Lê Mai Lĩnh: CÂU CHUYỆN CHỮ NGHĨA: MỘT HỌC VIỆN “VĂN CHƯƠNG”

Literature Meets Painting: Salvador Dali, Down the Rabbit Hole, 1969,

William Bennett Modern, New York, NY, USA

(Truyện bây giờ mới kể.)

Tôi qua Mỹ năm 1994, một năm sau, 1995, đã manh nha dấu hiệu cho một học viện văn chương ra đời, mà tới nay, 30 năm sau, tôi mới biết, mới e chừng là có như vậy.

Không hiểu, đây là sự thật hay tôi khoác lác, đại ngôn.

NỔ.

Tôi trình bày ra đây, mọi sự, tiến trình hình thành, xin mọi người cho ý kiến.

Có chăng một học viện văn chương mang tên Lê mai Lĩnh?

Muốn trả lời câu hỏi này, tôi xin tường trình sinh hoạt văn chương trong 10 năm, 1995/2005, của anh chị em cầm bút vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, trải dài qua lãnh địa 13 tiểu bang lập quốc:

Delaware, Pennsylvania, New Jersey, Georgia, Connecticut, Massachusetts, Maryland, South Carolina, New Hampshire, Virginia, New York, North Carolina và Rhode Island.

Năm 1995, bắt đầu từ một đêm không ngủ tại nhà thi sĩ Trần trung Đạo, đường Dorchester, Boston, gồm những tay cầm bút, tứ chiến giang hồ, đến từ 4 phương, 8 hướng:

  • Từ Canada, là nhà văn bác sĩ Trần mộng Lâm, nhà văn Nguyễn Bá Dĩnh, phu nhân, nhà thơ Thuỷ Trang, nhà văn thi sĩ Đông Nghi.
  • Từ California, nhà thơ Nguyễn thanh  Huy, nhà thơ Ngô tịnh Yên.
  • Từ New York, nhà báo Trần minh Trí, Nguyễn văn Tánh.
  • Từ New Jersey, nhà văn Trần Hoài Thư, phu nhân, chị Bạch Yến, nhà thơ Ngô Minh Hằng, nhà thơ Xuân Thiên Vỵ, nhà văn Hà kỳ Lam, nhà văn Trần quán Niệm.
  • Từ Philadelphia, nhà báo Lê thành Quang, nhà thơ Dạ Lữ, nhà thơ Trần ngân Tiêu, nhà văn Huỳnh văn Phú.
  • Từ Boston, nhà thơ Trần trung Đạo, nhà thơ Hồ công Tâm, nhà thơ Hoa Văn, nhà văn Lâm Chương, nhà thơ Phạm nhã Dự, nhà văn Trần Dõan Nho, nhà văn Tuệ Chương Hoàng Long Hải, nhà thơ Dư Mỹ, nhà thơ Hạ thi Nhân.

Từ sau đêm tại nhà Trần trung Đạo đó, không hiểu sao, chúng tôi hình thành được, một đại đoàn văn nghệ,  còn gọi vui, một đại cái bang tạp lục lưu động, do nhà thơ Trần trung Đạo, thống soái.

Đêm xa lộ, ngày freeway, những trạm dừng chân fast food, gas station, restaurant, restroom.

Những chị chị, em em, những anh anh, tao, mi, thân mật, chân tình.

Những đêm thơ Ngô minh Hằng, Trần trung Đạo, Hạ thi Nhân, Thủy Trang, Xuân Thiên Vỵ, Nguyễn thành Tính, Hoa Văn, Phạm nhã Dự.

Những ngày văn Trần Hoài Thư, Lâm Chương, Trần Dõan Nho, Tuệ Chương, Lê văn Bia, Huỳnh văn Phú,  Trần quán Niệm, Hà kỳ Lam.

