Chữ nghĩa làng văn
Những chữ dùng để chỉ kẻ hầu người hạ đã tùy hoàn cảnh xã hội mà thay đổi. Chữ con nhài, nàng hầu tương đối lâu đời nhất được dùng trong các nhà quan. Sang đến thời Pháp thuộc có chữ con sen, chị vú, anh phu xe, rồi anh tài xế.. Những chữ để chỉ việc gái chơi bời như : đi nhà thổ (maison de terre), nhà chứa, me tây, làm đĩ.. Trong Nam giản dị gọi chung là gái điếm. Thêm một chữ cô ả cũng mất tiêu không ai dùng nữa.
Một số chữ của nhà đạo cũng không được dùng nữa là : Thầy cả, cụ, cố, thầy kẻ giảng, ông bõ. Một số chữ bên Phật giáo như ông Bụt, ông sư, ông vãi, bà vãi, chú tiểu cũng ít ai dùng.Có nhiều người muốn phục hoạt lại chữ Bụt, ông Sư …
Tử ngữ, sinh ngữ
Tử ngữ là chữ không còn dùng nữa, là chữ…chết!
Sinh ngữ là gì? Tra trong Tự điển Hán Việt tôi thấy không có chữ sinh ngữ. Vậy sinh ngữ là…tử ngữ hay sao?
(Hoàng Long Hải – Không sinh thì tử)
Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam
Nhà Bè, một vùng ngoại ô trù mật ở phía đông, chúng ta phải đi qua một cái cầu gọi là Cầu Bông, vì xưa kia ở gần đó Tả Quân Lê Văn Duyệt có lập vườn hoa rất ngoạn mục. Bà Chiểu tỉnh lỵ Gia Định, nổi tiếng về lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt (1764-1832) được người Việt và người Tàu tôn thờ như một vị thần thánh.
Theo Trương Vĩnh Ký thì Bà Chiểu là một trong 5 bà vợ của ông Lãnh Binh đã xây cái cầu ông Lãnh. Theo phương pháp tự túc mà các cụ ngày xưa thường áp dụng, ông đã lập ra 5 cái chợ, giao cho mỗi bà cai quản một cái: Bà Rịa (Phước Lễ), Bà Chỉểu (Gia-Định), Bà Hom (Phước Lâm), Bà Quẹo (phía Quán Tre) và Bà Điểm (phía Thụân Kiều).
(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)
Tiếng Việt mới
Cán bộ năm dê: nói dài, nói dai, nói dối, nói dở, nói dốt.
Cán bộ sáu vê: vào, vơ, vét, về, vui-vẻ.
Ca dao và lịch sử
Khi viết tập “Vũ Trung Tùy Bút”, về việc chúa Trịnh ham mê hưởng lạc, bày cảnh vui chơi làm khổ dân với nhiều sai dịch, Phạm Ðình Hổ đã cho là có sự bất tường. Cho nên hết đời Trịnh Sâm, các con ông là Trịnh Khải và Trịnh Cán vì tranh quyền đã gây rối loạn ở kinh thành. Trịnh Cán (con Tuyên phi Ðặng Thị Huệ) mới được lập lên, với sự hỗ trợ của Quận Huy, chưa được hai tháng, thì bị anh là Trịnh Khải trừ diệt.
Vì hai anh em họ Trịnh tương tàn, dân gian đã cố lời bàn tán:
Ðục cùn thì giữ lấy tông
Ðục long cán gãy còn mong nỗi gì
“Tông” ám chỉ tước hiệu của Trịnh Cán (Tông Ðô Vương). “Ðục long cán gãy” là nghiệp chúa của Trịnh Cán không tồn tại bao lâu.
(Phương Nghi – Tạp chí Tài hoa trẻ)
Lộng ngữ (III)
Lộng ngữ hay chơi chữ là khai thác những tương đồng về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh nhằm tạo ra những liên tưởng bất ngờ trong trò chơi ngôn ngữ.
Lộng ngữ có thể được tạo ra do khai thác các kiểu nói lái (hay nói trại). Chẳng hạn như: “Nhắc mồi thả xuống cầu môi (mồi câu) trong một giai thoại về Nguyễn Khuyến)
Hoặc có thể được tạo ra do khai thác các từ đồng âm dị nghĩa:
“Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn” (răng-lợi) – Ca dao.
Cũng có thể được tạo ra do sử dụng từ đồng nghĩa, như
“Thịt chó ăn được thịt cầy thì không” – Ca dao.
