Tranh: Mariya Bogdanova (Nguồn: www.singulart.com)
Thoạt đầu tôi định viết,
Từ cái tôi đáng ghét, tới sự dũng cảm của một người đàn bà.
Nhưng tôi lại nghĩ, dũng cảm cho một lựa chọn, giữa những cam go, trùng điệp hiểm nguy, thì sự lựa chọn đó, còn mang ý nghĩa của một sự Thách thức.
Mà Thách thức, là một thái độ hiên ngang, kiêu hãnh, bất sá.
Vậy sao không là, vinh danh sự Thách thức, lên tầm Vĩ đại.
Đó là lý do tôi chọn tựa đề cho bài viết:
Từ cái tôi đang ghét, tới sự Vĩ đại của một người đàn bà.
I. Cái tôi đáng ghét.
1/ tình là tình, là cái chi chi.
Tôi bày đặt cái trò biết “yêu quỷ”, từ hai năm cuối tiểu học.
Năm đó tôi 12 tuổi, cô bé bị tôi yêu, 10.
Tôi nhớ, và có lẽ, chỉ tôi và cô còn nhớ, ngoài ra, không có ai nhớ, vì chuyện đã xưa, hơn 70 năm.
Một lớp hè, gần nhà cô và nơi tôi trọ học.
Tôi viết thư cho cô, tôi không trao tay, trao tay, không thuộc đẳng cấp của thi sĩ, mà tôi biết, mình, là một thi sĩ, sẽ là, nên tôi đọc cho cả lớp cùng nghe.
Phải như rứa, mới là đẳng cấp thi sĩ, “ sẽ là “. A would-be-poet.
Cái tôi quên, không còn nhớ, là, mặt cô, thẹn thùng ra sao, mặt tôi, dày bao nhiêu, milimet.
Có điều, 32 năm ra hải ngoại, hai tôi, hai lần chộ nhau, nhiều lần thư từ qua lại.
Mỗi năm sinh nhật cô, tôi đều lễ phép, ngoan ngoãn, gởi thiệp chúc mừng.
Lần chót, năm rồi, cô nhắn tin cho tôi:
- Anh đừng gởi sách cho em nữa, hai mắt em, không còn đọc được.
Cảm ơn bạn, những tình cảm bấy lâu, bạn dành cho mình.
Cô làm tôi khóc mấy đêm.
Nàng định cư bang Washington.
Sang Mỹ diện HO, vài năm sau, ông xã qua đời.
Đôi mắt nàng như đôi mắt nàng bồ câu.
Nhưng đến năm vào lớp đệ thất, trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị, thì tôi yêu khôn hơn, không viết thư đọc trước toàn trường, nhưng làm thơ tỏ tình, với người đẹp Bích La thôn, cho toàn trường đọc.
- Thu Thuỷ, tên em sao đẹp quá!
Đó là câu thơ đầu tiên, khai mở cái gọi là, sự nghiệp văn chương của tôi.
Thơ tôi làm, đăng lên tờ bích báo, dán lên khung gỗ, nơi cầu thang lên lầu, thế là toàn trường biết chuyện, tầm bậy tầm bạ của tui.
Nàng, cùng người chị, từ quê, lên trọ học, nhà người bạn tôi, gần nhà tôi.
Tôi, ba mũi giáp công, trong đó, mũi chính là, chinh phục tình cảm người chị.
Mũi thứ hai, đêm đêm, tôi đi hái trộm hoa dạ lý hương, về cắm lên khung cửa sổ nhà em trọ học, như tôi có nói trong một bài thơ tôi viết cho nàng, trước ngày rời quê, chạy trốn.
Mũi thứ ba, ly kỳ, lãng mạn, không ai làm được, khó có ai, như Khùng thi sĩ.
Nhà hai chị em nàng trọ, là nhà người bạn học với tôi và nàng.
Nên mỗi đêm, nhiều lần đêm, tôi kéo các ông bạn có máu văn nghệ, đến sân nhà, thường là, đêm trăng sáng, tổ chức đọc thơ, mà tiếng thơ tôi đọc, ma, quỷ, cũng đội mồ dậy nghe, huống chi là, cô gái quê, vừa qua dậy thì, mấy năm.
Có lẽ hương thơm hoa dạ lý, cùng tiếng thơ, áo não, lâm ly, rùng rợn của tôi, nàng phê, nàng bắn tiếng, qua người bạn, cho tôi một cuộc gặp, tại nhà người bạn của hai tôi, gần cầu Ga, Quảng Trị.
