thay vì cấm bất kỳ ai phát biểu, hai đạo luật giả định đầu tiên của Hoa Kỳ, giống như Đạo luật Hồ sơ Trong sạch ở Brazil, đơn giản chỉ đặt ra một lựa chọn cho bất kỳ ai muốn tranh cử chức vụ liên bang: nếu muốn ra tranh cử, bạn không được nói dối. Ngược lại, nếu bạn muốn nói dối về cuộc bầu cử, bạn hoàn toàn tự do làm điều đó, nhưng nhà nước có lợi ích chính đáng khi xác định rằng lúc ấy bạn sẽ không thể tranh cử.

Việc cấm một người ra tranh cử dĩ nhiên là một hậu quả nghiêm trọng, cả đối với ứng cử viên đó lẫn đối với những cử tri muốn bỏ phiếu cho họ. Nhưng cũng như không ai ở Brazil — hay ngay tại Hoa Kỳ — có quyền tuyệt đối được tranh cử bất kỳ chức vụ nào, thì cử tri cũng không có quyền tuyệt đối được thấy một cá nhân cụ thể xuất hiện trên lá phiếu. Trên thực tế, Hiến pháp của chúng ta đặt ra những giới hạn về điều kiện cần thiết để tranh cử tổng thống; và như chúng ta biết từ phong trào Cấp tiến đầu thế kỷ XX, tồn tại vô số hạn chế mang tính đạo luật về việc ai có thể có tên trên lá phiếu. Đồng thời, nhiều bang hiện nay đã cấm những người bị kết án về nhiều loại tội phạm khác nhau được ra tranh cử chức vụ công.

Hai đạo luật giả định đầu tiên của Hoa Kỳ còn có thêm một lợi thế nữa khi so sánh với các đạo luật truất quyền mang tính hình sự: bởi vì hai đạo luật mới này là các đạo luật dân sự, mọi người chịu sự điều chỉnh của chúng đều có thể bị yêu cầu giải trình dưới lời tuyên thệ. Đúng là, trong cả vụ án dân sự lẫn hình sự tại Hoa Kỳ, chúng ta đều được hưởng đặc quyền theo Tu chính án Thứ Năm để từ chối trả lời những câu hỏi có thể khiến mình tự buộc tội trong một vụ án hình sự. Nhưng trong vụ kiện dân sự, khác với vụ án hình sự, việc từ chối đó có thể bị thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn suy diễn bất lợi cho bạn. Điều này có nghĩa rằng, trong bối cảnh của các đạo luật giả định của chúng ta, nếu một ứng cử viên từ chối giải thích cơ sở cho một khẳng định về mặt sự kiện, thì tòa án có thể suy đoán rằng khẳng định đó là sai sự thật hoặc không được đưa ra với thiện chí. Việc áp dụng suy đoán này đối với các ứng cử viên cho chức vụ công, những người từ chối giải thích bản thân mình, là đặc biệt thích đáng.

Một lợi ích đặc biệt quan trọng khác xuất phát từ việc hai đạo luật giả định đầu tiên là các đạo luật dân sự: chúng sẽ miễn nhiễm trước quyền ân xá của tổng thống. Chúng ta đã chứng kiến quyền ân xá của tổng thống xóa bỏ các vụ truy tố chính đáng đối với những chính trị gia tham nhũng, giám đốc điều hành doanh nghiệp, những kẻ nổi loạn, đồng minh chính trị, trùm ma túy, thậm chí cả kẻ giết người. Biện pháp truất quyền sẽ không bị loại lạm dụng này làm vô hiệu, bởi quyền ân xá chỉ áp dụng cho các vấn đề hình sự, chứ không áp dụng đối với trách nhiệm dân sự (và hoàn toàn không áp dụng đối với các vi phạm cấp bang, dù là hình sự hay dân sự). Vì vậy, một tổng thống sẽ không thể vô hiệu hóa hiệu lực của hai đạo luật giả định đầu tiên.