Ngoài ra, lộng ngữ cũng có thể được tạo ra do tách các chữ từ một chữ theo đặc điểm văn tự, ví dụ:
“Người cổ lại còn đeo thói nguyệt – Buồng xuân chỉ để lạnh mùi hương”, thì “cổ” và “nguyệt” kết hợp với nhau là chữ “Hồ”, họ của Hồ Xuân Hương.
(nguồn Wikipedia)
Chữ nghĩa làng văn
Một số nhà nghiên cứu cho rằng nguyên văn câu nói của Nguyễn Bỉnh Khiêm với sứ giả của Nguyễn Hoàng (được chép lại trong bài Phả ký của Vũ Khâm Lân) phải là “Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân” (Một dải Hoành Sơn có thể dung thân được) chứ không phải là “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Một dải Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời) như phần lớn tài liệu đã dẫn. Nguyên nhân của sự sai khác này được lý giải do các sử gia nhà Nguyễn sau này đã sửa đổi hai chữ “khả dĩ” thành “vạn đại”, với hy vọng sẽ giữ được cơ nghiệp của triều đại tới muôn đời.
Tiếng Việt vừa dễ vừa khó
Hỏi:
Trong cái nhìn của người xưa về Bốc Y Lý Số…, tui thấy chữ Bốc hơi lạ…, không biết có phải là “bốc đất xem Thiên Văn hay không?“, hay có chủ ý sâu rộng chi hè…, không phải là bốc thăm chi mô hỉ ? Chữ dưới, tui thiển nghĩ như sau, nếu có sai sót, rất mong được học hỏi thêm nha:
1 – bốc: ???
2 – y: Đông y thường thức
3 – lý: Địa lý (phong thủy)
4 – số: Số mạng (tử vi, bói tóan)
Đáp :
1 – bốc Hán chỉ có 1 chữ: đoán, bói
2 – y: chữa bệnh (không phải là đông y)
3 – lý: nhờ (không phải lý = địa lý)
4 – số: tính toán, số mạng…..
(Trau giồi tiếng Việt – ĐatViet.com)
Tiếng Việt trong sáng
Đọc thấy câu: “…đăng ký làm chiêu sinh ngành hải quan…”.
“Chiêu sinh” nghĩa là gì? Ai biết chỉ dùm. Cám ơn.
Chữ nghĩa biên khảo: Đổi họ
Vua Lê Thái Tông vì có mẹ là Phạm Thị Ngọc Trần nên vua ra lệnh ai họ Trần phải đổi ra họ Trình. Có một số họ Trần không đổi ra họ Trình mà là họ Bùi.
Vì chữ Bùi do chữ “phi” và “y” ghép lại là “không áo”. Mà “không áo” là “ở trần”.
Rồi vua Lê ban quốc tính cho công thần từ Nguyễn Trãi thành Lê Trãi, sau xuống chiếu bãi bỏ, để Lê Trãi trở lại với…Nguyễn Trãi.
Đến đời Trần, Trần Thủ Độ bắt họ Lý đổi ra họ Nguyễn. Lý thuộc bộ mộc, ghép với chữ “y” hay quần áo thành bộ nhân.
Và đừng quên Trần Thủ Độ gốc họ Bùi. Và Bùi tức “ở trần” mà ra.
Thời nhà Mạc vì thất thế và tẩu tán nên đổi ra họ Hoàng (là vua), họ Phan, họ Nguyễn với tên đệm là Đăng(Mạc Đăng Dung). Và Nguyễn Hữu Chỉnh là chi của họ Mạc.
Họ Cao do vụ án Cao Bá Quát phải đổi ra họ Kiều.
(Trần Gia Phụng – Dunglac.net)
Ăn mày chữ nghĩa
Một đứa bé hỏi Khổng Tử :
“Ðúc đồng làm chuông, đẽo gỗ làm dùi, lấy dùi đánh chuông tiếng kêu boong – boong thì tiếng kêu ấy là gỗ kêu hay đồng kêu?”
Khổng Tử đáp: “Lấy dùi gõ vào tường vách không kêu, gõ vào chuông kêu, thế thì tiếng kêu ở như đồng.”
Đứa bé hỏi: “Lấy dùi gõ vào đồng tiền trinh không kêu, thế thì có chắc tiếng kêu ở như đồng mà ra không?”
Khổng Tử nói: “Ðồng tiền đặc, cái chuông rỗng, vậy tiếng kêu ở các đồ vật rỗng mà ra.”