Trở lại những đêm thơ.
Bấy giờ, những năm đầu thập niên 1960, thơ Xuân Diệu là vứt, thơ Hàn mặc Tử, Bích Khê, Vũ hoàng Chương, Đinh Hùng, là đồ cổ, dẹp.
Mà, phải là thơ Nguyên Sa, Hoàng anh Tuấn, Quách Thoại, Thanh tâm Tuyền…
Phải là:
Không có anh lấy ai đưa em đi học về,
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học,
Ai lau nước mắt cho em ngồi khóc,
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa.
.
Những lúc em cười trong đêm khuya,
Lấy ai nhìn những đường răng em trắng,
Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh,
Lúc sương mờ ai thở để sương tan.
.
Ai cầm tay cho đỏ má hồng em,
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc…
Không có anh nhỡ một mai em khóc,
Ánh thu buồn trong mắt sẽ hao đi.
.
Tóc sẽ dài thêm mớ tóc buồn thơ,
Không có anh thì ai ve vuốt.
Không có anh lấy ai cười trong mắt,
Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong,
.
Ai cầm tay mà dắt mùa xuân,
Nghe đường máu run từng cành lộc biếc.
.
Không có anh nhỡ ngày mai em chết,
Thượng đế hỏi anh sao tóc em buồn,
Sao tay gầy, sao đôi mắt héo hon,
Anh sẽ phải cúi đầu đi về địa ngục…
Nghĩ liều lượng thơ như thế, chưa đủ đô, tôi thêm vào:
Anh trân trọng mời em dự chuyến tàu tình ái,
Trong một phút, một giây, cuộc hành trình sẽ mở,
Tôi mời em, trân trọng mời em,
Cùng đi, cùng khai mạc cuộc đời.
.
Tôi mời em đi ngay,
Không cần lấy vé, không phải đợi chờ,
Vì điều kiện du hành, là những ngón tay lồng vào nhau,
Của những tâm hồn đơn chiếc.
Đến đây, tôi thấy hai chị em nàng, thấp thoáng trong của sổ, tôi chuyển tông:
Một buổi sáng thức dậy, không thấy em, tôi chạy ra cửa sổ, gọi tên em rất to,
Những tiếng kêu, thất thanh vang trên hè phố,
Tôi bảo rằng, em phải về ngay.
Nếu em là gió, anh sẽ là mây,
Nếu em là mây, anh sẽ làm gió thổi.
Có lẽ hai chị em nghe nói, anh sẽ làm gió thổi, hai chị em sợ quá chăng, nên đã nắm tay nhau đi qua nhà ông cậu gần đó.
Buổi đọc thơ chấm dứt, tôi đâu dại, đọc cho người khác nghe.
Nói về cuộc hẹn.
Nàng bên Việt nam, nhưng chơi, rất, American, nàng cho biết trước một tuần.
Tuần lễ đó, tôi đứng ngồi không yên, ngay cả, sau khi bộ đồng phục quần xanh dài, đã gấp bỏ dưới gối cho thẳng , nhà nghèo không dùng ủi, áo móc vào cái đinh đóng vào cột, có cuốn miếng giấy, cho khỏi rét.
Một tuần, tôi ra ngẩn, vào ngơ.
Một tuần, tôi nghĩ, có lên đoạn đầu dài, cũng không lo lắng bằng.
Sáng đúng hẹn, tôi lên đường sau khi ăn ổ mì xíu mại, mà mọi ngày never có.
Đến nhà người bạn, bạn tế nhị, cho hai tôi ngồi bàn phòng khách.
Không có bắt tay, đâu nhé.
Càng không có hôn nhau, đâu nhé.
Cười thì có, là sướng lắm rồi.
Tôi mở lời, trong suy nghĩ, đánh nhanh, rút lẹ.
Tôi nói, như Thủy biết, đã bốn năm rồi, tôi yêu Thuỷ.
Nên nay, mẹ tôi định cho tôi vào Nha trang, ở với gia đình bà dì và kèm học, cho mấy cháu.
Tôi muốn biết, nếu Thuỷ chấp nhận tình yêu của tôi, tôi ở lại đây, bằng không, tôi bỏ quê ra đi.
Tôi hồi hộp chờ đợi.
Sau đây là tiếng nói của nàng.
Em nghĩ mình còn nhỏ, nên chưa tính chuyện đó, em phải còn lo học, cho cha mẹ vui lòng.
