Nhã Ca là một bầu trời văn thơ bàng bạc nét u buồn, một ngòi bút tiểu thuyết sắc sảo nhưng đẫm tình người. Đọc văn của bà, người ta không chỉ đọc những con chữ, mà như đang lắng nghe tiếng thở dài của một tâm hồn nhạy cảm trước bể dâu khốn cùng của cuộc đời trên quê hương khói lửa.
Từ những tác phẩm hồi ký đẫm nước mắt từ ngòi bút của Nhã Ca luôn bám chặt vào mảnh đất hiện thực, nơi con người phải đối diện với mất mát, chia lìa, nhưng vẫn giữ lại được sự rung cảm nguyên sơ nhất của lòng trắc ẩn. Quê hương trong trái tim của bà không chỉ là một đô thị tấp nập, mà là một không gian tâm tưởng, nơi lưu dấu những bước chân tuổi trẻ, những mối tình chớm nở rồi vội vã phôi pha trong chiến tranh. Bà viết về người phụ nữ Việt Nam với tất cả sự thấu cảm sâu sắc nhất. Những người vợ, người mẹ, những cô gái ngây thơ bị cuốn vào cối xay của lịch sử, mang trên vai gánh nặng của chờ mong và niềm ly biệt. Mỗi nhân vật của Nhã Ca đều như một mảnh vỡ gương soi, phản chiếu chính những góc khuất tâm hồn của một thế hệ từng đi qua sự khốn cùng, đau khổ với những hoài niệm khôn nguôi về một thời dâu bể của lịch sử và văn chương. Nhắc đến Nhã Ca là nhắc đến một bản lĩnh kiêu hãnh như lời nhà văn Võ Phiến từng nhận chân – “một người đàn bà dám sống tận cùng với tự do, dám chọn lựa và chịu trách nhiệm đến cùng với con đường đời, con đường chữ nghĩa của mình. Nhưng đỉnh điểm của định mệnh, của tài năng và sự dấn thân đau đớn ấy, lại gắn liền với một cột mốc lịch sử khốc liệt nhất”
Mậu Thân 1968 và kiệt tác phẩm Giải Khăn Sô Cho Huế, đã hứng lấy bom đạn trút xuống mảnh đất cố đô Huế không chỉ phá hủy những đền đài lăng tẩm rêu phong, mà còn xé nát tâm can của biết bao con người. Giữa khói lửa chiến tranh khốc liệt, khi cái chết cận kề và tang tóc trùm lên từng mảnh đất thân yêu; Nhã Ca đã có mặt ở Huế. Bà chứng kiến tận mắt những hố chôn người tập thể, những vành khăn tang trắng ngợp trời, và tiếng khóc xé lòng của những người mẹ, người vợ mất chồng, mất con.
Chính nỗi đau đớn tột cùng của quê hương, của những mảnh đời bất hạnh chìm trong tang tóc đã là vết chém vào tận cùng tâm khảm của người cầm bút. Bà viết Giải Khăn Sô Cho Huế không chỉ bằng mực, mà bằng nước mắt, bằng máu thịt và sự phẫn nộ của một nhân chứng sống trước tang thương của đồng loại. Cuốn sách ra đời như một tiếng kêu thương xé rách màn đêm, một bản án đanh thép cho sự tàn khốc của chiến tranh, đồng thời là một đài tưởng niệm dành cho những nạn nhân vô tội. Đọc lại trang sách ấy, người ta không thể không rùng mình trước hiện thực quá đỗi đau thương, nhưng cũng ngẩng cao đầu trước lòng can đảm của một ngòi bút dám đối diện với sự thật bằng tất cả sự chân thành và xót xa.
Thời gian trôi qua, bụi mờ của năm tháng có thể phủ lấp nhiều thứ, nhưng những giá trị tinh túy mà các thế hệ văn nghệ sĩ tiền bối để lại vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm những ai trân trọng quá khứ. Nhã Ca, với tất cả tài năng, sự kiên cường và tấm lòng gắn bó với văn chương nghệ thuật, đã tạc vào lòng người đọc một dấu ấn khó phai.
Hơn nửa thế kỷ miệt mài với từng con chữ, tận hiến cho văn học miền Nam Việt Nam, Nhã Ca là một người phụ nữ tài hoa mà kiên cường. Để rồi cách đây bảy năm, cũng vào tháng mười đầy kỷ niệm ấy, bà đưa ra một quyết định bẻ bút, khép lại hành trình sáng tác dài đằng đẵng của mình. Cái ôm ấm áp dành cho bà lúc ấy không chỉ là sự trân trọng, mà còn là sự thấu cảm sâu sắc dành cho một tâm hồn đã sống hết mình cho văn học.
Những trang sách của Nhã Ca, dù trải qua bao thăng trầm, vẫn mãi nằm lại ở đó như một minh chứng sống về lòng yêu nước, tình người và sự tự do đích thực trong văn chương.
Lê Xuân Trường
*Bài do CTV/TVBH gởi.