Đối với các ứng cử viên tổng thống, có một điều đặc biệt chính đáng trong đạo luật giả định thứ hai — không hẳn là một thế mạnh mang tính hiến pháp tự thân, mà đúng hơn là một lý do chính đáng cho sự tồn tại của nó. Các ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ đủ điều kiện nhận quỹ hỗ trợ tương ứng từ liên bang. Những người nộp thuế liên bang không nên bị buộc phải chi tiền để quảng bá cho một ứng cử viên đang nói dối trắng trợn với họ. Ủy ban Bầu cử Liên bang (FEC) vốn đã có nhiều yêu cầu kê khai đối với ứng cử viên cũng như các chế tài đối với việc không nộp báo cáo chính xác; đạo luật giả định thứ hai của chúng ta chỉ bổ sung thêm một yêu cầu nữa — một yêu cầu không hạn chế phát biểu của ứng cử viên về quan điểm hay chính sách mà họ cổ xúy. Nó chỉ hạn chế những lời nói dối của họ — tức các phát biểu sai sự thật về mặt thực tế.

Tạm gác yếu tố chính nghĩa sang một bên, đạo luật đầu tiên trong hai đạo luật khả thi của chúng ta sẽ dễ bảo vệ hơn về mặt hiến pháp so với đạo luật thứ hai — ít nhất là theo cách tôi đã viết chúng. Đó là bởi đạo luật giả định đầu tiên, TEA, không tìm cách điều chỉnh mọi lời nói dối chính trị; thay vào đó, giống như đạo luật Brazil mà nó mô phỏng theo, TEA được thiết kế riêng để chỉ nhắm vào những lời nói dối cố ý về quy trình bầu cử — cũng chính là những lời nói dối có khả năng gây thiệt hại lớn nhất cho nền dân chủ. Đạo luật giả định thứ hai của Hoa Kỳ không bị giới hạn ở các lời nói dối cố ý về quy trình bầu cử, vì vậy nó sẽ dễ bị Tòa án Tối cao soi xét hơn. Dĩ nhiên, nó có thể được soạn thảo để chỉ bao trùm các lời nói dối liên quan đến bầu cử, nhưng nhằm trình bày những khuôn khổ pháp lý khác nhau mà chúng ta có trong tay, tôi bắt đầu bằng phiên bản rộng hơn của mô hình luật này.

Phạm vi hạn chế của đạo luật giả định đầu tiên có thể trở nên quan trọng nếu một ngày nào đó TEA của chúng ta xuất hiện trước Tòa án Tối cao. Hãy nhớ cách tiếp cận cân bằng được phản ánh trong cả ba ý kiến của Tòa trong vụ Alvarez. Nếu đạo luật giả định của chúng ta được đưa ra trước Tòa án Tối cao, các thẩm phán sẽ cân nhắc lợi ích của chính phủ trong việc ban hành đạo luật ấy với phạm vi của đạo luật và những tổn hại mà nó có thể gây ra đối với quyền tự do ngôn luận được bảo vệ. Và việc thiết kế chặt chẽ hơn của TEA tương tự như Đạo luật Stolen Valor sửa đổi năm 2013 — phiên bản mà Quốc hội đã thu hẹp phạm vi để bảo đảm tính hợp hiến. Với tất cả sự tôn trọng đối với mong muốn của Quốc hội trong việc không làm mất giá trị biểu tượng của các huân chương quân sự — lợi ích chính phủ được viện dẫn trong vụ Alvarez — thì lợi ích ấy vẫn nhỏ bé hơn nhiều so với lợi ích của chúng ta trong việc duy trì niềm tin vào quy trình và kết quả bầu cử. Không có niềm tin ấy, sẽ không thể có những cuộc bầu cử được nhìn nhận là hợp pháp. Và nếu không có những cuộc bầu cử được xem là hợp pháp, sẽ không thể có một nền dân chủ vận hành đúng nghĩa.