Giá gì lúc đó, tôi có phép tàng hình, tôi đã độn thổ.
Rút lui, tẩu vi thượng sách.
Hẳn nhiên tôi còn tỉnh táo, cười (như mếu) và cúi đầu chào nàng.
Hai tuần sau, mấy người bạn thân, đưa tôi vào Huế, vào Nha Trang, qua ngã sân bay Phú Bài.
Đêm cuối cùng, bạn tôi cho ngủ đò trên sông Hương, dưới cầu Trường Tiền.
Đêm đó, cô gái bán hội vịt lộn, ăn trộm, thanh xuân tôi.
Vào Nha trang, mỗi tuần, tôi viết cho Thủy hai lá thư, vị chi 8 lá mỗi tháng.
Mấy tháng sau, ty bưu điện gởi cho tôi một giấy thông báo, đem tiền tới nhận thư phạt.
Thư của Thủy. Cục vàng của tui.
Nàng nói, trong đó, chắc có nhiều cô đẹp hơn nàng, nàng là gái quê, tôi nên quên nàng đi.
Một năm sau, tôi lo chuyện xuất bản tập thơ đầu tiên, NỖI BUỒN NHƯỢC TIỂU và tôi đã không còn liên lạc với cục vàng của tui.
Sau khi qua Mỹ, có đôi lần tôi gởi quà tặng nàng, đến lần thứ ba, nàng nhắn sang, các con đã trưởng thành, hai vợ chồng em, tiền hưu sống thoải mái, anh đừng gởi nữa.
Tôi y lệnh.
Nhân dịp này, tôi có nhắc món tiền nợ đóng, để nhận thư phạt, tới nay đã 63 năm.
Nợ mẹ sinh nợ con, tới nay, là $1.000.000.00, bao giờ em thanh toán.
Nàng hứa trả khi nào trúng số, bằng không, hẹn kiếp sau gặp nhau, nàng sẽ nạp mạng, làm nàng thơ của thi sĩ, chứ không làm vợ, thi sĩ khùng.
Sau đây là bài thơ tôi làm cho nàng 33 năm trước lúc rời nước.
Và cả em nữa, làm sao tôi không nhớ,
Chính em đó, làm sao tôi có thể quên.
Những đêm Nguyễn Hoàng, Thạch Hãn, đầy trăng,
Tôi đã đi bộ hàng mấy cây số đường làng,
Qua những lũy tre, bờ dậu, đến nhà ông Lê Chí Khiêm,
Hái trộm những cành hoa dạ lý hương,
Về cắm lên khung cửa sổ nhà em trọ học.
Đó là mùa hè năm 1962.
Và cũng từ đó, tôi mất em do nỗi ngu ngơ, dại khờ của tôi,
Và cũng từ đó tôi ra đi,
Chia tay Nguyễn Hoàng Quảng Trị.
Buổi lên đường, trong trái tim tôi em là kỷ niệm,
Em là kỷ niệm đẹp nhất thời thơ ấu của tôi.
Cảm ơn em. Cảm ơn em. Cảm ơn em.
Em ở đâu, giờ này tôi biết,
Tôi cầu mong em hạnh phúc,
Và được yêu, như tôi đã yêu em
2/ Thơ tôi hay, vì mỗi bài thơ là một truyện ngắn.
Tôi biết thơ tôi hay, từ ngay khi bài thơ làm ra.
Chỉ bốn câu đầu, tôi đã quyết định số phận của nó, cho sống hay là chết.
Người mẹ, có thể không biết về người con, nhưng nhà thơ, thi sĩ, phải biết về bài thơ của mình làm ra.
Người con, có thể thay đổi hình tướng, lúc sinh ra đẹp, lớn lên xấu và ngược lại.
Nhưng bài thơ đã xấu (dở) không thể hay về sau.
Chỉ bốn câu thứ nhất, tôi đoán biết số phận nó.
Tôi treo cổ, tôi cho vào lò thiêu, không loại trừ, thủy táng.
Do vậy, bài thơ nào, tôi cho sống, là sống hiên ngang, nó phải làm vui lòng, nhà văn Phạm ngũ Yên, nhà thơ Nguyễn Nguyệt, nhà thơ Thanh Đặng, giáo sư Đặng Thông, và nhiều người khác, là những người, đã khen ngợi thơ của Khùng thi sĩ, hàng trăm tác giả thời danh, chứ không ít.