Có thể nói, đêm ở nhà Trần trung Đạo, năm 1995, là đêm khai mạc cho 10 năm trăng mật văn chương, thì buổi chiều 2005, tại quán bún bò Mụ Lĩnh, Connecticut, là giờ kết thúc sau 3650 ngày mật hết và trăng lu, với những bút nhân văn chứng:

Trần trung Đạo, Nguyễn văn Ngọc, Nguyễn Ngọc Thanh, Dư Mỹ, Phan Xuân Sinh, Lương thư Trung, Trần Hoài Thư, phu nhân, chị Bạch Yến, phu nhân nhà thơ Võ bị, Nguyễn Ngọc và đôi ôn, mụ, Khùng thi sĩ.

  1.  

Chính trong không khí văn chương đó, nhà thơ Xuân Thiên Vỵ, nhận Lê mai Lĩnh làm ông thầy hướng dẫn (dạy) làm thơ, để Học Viện Văn Chương Lê mai Lĩnh, ra đời.

Xuân Thiên Vỵ, là một người đàn bà lai Pháp, do vậy, nhan sắc bà, não nùng sương tuyết, là một Ava Garner, Vivien Leigh của thế giới điện ảnh.

Có những đêm, nhiều đêm, trong mưa rơi, tuyết phủ, từ New Jersey, trò gọi phone, dựng đầu ông thầy dậy:

  • Thầy ngủ chưa. Trò vừa làm xong bài thơ này, trò đọc cho thầy nghe nhé, xin thầy cho ý kiến.
  • Thầy còn thức hôn, bài thơ trò mới hoàn thành, còn nóng như bánh mì mới ra lò, vừa thổi vừa ăn, thầy ăn bánh, đừng ăn trò nhé.
  • Thầy ngủ chưa, cho trò làm phiền một chút, kỳ tới gặp, trò cho thầy nắm tay bu sua.
  • Khuya rồi, sao thầy chưa ngủ. Lần này trò không hỏi về thơ, trò hỏi về việc thằng chồng trò. Trò phải làm sao, tháng này nó đi CASINO, thua hết cả tháng lương?
  • Bây giờ cuối tháng, xin cho trò hỏi câu cuối của tháng này. Trò thấy thằng chồng trò và con đĩ ngựa, cùng xe, chạy về hướng night club, trò phải làm sao, xử lý thế nào?
  • Trò viết thư về trong nước, hỏi bà Tùng Long, nhớ ghi ngoài bìa, mục Gỡ Rối Tơ Lòng.

Lần mới nhất, cách nay 10 năm, trò báo cho thầy một tin cực đại vui.

  • Thầy ơi, bài thơ trò làm, ca tụng những người lính đồng minh trong chiến tranh Việt Nam, mà thầy khuyên trò, nên thay hai chữ đồng minh bằng Hoa Kỳ, trò đã dịch sang tiếng Mỹ. Nay, hội cựu chiến binh Hoa Kỳ thành phố Philadelphia muốn mua bản quyền bài thơ, để họ khắc lên tượng đài kỷ niệm ngày lễ cựu chiến binh sắp tới.

Xong và tất hoàn hợp đồng, trò không quên công lao của thầy, đã đưa trò, từ vị trí nhà thơ lên đỉnh cao thi sĩ.

Dạo này thầy còn dùng Minh Mạng rượu hay để trò mua tặng thầy một thùng HENNESSY cho thầy tắm.

2.

Qua năm 2014, là lúc tôi chẳn 72 cái xuân xanh, tôi bị tiếng sét ái tình, là lúc bắt liên lạc được với cô hoa khôi ngày xưa ở trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị, Vương Lệ Hằng.

Câu hỏi đầu tiên của nàng:

  • Em nghe đồn anh dạo này là một thi sĩ nổi tiếng, anh giúp em trở thành một thi sĩ nổi tiếng như anh, được không?
  • Chuyện nhỏ. Tôi trả lời như vậy.

Và hôm sau, tôi mở đường dây, dạy làm thơ online, cô là người học trò thứ hai, sau thi sĩ Xuân Thiên Vỵ.

Cô, dân ban C, có năng khiếu văn chương, nên, các thứ trao đổi, thoải mái, tuồn tuột.

Sau khi làm xong một bài thơ, cô mail cho tôi.