Có một cuộc tranh luận quan trọng cần được tiến hành về việc liệu các đạo luật như hai đạo luật giả định đầu tiên mà tôi hình dung ở đây nên chỉ giới hạn ở những lời nói dối về quy trình bầu cử hay nên bao gồm cả các loại nói dối khác. Những người phản đối một đạo luật rộng bao trùm mọi lời nói dối sẽ lập luận rằng chỉ những lời nói dối nguy hại nhất mới nên bị áp dụng hình phạt truất quyền. Họ sẽ cho rằng cần một cách tiếp cận tinh tế hơn, một cách chỉ dành hình phạt cấm tranh cử cho những lời nói dối có khả năng gây hại nghiêm trọng nhất. Một số lời nói dối, những người chỉ trích này sẽ nói, có thể để cho cử tri tự đánh giá và không nên bị áp dụng biện pháp khắc nghiệt là truất quyền — chẳng hạn như những lời nói dối về chuyện tình dục, thành tích học tập từ nhiều thập niên trước, tài sản cá nhân, diện tích căn hộ trong Trump Tower hay số lượng người tham dự mít-tinh. Họ hoàn toàn có lý khi chỉ ra rằng một lệnh cấm pháp lý quá rộng sẽ ảnh hưởng đến tất cả chúng ta, chứ không chỉ ứng cử viên, bởi nó hạn chế lựa chọn bầu cử của cử tri.

Mặt khác, những người theo chủ nghĩa thuần túy hơn sẽ cho rằng bất kỳ lời nói dối nào của ứng cử viên cũng nên dẫn tới việc bị truất quyền. Chẳng phải chúng ta nên đòi hỏi sự thật tuyệt đối từ những người có đặc quyền đại diện cho công chúng Mỹ hay sao? Chẳng phải họ mắc nợ “chúng ta, nhân dân” một nghĩa vụ trung thành hay sao? Phải chăng chúng ta đã quá chai lì trước những lời nói dối đến mức không còn mong đợi sự thật nữa — dẫn đến một cử tri đoàn hoài nghi, sẵn sàng biện minh cho các lời nói dối chính trị bằng câu nói: “Ai mà chẳng thế”? Đã đến lúc phải chấm dứt tình trạng đáng buồn này, những người theo chủ nghĩa thuần túy ấy sẽ nói. Chúng ta nên tốt đẹp hơn — và xứng đáng với điều tốt đẹp hơn — thay vì mặc nhiên chấp nhận rằng các lãnh đạo của mình sẽ nói dối.

Tôi thừa nhận rằng, tận sâu trong lòng, tôi là một người theo chủ nghĩa thuần túy. Chúng ta sẽ không bao giờ chấp nhận việc một luật sư nói dối thân chủ của mình; đó sẽ là sự vi phạm nghĩa vụ pháp lý cơ bản về lòng trung thành và sự thẳng thắn đối với những người mà cô ấy đại diện. Chúng ta cũng nên đòi hỏi không ít hơn từ các ứng cử viên và chính trị gia, những người được cho là đại diện và phục vụ chúng ta. (Xin tha thứ cho phép so sánh này: tôi đã làm luật sư hơn bốn mươi năm.) Nhưng dù là người theo chủ nghĩa thuần túy trong tim, tôi cũng là một người thực dụng. Tôi muốn vấn đề này được giải quyết. Và điều đó có nghĩa là phải làm việc trong khuôn khổ của một hệ thống hiến pháp — một hệ thống đòi hỏi cách tiếp cận bền vững và triển vọng nhất đối với cuộc khủng hoảng trung thực của đất nước chúng ta.

Dù chúng ta chọn cách tiếp cận hẹp hay rộng, thì bằng cách này hay cách khác, chúng ta vẫn phải vạch ra một ranh giới giữa những lời nói dối mà chúng ta quyết định trừng phạt và những lời nói dối mà chúng ta không trừng phạt. Cách tiếp cận hiện nay là không vạch ra bất kỳ ranh giới nào cả. Hệ quả là những lời nói dối gây chết người cho tiến trình dân chủ đang sinh sôi và được quá nhiều người Mỹ nuốt trọn. Việc xác định nên đặt ranh giới ở đâu là quan trọng, nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta phải hành động — dù là bằng phiên bản rộng hay hẹp của đạo luật giả định thứ hai. Tôi thích nói với mọi người rằng câu châm ngôn cũ “Nếu nó chưa hỏng thì đừng sửa” cũng đúng theo chiều ngược lại. Khi nó đã hỏng, bạn buộc phải sửa nó.

