Tàn Tuyết: THÀNH PHỐ KHÓI MÙ

Thành Phố Khói Mù (China)

THÀNH PHỐ KHÓI MÙ

Thành phố chúng tôi tên là Thành phố Khói Mù. Tôi sáu mươi tám tuổi. Khói mù không phải cùng một lúc tràn vào thành phố.

Tôi nhớ hồi còn nhỏ, ông tôi thường nói với tôi: “Đừng khóc—khi ánh ráng chiều hiện ra, khắp nơi sẽ sáng bừng.” Ông nói thế bởi mỗi buổi chiều, những người nông dân quanh thành phố đốt đất để khai phá. Khi khói đặc trôi vào thành phố, tôi bắt đầu khóc lóc om sòm. Nhưng khi ráng chiều xuất hiện trên trời, khói mù biến mất. Đốt đất làm nông chỉ là việc theo mùa, nhưng sau khi nông dân ngừng đốt đất, thứ khói mù chẳng biết từ đâu đến lại ở lì trong thành phố chúng tôi suốt ngày đêm.

Ban đầu, nó chỉ thưa thớt trong không khí. Suốt nhiều năm, chúng tôi thậm chí còn quen với nó, bởi con người có thể quen với bất cứ thứ gì. Đúng vậy, chúng tôi cảm thấy trong mắt mình có một thứ không thuộc về nơi đó, và thị lực hơi mờ đi. Chẳng có gì to tát. Vả lại vẫn còn ráng chiều, cho phép chúng tôi nhìn thấy thành phố vốn có hình dáng ra sao. Thế nhưng theo thời gian, khói mù ngày càng đặc, ráng chiều cũng dần dần mờ đi. Khi tôi khoảng ba mươi lăm tuổi, ráng chiều không còn xuất hiện nữa.

Trong làn khói mù dày đặc, chúng tôi không thể nhận rõ khuôn mặt của những người chỉ cách mình sáu, bảy mét. Không còn mặt trời lặn, nhưng bố mẹ và tôi (lúc này ông tôi đã qua đời) vẫn có thể cảm nhận được mặt trời. Khi đứng trong sân trước, chúng tôi luôn có thể quay mặt về phía tây và cảm thấy hơi ấm. Khói mù ngăn ánh sáng, nhưng không ngăn được sức nóng.

Không ai bình luận xem thứ khói mù chẳng biết từ đâu đến ấy là tốt hay xấu cho thành phố, hay cho chúng tôi. Nó đến rồi ở lại, và con người chấp nhận nó như chấp nhận không khí. Khói mù mỗi năm một dày hơn, cuối cùng những ngôi nhà, những bóng người và ô tô trên đường phố ngày càng trở nên mờ nhòe. Tuy nhiên, đó không phải trở ngại lớn, miễn là con người giảm nhịp sống của mình xuống. Xe cộ bắt đầu chạy với tốc độ gần bằng người đi bộ, còn những người đi trên đường trông như những con rùa đang bò.

Khí quản và phổi của con người dần dần quen với khói mù đến mức họ chấp nhận nó như không khí bình thường, để nó lặng lẽ đi qua cơ thể mình, không gặp chút cản trở nào.

NGÀY CỦA DÌ VƯƠNG

Tôi là Dì Vương ở Thành phố Khói Mù. Thành phố Khói Mù là một con sông rộng, còn tôi là một chiếc phà trên con sông ấy. Tôi bắt đầu nghĩ Thành phố Khói Mù là một con sông lớn từ năm năm trước. Chẳng phải rất thích hợp sao?

Nói về tôi, sáng ngủ dậy là tôi đi làm ngay, làm không ngừng nghỉ, chở từng đợt người này sang đợt người khác qua sông đến bờ bên kia. Trong buổi sáng mù mịt, chẳng ai nhìn thấy ai; họ chỉ nhìn thấy những bóng chuyển động lờ mờ. Tôi phải hét lên, cho nên lúc nào cũng khàn giọng. Có khi tôi hét mà chẳng phát ra tiếng.

Cầu phao nối với phà rung dữ dội, có người rơi xuống. Một tiếng thét chói tai vang lên.

Ai rơi?

Không ai nhìn thấy.

Có lẽ chẳng có ai rơi cả, mà đó chỉ là màn kịch của cuộc sống thường nhật.

“Cháu yêu Dì Vương,” cô bé lẩm bẩm. “Bốn mùa thay đổi, mùa đông lại đến, nhưng dì không bao giờ lộ diện. Cháu ngồi trên phà nhìn dòng sông như một người mù—không thấy người, không thấy cầu, không thấy bầu trời.”