Thơ tôi hay, vì thơ tôi làm cho giới hạ lưu, bình dân, dễ hiểu, đọc, là hiểu liền.
Thơ tôi, đa phần là thơ tranh đấu, thơ khẩu hiệu, thơ xuống đường.
Thơ tôi, không trung lưu, như thơ Thụy Sơn, hay thượng lưu, như thơ Hoàng Xuân Sơn.
(tôi sẽ có bài viết khác, nói rõ hơn)
Thơ tôi, của anh nông dân, chị công nhân, là cái búa, gõ lên đầu kẻ độc tài, phản dân, bán nước.
Thơ tôi, rất tham vọng, đem hạnh phúc tới muôn dân.
Mỗi bài thơ tôi, là một truyện ngắn, một bài luận văn, có nhập đề, thân bài, kết luận.
Từ câu đầu tới câu cuối, từ đoạn thứ nhất đến đoạn sau cùng, ý tưởng thông suốt, có chủ đề mạch lạc.
Bốn câu đầu, thường là nhập đề, bốn câu chót, là kết luận.
Phần giữa, tùm lum, tà la, như nồi lẩu seafood, chính chúng là thân bài.
Bạn không tin ư, bạn hãy vào vương quốc thơ tôi, bạn tóm đầu, bất cứ, thằng, con thơ nào, bạn sẽ thấy, điều tôi nói, cấm sai.
3/ Vậy tôi là nhà thơ hay thi sĩ?
Có hai người, họ không cho tôi làm thi sĩ, hay họ nghi ngờ tôi, trong vai trò là thi sĩ, khả năng làm thi sĩ.
+ Người thứ nhất là nhà thơ Trần Yên Hoà.
Khi viết về tôi và thơ tôi, ông viết như thế này:
Tác giả đã tự mình cho mình là thi sĩ, mà theo quan niệm của tôi, một tác giả dù có nổi tiếng đi nữa, chẳng nên tự cho mình là nhà văn, nhà thơ (thi sĩ) cả.
Nếu một tác giả có làm thơ hay, hay viết văn hay, chỉ các nhà phê bình văn học hay độc giả (người thứ ba), sẽ gọi họ nhà văn hay nhà thơ (thi sĩ).
Tự phụ cho mình danh xưng “cao quý” ấy, tôi thấy nó “kỳ kỳ”, nổ.
Xin lỗi tác giả nhé.
Nhà thơ Trần Yên Hoà.
Người thứ hai, nhà thơ Nguyễn văn Ngọc, ông viết :
ông là cây bút đa dạng, viết nhiều thế loại, như: Thơ, truyện ngắn, kịch, tiểu luận, bút chiến, phê bình văn học, bình luận chính trị, nên rất khó mà gọi ông là nhà văn hoặc nhà thơ một cách chính danh như hầu hết những tác giả khác, chỉ chuyên sáng tác trên một lãnh vực.
Rải rác trong những tác phẩm tim, óc của mình, độc giả nhiều lần bắt gặp đâu đó, ông-tự- nhận-mình-là-thi-sĩ.
Thôi thì, để tiện cho một danh xưng, trong bài viết ngắn này, tôi sẽ gọi ông là nhà thơ Lê Mai Lĩnh.
( Lê mai Lĩnh và bài thơ: Mùa đông đi cấy ruộng sinh)
Tôi hùng dũng nói ngay, nói liền: hai ngài nói sai be bét.
Nhưng tôi sẽ không nói mô, ra.
Nói ra, rất dễ mất đoàn kết, trong khi chúng ta cần đoàn kết, về nhận lại Sài Gòn, khi việt cộng chuẩn bị chạy, tè trong quần.
Nhưng tôi sẽ nói, nếu các ngài có nhu cầu, muốn tiếp thụ, những lời vàng, ý kim cương, nhưng….
Nhưng, cũng nói ngay và liền, là phải trả tiền soạn giáo án, lên lớp, y phục, giày, mũ, cra-oach, cà phê, khỏi thuốc lá.
Cũng có thể, giá trọn gói, mão, one million.
Nói thi sĩ là một danh xưng “cao quý”, vậy nhà thơ, là gì, chẳng lẽ là hòn, hột, dái, le.
Phân biệt giai cấp trong văn học, ông Trump, sẽ đánh thuế, đó nghe.
Thực ra, nhà thơ hay thi sĩ, đều same same, vị trí và đẳng cấp, chỉ khác nhau là âm thanh, bằng, trắc.