Còn một giải pháp được đề xuất nữa cho hệ thống đang trục trặc của chúng ta, đó là giải pháp nằm trong đạo luật giả định thứ ba. Theo nhiều cách, đây là giải pháp mang tính thuần túy nhất, nhưng cũng chính vì vậy mà sẽ khó thực hiện nhất tại Hoa Kỳ. Điều đó là hợp lý, bởi nó gây gánh nặng lớn nhất lên quyền tự do ngôn luận — ngay cả khi nó chỉ nhắm vào những lời nói dối cố ý về bầu cử. Chúng ta có thể dự đoán điều này với mức độ chắc chắn khá cao dựa trên cuộc thảo luận của Tòa án Tối cao trong vụ Alvarez về hiệu ứng “làm lạnh” đối với phát biểu được bảo vệ khi hình sự hóa ngay cả những phát biểu sai sự thật. Đúng là các thẩm phán chỉ gợi ý những chỉnh sửa nhỏ đối với Đạo luật Stolen Valor để làm cho nó hợp hiến. Nhưng cả ba ý kiến của Tòa đều lo ngại rằng việc điều chỉnh phát biểu sai sự thật về mặt thực tế có thể gây ra hiệu ứng làm lạnh đối với phát biểu trung thực. Trong vụ Alvarez, đa số thẩm phán không thấy mối lo ấy có ý nghĩa thực tế gì khi xử lý việc khai gian rằng mình đã nhận huân chương quân sự: làm sao việc cấm những lời nói dối như vậy có thể khiến phát biểu chân thật bị kiềm chế? Nhưng chúng ta không nên mong đợi cùng một kết luận khi nói đến phát biểu chính trị — dù là đúng hay sai.

Tòa án Tối cao hoàn toàn có thể chỉ ra rằng đạo luật giả định thứ ba của chúng ta, với các hình phạt hình sự gồm tiền phạt và tù giam đối với bất kỳ ai “cố ý và có chủ đích vi phạm” TEA, có thể gây hiệu ứng làm lạnh không chỉ đối với lời nói dối mà cả đối với phát biểu trung thực. Không khó để hình dung các ứng cử viên tự kiểm duyệt những phát biểu sắc bén trên đường vận động tranh cử — ngay cả khi những phát biểu ấy có thể là đúng — nhằm tránh nguy cơ phải đối mặt với những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng từ đạo luật hình sự giả định của chúng ta. Và quả thực, Tòa chắc chắn sẽ đặc biệt quan ngại về hiệu ứng làm lạnh ấy trong bối cảnh bầu cử, điều sẽ khiến đạo luật giả định thứ ba của chúng ta càng khó vượt qua phép thử axit của hiến pháp.

Hơn nữa, mặc dù đạo luật giả định thứ ba của chúng ta bổ sung thêm một tội danh nữa (tức cố ý nói dối về bầu cử) vào hai tội mà Quốc hội đã hình sự hóa và trừng phạt bằng hình thức truất quyền (nổi loạn và phản loạn), vẫn tồn tại một khoảng cách rất lớn giữa các tội danh này. Hai tội sau không hề giống bất kỳ hoạt động nào được Hiến pháp bảo vệ, cũng không đặt ra cùng mức độ rủi ro gây hiệu ứng làm lạnh đối với phát biểu được bảo vệ theo Tu chính án Thứ Nhất. Hiến pháp không bảo vệ hành vi nổi loạn hay phản loạn — hoàn toàn ngược lại — nên xét về mặt pháp lý, các hoạt động đó rõ ràng có thể bị xử lý. Điều tương tự không thể nói về việc đưa ra một phát biểu sai sự thật về bầu cử — một hoạt động mà Hiến pháp có thể cũng không bảo vệ, nhưng lại nằm rất gần với các hoạt động được Hiến pháp bảo vệ (cụ thể là phát biểu thuộc phạm vi của Tu chính án Thứ Nhất).