Đứa bé hỏi: “Lấy gỗ, lấy bùn làm chuông đánh không ra tiếng, thế thì có chắc tiếng kêu là ở đồ vật rỗng mà ra không?”
Đứa bé cười bảo: “Thế thì cho ông là người học rộng hiểu nhiều thế nào được”.
Chữ nghĩa lơ mơ lõ mỗ
Ước gì em hóa thành trâu
Anh là con đỉa anh bâu lên đùi
Ca dao tình yêu miền Nam
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị, hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu miền Nam. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, qua những từ ngữ mộc mạc, chân thật được bộc lộ…
“Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều”
(Đoàn thị Thu Vân – Chất hóm hỉnh trong ca dao miền Nam)
Giai thoại làng văn
Ban Mai: Ông có thể cho biết, sau tháng 4 năm 1975 khi chấm dứt chiến tranh, với chính sách sai lầm “đốt sạch tàn dư chế độ Mỹ-Ngụy” các nhà văn Miền Nam đã có những năm tháng như thế nào? Chuyện gì đã xảy ra đối với ông, bạn bè ông?
Thế Phong: Đầu tiên, Nhà sách Khai Trí lớn bậc nhất của Saigon, bị đốt sách, sau nhà bị Quân Quản tịch thâu. Chủ nhà sách Khai Trí, theo tôi biết, có tới 3, 4 căn nhà lớn – 2 ở đường Lê Lợi, kho sách ở gần rạp Cathay, một ở trên đường Pasteur..v..v.. Ông nằm chung danh sách ” đi học tập cải tạo”, khi được thả về, ông được con bảo lãnh sang Mỹ, lại quay trở về Saigon, đem theo một số sách, báo (khoảng 2000 cuốn) – lại bị tịch thu. Ông in một loại sách vô thưởng vô phạt, thơ tình xưa và nay..v..v.. rồi chết tại quê nhà. Tôi cảm phục nhất – ông sống đời sống một người bình thường – không vì tiền của, nhà cửa bị mất mà phát ” điên”!
(Ban Mai – Trò chuyện cùng nhà văn Thế Phong)
Chữ Việt lạ kỳ
Từ âm “trát” của chữ Hán có nghĩa là chớp mắt.
Ta có thêm chợp mắt, chép miệng, chặc lưỡi, hay hôn chùn chụt,
bú chùn chụt đầy tượng thanh, tượng hình của môi và lưỡi.
Thiên Thai và Đào Nguyên
Câu hát trong nhạc phẩm Thiên Thai của Văn Cao:
“…nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên…”
Thiên Thai và Đào Nguyên là hai tích của Tầu khác nhau.
Thiên Thai: Lưu Thần và Nguyễn Triệu đi hái thuốc ở núi Thiên Thai (không có rừng đào) và gặp tiên nữ nên duyên vợ chồng. Sau vê thăm nhà thì đã thấy làng quê đổi khác, cách biệt cả mấy đời khi hai chàng ra đi. Lưu Nguyễn muốn trở lại Thiên Thai thì đã mất dấu tích.
Đào Nguyên: Tích từ bài Đào hoa nguyên ký của Đào Tiềm (365-427), chuyện về một người đánh cá đi thuyền lạc tới một suối, rừng hoa đào đẹp như cõi tiên. Khi về, muốn trở lại động đào nhưng cũng lại lạc mất dấu…
(Trần Trúc Lâm – Đầu Xuân nói chuyện Thiên Thai)
Sinh ký tử quy
Ý nói sống gửi thác về. Người ta cho rằng cuộc sống này là nơi gửi tạm tấm thân, đến lúc nằm xuống trả thân xác về cho cát bụi mới thật là cuộc đời vĩnh cửu của con người được yên nghỉ, không phiền lụy.
Thơ bà Hồ Xuân Hương có câu “Sinh ký chàng ơi, tử tắc quy”.
Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam
Nhà Bè hay là nơi mà con sông Đồng Nai gặp con sông Sài Gòn cũng gọi là sông Bến Nghé. Ngày xưa ở chỗ ấy ông Thủ khoa Hườn có lập nhà bè để bố thí lúa gạo cho những kẻ lỡ đường và ngày nay còn vọng lại mấy câu hò tình tứ của cô lái miền quê:
Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia định Đồng Nai thì về!
(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)
Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
“Đã nhậu là cậu ông Giời
nên người quân tử chẳng mời cũng… dzô”
Ngộ Không
(Sưu Tập)