Tôi thêm bớt, có khi, chỉ là vài dấu phẩy hay lên xuống dòng, tôi gởi trả lại cho cô.

Tôi, sau mỗi bài thơ làm xong, tôi gởi sang cô, nói cô ngâm cứu, học hỏi.

Nhờ cô, nhan sắc hoa khôi, tiếng nói Bắc kỳ 1954, nhõng nhẽo, cùng hơi thở, mùi hương thơm, qua điện thoại, tôi hưng phấn, cực sướng, có ngày tôi sáng tác tới 4, 5 bài thơ.

2, 3 bài, là chuyện ở huyện, thường hằng.

Thời gian này, tôi nhờ cô quản lý thơ tôi.

Mỗi cuối tháng, tổng kết.

  • Tháng ba, thầy làm 70 bài.
  • Tháng tư, thầy làm 95 bài.
  • Tháng năm, 97 bài.
  • Tổng kết năm 2015, 307 bài.

Về học trò Vương Lệ Hằng, vốn thơ đã có, khoảng 250 bài sau 2 năm, xàng xê, xà nẹo văn chương.

Có thơ, phải tính chuyện in thơ.

Hai thầy trò lập một nhà xuất bản, tên là Ý Trời.

Vì nghĩ rằng, cuộc hội ngộ của chúng tôi sau hơn 60, là Ý Trời.

Cô, người học trò, trong vị trí giám đốc.

Tôi, ông thầy, trong vị trí tà lọt, người cho giám đốc sai bảo, đêm ngày.

Chúng tôi in chung hai tập thơ:

  • Trăng trên dòng Thạch Hãn.( Trăng= Hằng ).
  • Thơ tình thế kỷ.
  • Sau đây, bốn bài thơ của người học trò, sau hai năm được ông thầy là tôi, truyền đạt kinh nghiệm làm thơ.

TƯỞNG RẰNG

Tưởng rằng đã qua,

Một thời con gái,

Nào ngờ người lại,

Mắt em lệ nhòa.

.

Tưởng rằng đã qua,

Một thời lãng đãng,

Nào ngờ thi nhân,

Làm em choáng váng.

.

Tưởng rằng cuối đời,

Khép lòng mình đi,

Nào ngờ anh đến,

Em như dậy thì.

.

Tưởng tình ngủ say,

Bên hồ quên lãng,

Cớ sao anh lại,

Tình em cháy sáng.

.

Cảm ơn thi sĩ,

Đánh thức tình dậy,

Tình ơi, tình ơi,

Lâu rồi mới thấy.

.

Giấu tình trong áo,

Cho tình nóng lại.

Giấu tình trong tim,

Cùng tình mãi mãi.

BÊN NỚ BÊN NI

Hỡi người bên nớ nhớ ta chăng,

Ta bên ni, nhớ người vô cùng.

Trời Garland nắng vàng nhè nhẹ,

Mây ngập ngừng trôi, mây lang thang.

.

Ta nhớ người, ta hỏi trời đất,

Ta nhớ người, ta hỏi lòng ta.

Người từ đâu tới, quen hay lạ,

Và hỏi lòng, mở lối từ xa.

.

Từ muôn trùng, người tìm bến xưa,

Ta ngày đêm, mỏi mắt trông chờ.

Người về đây, hồn ta cháy bỏng.

Ta, người, đốt lửa sưởi lòng nhau.

.

Người là con tàu, ta Hải đăng,

Ta đứng, người đi tìm bến đỗ.

Mái lá tình xưa, hằng mong đợi,

Mặn, ngọt, chua, cay, ta với người.

TẠI ANH, KHÔNG PHẢI TẠI EM

Em ngày đó, biết anh là thi sĩ,

Nên đôi lần, muốn đến làm quen.

Nhưng anh nghĩ, anh là thi sĩ,

Nên anh chẳng, coi em ra gì.

.

Khi bước đi, anh nhìn lên trời,

Có bao giờ, thấy em mặt đất,

Anh ngông nghênh, như một người say,

Em thiếu nữ, thấy anh là chạy.

.