Tất cả những điều này không có nghĩa là giả thuyết thứ ba hoàn toàn không có khả năng vượt qua được sự kiểm tra hợp hiến. Một lập luận để bảo vệ tính hợp hiến của mô hình thứ ba là nó không vi phạm những quan ngại mà Thẩm phán Alito đã nêu ra trong vụ Alvarez. Đối với Alito, vấn đề của việc điều chỉnh một số loại phát ngôn sai sự thật là nhà nước không có quyền bước vào lĩnh vực quyết định đâu là phát ngôn đúng và đâu là phát ngôn sai, ít nhất là khi nói đến việc cấm phát ngôn liên quan đến tôn giáo, lịch sử, triết học và những lĩnh vực tương tự. Alito bác bỏ quan điểm cho rằng không tồn tại sự thật khách quan; điều khiến ông lo ngại là việc nhà nước bảo chúng ta được phép và không được phép nói gì — một lập trường hoàn toàn đối nghịch với cách tiếp cận của Đức trong việc cấm phủ nhận Holocaust.

Giả thuyết thứ ba mà chúng ta đề xuất không làm phát sinh mối lo ngại đó. Đạo luật này giao cho bồi thẩm đoàn, chứ không phải chính phủ, quyền xác định rằng một phát biểu là cố ý sai sự thật. Khác với luật cấm phủ nhận Holocaust của Đức, nó không cấm phát ngôn về những chủ đề do chính phủ lựa chọn là cấm kỵ. Thay vào đó, nó vay mượn một phần từ luật phỉ báng hiện hành của Hoa Kỳ, nơi mà mỗi ngày các bồi thẩm đoàn dân sự vẫn phải quyết định chính xác cùng một vấn đề như vậy. Điều tương tự cũng đúng đối với vô số vụ truy tố hình sự về hành vi khai man với chính phủ, vốn vi phạm điều luật hiện hành tại Mục 1001. Và việc sử dụng Mục 1001 để truy tố một hồ sơ khai báo gian dối gửi lên FEC — loại hồ sơ mà mọi ứng cử viên đều buộc phải nộp theo mô hình luật thứ hai — hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận đó. Cả một cáo buộc theo Mục 1001 lẫn một cáo buộc theo mô hình thứ ba đều không tương tự với luật Holocaust của Đức, vốn phản ánh một tuyên bố mang tính kết luận của chính phủ rằng phát ngôn về một chủ đề nhất định là sai sự thật. Điều đó đi ngược lại lập luận của Alito. Còn đối với các đạo luật mới được đề xuất — dù là dân sự hay hình sự — thì không phải như vậy.

BIỆN PHÁP BIỆN HỘ DỰA TRÊN QUYỀN MIỄN TRỪ

Không khó để hình dung một tổng thống hay quan chức chính phủ khác đang tranh cử sẽ viện dẫn quyền miễn trừ để tránh bị truy tố vì vi phạm một đạo luật như TEA. Rốt cuộc, Donald Trump nổi tiếng vì đã bám víu vào chính lập luận này khi ông bị cáo buộc vi phạm các đạo luật hình sự liên bang có thật ngoài đời, và Tối cao Pháp viện phần lớn đã ủng hộ ông khi xây dựng khuôn khổ pháp lý mới của mình. Vì vậy, chúng ta cần chuẩn bị cho việc lập luận về quyền miễn trừ tương tự sẽ được dùng để thách thức việc thực thi một đạo luật giả định mới như TEA.

Tin tốt là hệ thống pháp luật Hoa Kỳ về quyền miễn trừ dân sự và hình sự của tổng thống — được thể hiện gần đây nhất qua phán quyết năm 2024 của Tối cao Pháp viện trong vụ án mang tên đáng nhớ Trump kiện Hoa Kỳ — sẽ không tạo ra nơi trú ẩn an toàn cho các ứng cử viên nói dối, kể cả những người đang nắm giữ chức vụ quyền lực nhất đất nước.