Tôi không chỉ đường, bởi chẳng có tuyến đường nào. Tôi dùng còi báo động để đánh thức mọi người. Họ ngủ quá say trong khoang.

“Này, dậy đi! Dì Vương bảo mọi người di chuyển ngay! Đi theo đám đông, đừng nhìn quanh, nhấc chân lên cao.”

Đám đông bắt đầu cựa quậy, rồi từ từ thành hàng. Một khi đã đi thành hàng, khả năng ngã xuống sông sẽ rất thấp.

Tôi luôn tự hỏi: họ đang nghĩ gì? Hay là họ chẳng nghĩ gì cả?

Về sau tôi có câu trả lời. Lần lượt, ba cô gái nói với tôi rằng họ chẳng nghĩ gì ngoài việc nhấc chân lên và nhìn thẳng về phía trước.

Phía trước có gì?

Chẳng có gì.

Chỉ có những tấm lưng xám xịt của những người đồng hành. Viền những tấm lưng ấy lởm chởm, nham nhở, như thể đã bị gió sông làm vỡ vụn. Các cô gái đứng trên cầu phao nói chuyện với tôi, tiếng cười của họ trong trẻo như chuông. Họ không nhìn thấy tôi.

Một số người đàn ông trung niên trong khoang phà vô cùng lo lắng. Họ không nhìn dòng sông mà nhìn bụng mình, như thể trong đó có một động cơ. Những người đàn ông trung niên này không thích nói chuyện với nhau; họ luôn nói chuyện một mình. Tôi có thể nghe thấy họ nói gì, nhưng không muốn nghe.

Họ thường nói về thức ăn: hôm nay có cá, hôm qua có củ cải, ngày mai sẽ có cà chua, vân vân. Chẳng trách họ cứ nhìn bụng mình mãi. Có lẽ họ muốn nhìn thức ăn đang di chuyển qua đó.

Họ bướng bỉnh và ngạo mạn. Họ vừa lẩm bẩm một mình vừa ngủ quên. Khi tôi thổi còi lúc cập bờ, họ cũng không tỉnh. Tôi phải chạy vào khoang, mắng họ. Chỉ lúc ấy họ mới ngơ ngác tỉnh dậy.

Khói mù trong khoang dày đến mức người ta không thể nhìn rõ mặt nhau, chỉ có thể nhận ra bạn đồng hành bằng cách chạm vào người và nghe giọng nói. Con tàu dừng lại với một tiếng va chạm. Họ coi đó là tín hiệu, liền đứng dậy, thu dọn đồ đạc, chuẩn bị xuống tàu.

Chỉ có thị lực của tôi là không bị khói mù ảnh hưởng, nên tôi có thể thong thả quan sát những bóng người cô độc ấy.

Không, họ không cô độc, nhất là những người đàn ông trung niên này, những người chắc chắn đang giao tiếp với nhau bằng một phương thức nào đó mà không ai khác nhìn thấy. Mỗi người dường như đều một mình, nhưng họ lúc nào cũng ở bên nhau, không hề tản ra.

Kìa, bây giờ họ đang lên bờ, cùng ngầm hiểu mà đi về phía quảng trường.

Buổi trưa thật dễ chịu. Phòng máy yên tĩnh. Tôi ăn suất cơm mua mang về từ một nhà hàng bên bờ; có tôm, trứng, súp lơ và những quả ớt nhỏ. Tôi chậm rãi thưởng thức, chăm chú lắng nghe những hoạt động trong Thành phố Khói Mù.

“Dì Vương, dì đã bao giờ thấy một con cá trắm cỏ không có mang chưa?”

Giọng một đứa trẻ vang lên ngoài hành lang trước cửa.

Tôi mở cửa, nhưng chẳng thấy đứa trẻ nào. Tôi hỏi nó ở đâu. Không ai trả lời.

Trên bờ, Thành phố Khói Mù đang chuyển động. Mặc dù con người không nhìn thấy nhau, trái tim họ lại liên kết với nhau. Bây giờ họ đang lo lắng, có người huýt sáo thật to. Họ sôi sục, và tôi vui mừng trước sự nhiệt tình ấy.

Tôi biết buổi tối họ sẽ tụ tập bên sông, mỗi người quay mặt về phía ráng chiều vô hình. Đôi mắt là thứ thừa thãi: họ có thể cảm nhận ráng chiều bằng làn da trên mặt.

Mặt trời…

Bây giờ tôi cần chợp mắt một lát, vì chẳng bao lâu nữa hành khách sẽ lại đến.