Anh ngày ấy, coi trời bằng vung,

Em mặt đất, có chi nghĩa lý,

Lỗi tại anh, không lỗi tại em,

Chớ đừng có trách thân, trách phận.

.

Anh ngày đó, nghĩ mình Thượng đế,

Đâu có cho em làm con chiên,

Anh ngày đó, nghĩ mình là Vua,

Đâu có cho em làm Hoàng hậu.

.

Anh ngày đó, người đi trên mây,

Em giang tay, chờ anh ngã xuống,

Anh đâu có ngã vào tay em,

Anh đã ngã vào tay con nào?

.

Em, anh, ngày đó, thời Nguyễn Hoàng,

Em Quang Trung, anh Trần Hưng Đạo,

Em Lý Thái Tổ, anh Duy Tân,

Anh có theo em đâu mà biết.

.

Em Phan Đình Phùng, anh Lê Lợi,

Em Gia Long, anh Phan Bội Châu,

Em Cầu Ga, anh Chùa tỉnh hội,

Có chộ nhau đâu, mà xáp lá cà.

.

Nghĩ mình thi sĩ, anh thật tệ,

Chẳng coi em, ra con giáp nào.

Ghét anh, nhiều đêm em khóc,

Thương anh, nhiều đêm em ngủ khì.

EM MUỐN YÊU TRỞ LẠI

Em muốn yêu trở lại.

Em muốn yêu trở lại,

Vì trái tim không có tuổi,

Và tình yêu thì trẻ mãi.

.

Em muốn phục sinh đời em.

Em muốn yêu trở lại,

Cái nhan sắc của nhà thơ và cái khùng của thi sĩ,

Làm em muốn yêu trở lại.

.

Từ ngày có thi sĩ và thơ,

Em yêu đời hơn.

Em yêu đời đến lạ.

Thơ có mặt 24 giờ,

Thi sĩ có mặt 24 giờ,

Em chẳng còn thời gian để khóc.

.

Đêm ngủ, em đọc thơ,

Trong giấc mơ, em thấy thơ.

Em thấy thi sĩ đọc thơ ru em ngủ.

Ngủ đi Khanh!

.

Mỗi đêm, em gối đầu lên thơ,

Từ gối thơ, mắt em thôi lệ nhòa.

Từ gối thơ, em ngửi mùi rượu của thi sĩ.

Minh Mạng thang.

.

Em yêu đời trở lại,

Em yêu đời đến lạ,

Cảm ơn thi sĩ, cảm ơn thơ.

Đã vực em dậy,

Sau những truân chuyên, lảo đảo.

.

Cảm ơn thi sĩ,

Cảm ơn thơ,

Em yêu đời trở lại,

Em yêu đời đến lạ,

Tim em, hồn em, đang rạo rực lời thầm,

Tim em, hồn em, đang rộn ràng tiếng hát,

Tiếng của tình yêu, tình muộn,

Trong hân hoan,

Đắm say.

VLH.

  • Trên đây là nói về hai người học trò thơ.

Dưới mái học viện văn chương, tôi đã vận dụng sự thông minh, phù phép, giúp đỡ, bảo ban, dạy dỗ, để hai trò yêu, từ vị trí nhà thơ, đã lọt thỏm vào danh sách, đội ngũ thi sĩ.

Nay, tuổi già, sức yếu, nhưng không chịu thua số phận, tôi còn, đã và đang, dù đã chống gậy, vẫn vươn vai, gồng mình, gánh hai trò thất thập, vào con đường văn nghiệp.

Vì thì là, vừa mới nhập môn, khai lớp, nên không tiện nêu tên.

Nhưng để tiện việc sổ sách cho bạn thư ký học viện nhận thù lao và quà tặng, nên tôi tạm đặt tên cho hai trò:

  • Công Tằng Tôn Nữ Lệ Rơi.
  • Công Tằng Tôn Nữ Ướt Mi.

Như các nhạc sĩ, khi đặt nghệ danh cho các ca sĩ học trò, thường trùng hợp nhau, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, tôi cũng không khác.