Hãy nhớ rằng vụ Trump kiện Hoa Kỳ phát sinh từ đơn kháng cáo của Trump trong một vụ truy tố hình sự liên bang tại Washington, DC, liên quan đến các trọng tội bắt nguồn từ nỗ lực của ông nhằm tiếp tục nắm quyền sau khi thua cuộc bầu cử năm 2020. Trump tuyên bố rằng ông có quyền miễn trừ đối với mọi cáo buộc trong vụ án đó. Nhưng cả cách Tối cao Pháp viện giải quyết vụ việc này, lẫn các quyết định về quyền miễn trừ trong các vụ dân sự, đều không trao cho các ứng cử viên chính trị một “lá bài thoát tù” để né tránh những ràng buộc của một đạo luật tước quyền ứng cử như TEA.

Đây là lý do vì sao các ứng cử viên không thể viện dẫn quyền miễn trừ. Trong vụ Trump kiện Hoa Kỳ, Tòa án chia các loại hành vi mà một tổng thống có thể thực hiện thành ba nhóm khác nhau.

Nhóm thứ nhất bao gồm những hành vi chính thức mà tổng thống thực hiện khi sử dụng quyền lực mà Hiến pháp trao riêng cho tổng thống. Quyền ân xá là một ví dụ như vậy. Những quyền lực này chỉ thuộc về tổng thống, và Quốc hội không có khả năng hạn chế quyền đó thông qua luật liên bang. Ví dụ, nếu Quốc hội thông qua một đạo luật cấm các tổng thống có dính líu đến tội phạm ban hành lệnh ân xá cho đồng phạm, thì dù chúng ta có thể thấy đạo luật ấy hợp lý đến đâu, Tối cao Pháp viện cũng sẽ tuyên nó là vi hiến; bởi nó xâm phạm một quyền lực mà Hiến pháp trao độc quyền cho tổng thống. Cách duy nhất để đạo luật đó vượt qua được sự kiểm tra hợp hiến là sửa đổi Hiến pháp.

Ở thái cực còn lại, trong vụ Trump kiện Hoa Kỳ, Tòa án cho rằng có một nhóm hành vi do tổng thống thực hiện nhưng không phải trong tư cách chính thức. Những hành vi này không được hưởng bất kỳ quyền miễn trừ nào. Việc một hành động được thực hiện khi một người đang là tổng thống không có nghĩa rằng nó là một phần trong chức năng chính thức của tổng thống. Tòa án đối xử với các hành động thuộc nhóm này giống như những hành động được thực hiện trước hoặc sau khi người đó làm tổng thống. Không có quyền miễn trừ nào áp dụng cho các hành vi mà người đó thực hiện khi tranh cử trước lúc đắc cử, hoặc khi đang là tổng thống nhưng hành động với tư cách một ứng cử viên tái tranh cử. Chúng ta cũng có một ví dụ thực tế: các cáo buộc chống lại Trump trong vụ án hình sự của bang New York — nơi ông bị kết tội làm giả hồ sơ kinh doanh để che giấu âm mưu giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2016 — sẽ thuộc nhóm này.

Nhóm thứ ba bao gồm những hành vi mà tổng thống thực hiện trong tư cách chính thức, nhưng nằm ngoài các lĩnh vực mà Hiến pháp trao độc quyền cho tổng thống. Có rất nhiều lĩnh vực như vậy — những vùng mà cả Quốc hội lẫn nhánh hành pháp đều có vai trò, chẳng hạn như chính sách y tế, giáo dục và nhập cư. Trong các lĩnh vực này, Tối cao Pháp viện trong vụ Trump kiện Hoa Kỳ cho rằng tổng thống ít nhất được hưởng quyền miễn trừ suy đoán đối với hành động của mình; quyền miễn trừ đó chỉ có thể bị bác bỏ nếu vụ truy tố hình sự “không gây ra ‘nguy cơ xâm phạm’ nào” đối với thẩm quyền tổng thống của ông.