Nhà thơ, hai chữ đều vần bằng, gây cảm giác êm dịu, thoải mái, thống khoái, như đang đi trên con đường bằng phẳng, như khi chiến đấu trên một chiếc giường có nệm, dễ cho ta cực đỉnh.
Còn thi sĩ, ngay chữ thi, dù vần bằng, nhưng âm thanh như trắc, tiếp theo sĩ, là trắc.
Hai vần trắc tiếp nhau, lạo xạo, lởm chởm, như leo núi, như nằm trước hang cua, ghẹ.
Một cái giường lúc lâm trận, mà toàn vần trắc, thì khó mà than và thở, Ô-mê-ly-đời-ta.
Bảo rằng , thi sĩ, danh xưng “cao quý” hơn nhà thơ, vậy sao trong văn chương, đời thường, người ta vẫn thường gọi, nhà thơ Nguyễn Trãi, nhà thơ Tản Đà, nhiều hơn là thi sĩ Tản Đà hay thi sĩ Nguyễn Trãi.
Ngay cả Nguyễn Du, người ta cũng thường gọi, nhà thơ hay thi hào, chứ không gọi, thi sĩ Nguyễn Du.
Lê mai Lĩnh, nhà thơ hay thi sĩ, chuyện nhỏ như con thỏ, bắt bẻ làm cái chi mô rứa nà.
Cái quan trọng là thơ của nó, có hay nhức nách, có làm người đọc mê thò lò hay không.
Thơ làm ra, có tạo cho mình nét riêng, độc đáo, không giống ai, như trong nước có Thụy Sơn, Như Không, Nguyễn hữu Thụy, Lê văn Trung, Hồ trung Chính, My Thục.
Hải ngoại, Trần trung Đạo, Thanh Đặng, Nguyệt Nguyễn, Phương Tấn, Hạ quốc Huy và tui.
Lại nữa, căn cứ vào đâu, luật lệ, luật pháp, hiến chương, nào nói, cho phép, chỉ các nhà phê bình văn học, mới có quyền, thừa nhận, chức danh nhà văn, thi sĩ, thi sởi, cho người cầm bút.
Thấy chưa, sai be bét, rồi.
Binh nhì lên binh nhất, vài tháng, binh nhất lên hạ sĩ, cũng không lâu.
Chuẩn úy lên thiếu úy, 18 tháng.
Thiếu úy lên trung úy, 24 tháng.
Lẽ nào một nhà thơ 66 năm, không lên được thi sĩ, hì hì and hì hì.
Thôi.
Không nói thêm.
Nói dài, nói dai, không khéo nói dại, làm mất tình, chén, ly, mồi, hữu.
II. Sự Vĩ đại của một người đàn bà.
Lẽ nào tôi phải nói lời cảm ơn hai ông, Lê Duẫn, Đỗ Mười.
Nhờ lời tự thú của hai ông, giúp tôi nhìn rõ bản chất cuộc chiến.
Hóa ra là, ngày 30/4/975, là ngày, vâng lệnh quan thầy, Liên Sô, Trung Quốc, ông Lê Duẫn, ban lệnh xâm lăng miền Nam, trong thân phận lính viễn chinh, đánh thuê, trên chính quê hương mình, là quân Bắc phương.
Sau đó là, lệnh Đỗ Mười, vào thu gom chiến lợi phẩm Cướp, Hiếp, Giết.
Nhờ vậy, tôi có bài nhận xét chính xác, cáu cạnh.
Và từ bài viết đó, giúp nàng ca sĩ, chứng tỏ sự can đảm, dũng cảm của mình, mà, nhiều đấng mày râu, im re, không có chút ý kiến, ý cò.
Tôi không trách họ, tôi thông cảm.
Trên tất cả, phải tồn tại, nên, nín thở qua sông, là cần thiết.
Tôi có một cậu em, là nói về tuổi tác, chứ khía cạnh văn chương, tôi phải cúi đầu bái phục chú.
Có lần chú nói với tôi, em thấy em hèn, mong anh thông cảm cho hoàn cảnh em và anh em bên nhà.
Nhiều bài anh viết hay, hay lắm, nhưng bọn em không dám like, ý kiến.
Vậy mà, người đàn bà ca sĩ, vẫn like, like tưới hạt sen.
Hoan hô em, Tí tách Sông.
Sông=Hà.
8/4/2025.
Lê Mai Lĩnh.