Khi hùng dũng, hiên ngang, kiêu hãnh nhận hai trò này, là tôi đã nắm chắc, thừa biết,  hai trò đã có giấy phép, license, của ông Trời.

Và, khi đã có trong tay cái thiên mệnh (thiên phú, thiên bẩm, năng khiếu), thì nằm ngủ, cũng thành nhà văn.

Nhưng khi muốn, là một nhà văn lớn, khổng lồ, thì đòi hỏi phải lao động, viết ngày không đủ, tranh thủ viết đêm.

Viết đêm không xong, viết giờ phụ trội.

Với hai người học trò của tôi, tôi chỉ việc nhắc nhở, đôn đốc, với những lời mật ngọt, gừng cay, muối mặn, là hai trò, răm rắp nghe theo.

Tôi nói có cơ sở, dữ liệu, thuyết phục, chắc như bắp, là hai trò, bên cạnh cái license trời ban, hai trò còn một thứ tài sản quý giá khác, rất thiết thực, mà bất cứ những ai, muốn thành công trên con đường văn chương đều mơ ước, là căn bản học thức và vốn sống.

Hai trò, ba thứ, đều có dư thừa, vạm vỡ: thiên phú ( license của Trời) +căn bản học thức + vốn sống.

Nhờ sở hữu ba thứ trên, nên hai người học trò của tôi, hai năm nay, cứ phon phon trên xa lộ văn chương, tôi, ông thầy, chưa một lời nói nặng, nói chi tới roi vọt hay thước kẻ, gõ lên mười đầu ngón tay bụm lại.

Càng không bao giờ nghĩ đến, quỳ trên xơ mít, úp mặt vào tường.

Cũng đôi lần, hai người học trò bé nhỏ thất thập của tôi, băn khoăn, không biết viết gì, cạn kiệt đề tài.

Tôi đã có sẵn câu trả lời, giải pháp hóa giải.

Là ông thầy, là cấp lãnh đạo, mà đã là cấp lãnh đạo, mình phải biết tiên liệu.

Tôi không muốn và các trò cũng không cần thiết, viết và đặt vấn đề:

Con người từ đâu đến, sau khi chết rồi, đi về đâu.

Tôi không muốn và các trò cũng không cần thiết, viết và hỏi, bao giờ thì chế độ cọng sản phi nhân, gian ác tiêu vong.

Tôi chỉ muốn và các trò cần viết, những gì quanh đời sống chúng ta.

Và, theo thầy, sau 70 năm cầm bút, hai thể loại văn chương dễ viết, dễ hay, là HỒI KÝ, TUỲ BÚT.

Hãy lục lọi ký ức của mình, hãy đào xới kho tàng vốn sống của mình, các trò sẽ tìm được những kho báu quý, cho ngòi bút tung hoành, trên thuở ruộng văn chương.

Với ai, là những cuộc tình thơ mộng, là nụ cười chất ngất, đắm say.

Với kẻ nào, là cuộc yêu, lên bờ xuống ruộng, muốn uống một ly nước mía, cũng không có tiền trả, thì lấy đâu ra, nhẫn cưới kim cương 5,10 cà rá.

Đi một buổi chợ chiều, cũng có thể có bài tùy bút.

Nhớ buổi theo mẹ lên chùa, có ngay bài hồi ký.

Những điều này, tôi đã nói với hai người học trò của tôi từ vài tháng trước, nên từ gần đây, những trang viết của hai trò tôi, đã nồng nàn sức sống, tươi mát văn phong, toát lên niềm hy vọng vô biên.

Cũng cần nên biết, cả hai học trò tôi, đều đã có tác phẩm thứ nhất.

  • Công Tằng Tôn Nữ Lệ Rơi, là một TẬP THƠ.
  • Công Tằng Tôn Nữ Ướt Mi, là một tập TRUYỆN NGẮN.

Đề nghị của tôi và hai trò tôi OK:

  • Năm 2026, phải khai sinh (đẻ), đứa con thứ HAI.

Những dòng viết sau, là bằng chứng, tôi không nói dối.

*những âu yếm, mật ngọt,  hai trò trao gởi với ông thầy:

  • Thầy ơi khỏe không?