Tối cao Pháp viện đã không quyết định vấn đề thực tế rằng hành vi cụ thể nào bị cáo buộc trong bản cáo trạng đối với Trump không phải là hành vi chính thức. Thay vào đó, họ trả lại câu hỏi đó cho tòa cấp dưới để xem xét trước tiên, nhưng phải áp dụng khuôn khổ pháp lý mà họ đã đặt ra. Tuy nhiên, ít nhất bốn thẩm phán đã nói rõ rằng họ sẽ không trao cho Trump quyền miễn trừ đối với hành vi bị cáo buộc là can thiệp vào quy trình bầu cử của các bang. Thẩm phán Amy Coney Barrett viết riêng để khẳng định rằng bà xem hành vi đó không được hưởng quyền miễn trừ, trong khi năm thẩm phán còn lại thuộc phe đa số đơn giản là chưa giải quyết vấn đề thực tế đó. Bất kể họ có thể phán quyết thế nào về việc áp dụng khuôn khổ pháp lý của mình vào các tình tiết cụ thể, Tòa án đã nói rõ rằng những hành vi không được thực hiện trong tư cách chính thức thì không được miễn trừ, và chỉ để ngỏ câu hỏi thực tế liệu hành vi đó có được thực hiện trong tư cách ấy hay không.

Tòa án sẽ áp dụng khuôn khổ ba phần này như thế nào đối với đạo luật liên bang giả định của chúng ta, Mục 1001A? Dĩ nhiên, vì Tối cao Pháp viện chỉ mới đưa ra quyết định về quyền miễn trừ của tổng thống vào tháng 7 năm 2024 và chưa có thêm án lệ nào phát triển từ đó trong thời gian ngắn kể từ đó, nên chưa có phán quyết nào trực tiếp giải quyết câu hỏi này. Dù vậy, có thể đưa ra một lập luận thuyết phục rằng quyết định đó đơn giản là không áp dụng cho đạo luật chống nói dối của chúng ta.

Thứ nhất, như bạn còn nhớ, TEA không phải là một đạo luật hình sự; thậm chí nó cũng không phải là một đạo luật dân sự điển hình buộc ứng cử viên phải bồi thường thiệt hại hay chịu các biện pháp khắc phục thông thường trong một vụ kiện dân sự. Quyết định về quyền miễn trừ hình sự trong vụ Trump kiện Hoa Kỳ đơn giản là không áp dụng cho một đạo luật dân sự, huống chi là một đạo luật chỉ áp đặt biện pháp tước quyền ứng cử. Và ngay cả nếu có áp dụng, quyền miễn trừ cũng không áp dụng đối với các hành vi được thực hiện trong tư cách ứng cử viên tranh cử, kể cả khi người đó đang tại chức và tái tranh cử.

Nhưng còn một lý do khác khiến người ta nghi ngờ khả năng dùng vụ Trump kiện Hoa Kỳ để vô hiệu hóa TEA: đại đa số những người tranh cử vào các chức vụ liên bang không phải là tổng thống Hoa Kỳ. Quyết định đó được xây dựng dựa trên tính chất đặc biệt của chức vụ tổng thống; vì thế, nếu đạo luật mới Mục 1001A được áp dụng đối với một ứng cử viên liên bang không phải là tổng thống đương nhiệm tái tranh cử, thì quyết định về quyền miễn trừ của tổng thống sẽ hoàn toàn không bảo vệ người đó.

Cho đến giờ, chúng ta đã xem xét câu hỏi liệu ba mô hình giả định này có thể vượt qua được sự kiểm tra pháp lý hay không. Nhưng liệu bất kỳ biện pháp giả định nào trong số đó có đáng để đánh đổi với những cái giá có thể thấy trước hay không? Các bác sĩ thường hỏi: liệu phương thuốc có còn tệ hơn căn bệnh? Điều này giống với hai câu hỏi mà tôi luôn tự đặt ra khi còn là công tố viên. Câu hỏi thứ nhất — và thường dễ trả lời hơn — là liệu tôi có tin rằng có đủ bằng chứng để truy tố và kết tội ai đó hay không. Câu hỏi thứ hai — và thường khó hơn — là liệu sau khi đã có đủ bằng chứng cần thiết, tôi có nên tiếp tục hay không. Người đang bị điều tra có nên bị truy tố về tội mà tôi có bằng chứng cho thấy họ đã phạm phải hay không?

Đó là câu hỏi mà giờ đây chúng ta sẽ chuyển sang xem xét tiếp theo.

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search