Có giờ chấm bài dùm em nữa được không?

  • Hỏi người lớn lẹ hơn. Thầy giảng nghĩa hay và dễ hiểu
  • Em được mấy điểm thầy?
  • Thầy khoan phố biển nghe. Khi nào xong nhờ thầy viết lời bạt cho em. 
  • Cám ơn thầy. Em cố gắng. Thầy có layout được không?
  • Dạ thầy, em cố gắng.
  • Sẽ cố gắng, thưa thầy.

 – Kính chúc thầy và gia đình một mùa Lễ Tạ Ơn đầy đầm ấm vui vẻ và hạnh phúc.

  • Dạ, đúng như vậy. Cám ơn thầy.
  • Liệu tôi đã có thể làm lẽ Khánh thành HỌC VIỆN VĂN CHƯƠNG LÊ MAI LĨNH, chưa hè?

Austin, Texas 

12.2.2025.

Lê mai Lĩnh

(tự khùng thi sĩ).

PHỤ LỤC

Tứ đại công khai

HỌC VIỆN VĂN CHƯƠNG LÊ MAI LĨNH.

Thông báo tuyển sinh.

Học Viện Văn Chương Lê Mai Lĩnh, tính tới nay, 2025, vừa chẳn 30 năm, khai sinh, 1995.

Trong 30 qua, vì những vấn đề tế nhị (tính khiêm nhường, tính tự tin, tài chánh, giáo trình…), nên chúng tôi vận hành trong lặng lẽ, âm thầm, nhưng có.

Chúng tôi đã có hai học viên, lúc vào, là nhà thơ, lúc ra, là thi sĩ.

Hiện, chúng tôi cũng đang có hai học viên, trong quá trình thụ huấn, chờ ngày ra trường, làm văn sĩ.

Tên của hai học viên, vì đang thụ huấn, và tế nhị, nên chúng tôi đặt bí danh:

  • Công Tằng Tôn Nữ Lệ Rơi.
  • Công Tằng Tôn Nữ Ướt Mi.

Tưởng cũng nên, hãnh diện mà giới thiệu nhà thi sĩ thứ nhất của học viện, XUÂN THIÊN VỴ.

Bà, trong thời gian miệt mài sáng tạo, ngày đêm, có một thành tích không ngờ, đã mang đến cho bà, vinh quang và giàu sang.

Trong một bài thơ của bà, ca ngợi người bạn đồng minh, đã chiến đấu với người lính Việt Nam, cho sự nghiệp chống kẻ thù Cọng sản xâm lăng.

Là một người học trò, tôi là ông thầy,  bà xin tôi góp ý.

Và tôi đã góp ý.

Tôi đề nghị bà, thay vì, đồng minh chung chung, trong đó có Thái Lan, Đại Hàn, Úc, bài thơ không đặc biệt, mà nên gọi, người lính đồng minh Hoa Kỳ, mới ăn tiền, nịnh một chút, chẳng sao.

Và quả tình, bà đã có tiền ăn.

Bà, học trò, đã cho ông thầy biết:

  • Trò dịch bài thơ sang tiếng Anh, đăng trên báo cộng đồng người Việt thành phố Philadelphia.

Bài thơ lọt vào mắt lãnh đạo hội cựu chiến binh Hoa Kỳ, thành phố. 

Họ tiếp xúc em, muốn mua bản quyền bài thơ, để khắc lên tượng đài của thành phố, khánh thành vào dịp lễ Cựu Chiến Binh, sắp tới.

Bà không tiết lộ số tiền, nhưng tôi nghe nói, là khoảng $50.000.00.

Nhưng $50.000.00, là chuyện nhỏ.

Mà chuyện lớn là, bà dùng một phần nhỏ số tiền, vận động tranh cử chức, Chủ tịch cộng đồng.

Và bà đã thắng cử, chỉ nhờ một câu nói đi vào lịch sử bầu cử, và hốt 

trọn phiếu bầu.

Trong một buổi sinh hoạt cộng đồng, chuẩn bị cho bầu cử nhiệm kỳ mới.

Sau một thôi, một hồi, cải nhau như mỗ bò, giữa các phe, các khuynh hướng, người học trò tôi, giờ đã là thi sĩ, xuất thân từ lò Học Viện Văn Chương Lê mai Lĩnh, Xuân Thiên Vỵ phát biểu:

  • Những năm đầu mới sang, các ông, làm như thế là những nhà đấu tranh chống cọng sản hàng đầu, luôn luôn trong tư thế sẵn sàng về lấy lại miền Nam, nhưng rồi thử hỏi, các ông làm được gì, tới hôm nay?

Hay, nay, các ông viện cớ già nua, không còn muốn tranh đấu nữa.

Nay, các ông, chỉ lo gom tiền già, tiền hưu, lâu lâu, khi thấy tạm đủ, các ông về nước, bia ôm, cà phê đèn mờ.

Tôi nói thật, các ông có giận, tôi xin chịu:

  • Các ông bây giờ, chỉ có cái lồn, mới làm các ông sáng mắt.
  • Một trận pháo tay, nổ rầm trời, rung chuyển Philadelphia.
  • Một tháng sau, một luồng phiếu bầu, dồn cho ứng cử viên chức chủ tịch cộng đồng, thi sĩ Xuân Thiên Vỵ.

Mười năm qua, năm nhiệm kỳ, không một ai soán đoạt được ngôi vị Chủ tịch của học trò tui.

Thế mới thấy, ngôn ngữ nước mình, giá trị làm sao, chỉ một chữ, cũng thay đổi vận mệnh con người: LỒN.

Trở lại câu chuyện lớn, vấn đề vĩ đại của HỌC VIỆN VĂN CHƯƠNG LÊ MAI LĨNH.

Số lượng học viên tuyển sinh khóa này, cũng giới hạn BỐN HỌC VIÊN.

Và là, toàn CON CẤY.

Tôi đang khẩn khoản, nếu cần quỳ lạy, tôi cũng, để mời, các tài hoa thượng thừa trong văn giới, các thi sĩ Thục Uyên, Nguyễn Nguyệt, Trần thị Cổ Tích, Nguyễn Xuân Thiệp, Việt Phương, Nguyễn Hàn Chung, Thanh Đặng, Võ Phú, Phạm Mỹ Nhung, cùng làm giám đốc điều hành, giám khảo, du lịch, với tôi.

Được vậy, số lượng học viên sẽ nhiều hơn bốn.

Thời gian tuyển sinh, 1.1.2026.

Qua một cuộc khảo hạch, những ai nhiều điểm nhất, sẽ có học bổng.

Những người trúng tuyển khác, sẽ học free.

Đề tài thi, giá trị học bổng, chờ sự quyết định của các thi sĩ nói trên, những khách mời kính yêu của Học viện.

Austin, Texas 

12.4.2025.

Lê Mai Lĩnh

*******

VANG VỌNG, từ một nỗ lực văn chương.

Thi sĩ Nguyễn Xuân Thiệp,

Sau khi đọc bài

*HỌC VIỆN VĂN CHƯƠNG Lê mai Lĩnh, 

ông đã có những lời chúc mừng và khen ngợi như sau :

  • Kính Thăm anh Lê Mai Lĩnh.

Mừng anh thành lập và điều hành thành công

Học Viện Văn Chương Lê Mai Lĩnh, trong đó nhiều thành viên là bạn của tôi.

Chúc an vui.

NXT

Thi sĩ Trần Thị Cổ Tích,

  • Bài Học Viện Văn Chương Lê mai Lĩnh hay và ngộ lắm.

Tính cách huynh, vui vẻ, hào hoa, hào phóng, đa tài, đa tình, huynh thành công, không ai ngạc nhiên.

Thi sĩ Nguyễn Hàn Chung,

  • Không ngạc nhiên về Học Viện Văn Chương Lê mai Lĩnh, từ ngòi bút tài hoa, hiếm hoi của sinh hoạt văn chương Hải ngoại.

Bài Mới Nhất
Search