Trong mơ, đứa trẻ cứ hỏi tôi về cá trắm cỏ. Đúng là một đứa trẻ dai dẳng! Hình như tôi đang trả lời những câu hỏi của nó, nhưng chỉ bằng những câu hỏi ngẫu nhiên của chính mình. Tôi không chú ý đến câu trả lời của nó, chỉ tập trung vào giọng nói.

Tôi biết nó là đứa trẻ của mặt trời.

Nó mang hơi ấm vào giấc mơ của tôi.

Chẳng bao lâu đã đến giờ hành khách lên phà. Tôi dọn dẹp phòng điều khiển máy rồi đi vào khoang. Tôi ngồi vào giữa dãy ghế hành khách. Khi họ bước vào, tôi cúi đầu.

Xung quanh tôi là mấy học sinh trẻ, tất cả đều khe khẽ hát cùng một giai điệu hành khúc. Có phải họ hát để phấn chấn tinh thần và xua tan nỗi sợ?

Tôi ngồi bất động. Rồi họ ngừng hát.

“Dì Vương, dì đã bao giờ nhìn thấy mặt trời mọc chưa? Dì kể cho chúng cháu nghe được không?” Cậu bé bên cạnh nài nỉ.

“Đó là chuyện lâu lắm rồi. Nó không tuyệt vời như các cháu tưởng đâu,” tôi thì thầm.

“Nhưng chúng cháu muốn biết,” ba cậu bé đồng thanh nói.

Tôi im lặng một lát, còn chúng kiên nhẫn chờ.

“Ngày xưa, khi Thành phố Khói Mù chưa có khói mù, đây là thế giới của lửa. Ý tôi là ban ngày. Ngày và đêm ngày trước phân biệt rất rõ, và lựa chọn cũng không khó. Chẳng hạn, tôi thích sự hồi hộp, cho nên cả ngày tôi ở trên phà.”

Nói xong, tôi không nói thêm.

Tôi chờ chúng hỏi, nhưng chúng cũng im lặng.

Tôi chỉ vừa đủ nhìn thấy cậu bé thấp người bên cạnh. Thị lực của tôi đột nhiên mất đi.

Có lẽ lời tôi nói đã khiến bọn trẻ bắt đầu mơ mộng? Có phải chúng khao khát cảm nhận năng lượng của mặt trời?

Dĩ nhiên tôi nhớ mặt trời buổi sáng, nhớ ánh rạng đông. Nhưng phong cảnh ấy bây giờ đối với tôi quá đơn giản, mà tôi không thích những thứ quá đơn giản.

Tôi cảm thấy những chàng trai trẻ đã hiểu điều tôi nói.

Chuyện xảy ra sau đó khiến tôi ngạc nhiên, bởi chúng lặng lẽ rời đi và trốn vào đâu đó. Tôi sờ dọc theo hàng ghế, rồi sờ ngược trở lại. Cả hàng ghế trống không.

Những đứa trẻ này rất thông minh, xứng đáng làm cư dân của Thành phố Khói Mù ngày nay.

Tôi đột nhiên xúc động.

Là vì tôi, hay vì chúng?

Khi con thuyền êm ả lướt trên mặt nước, những cậu bé trốn vào một góc, nhớ lại những điều về mặt trời mà chúng chưa từng trải nghiệm.

Khi một nhóm người khác bước vào, tôi lấy lại được thị lực, có lẽ vì tiếng còi.

Họ mặc quần áo sặc sỡ như những người biểu diễn xiếc. Sau khi vào khoang, họ lần mò tìm ghế rồi ngồi xuống. Vì khoang khá trống, ghế của họ nằm rải rác.

Trong số họ có một con tinh tinh xinh đẹp!

Nó nghênh ngang bước tới, ngồi xuống, chiếm ít nhất ba chỗ. Tôi cảm thấy thị lực của con tinh tinh, cũng như tôi, hoàn toàn không bị khói mù ảnh hưởng.

Tôi nhìn nó, nó cũng nhìn tôi.

Ánh mắt nó rất sâu.

Một người đàn ông lần mò đi tới như người mù, cuối cùng chạm được vào lưng con tinh tinh. Nó quay lại cắn vào tay anh ta. Anh ta hét lên, giơ bàn tay đẫm máu.

Khi những người khác nghe tiếng kêu, họ có vẻ nhẹ nhõm.

Người ta thì thầm:

“Chiến binh.”

“Những người dũng cảm…”

“Anh ta? Dám liều sao?”

“Một cuộc gặp hiếm có. Đó là may mắn.”

Người đàn ông bị cắn không có mặt.

Nơi đáng lẽ là khuôn mặt chỉ là một mặt phẳng, nhưng anh ta có một cái cổ thanh nhã, linh hoạt, tựa trên đôi vai rộng.

Đây là người thứ hai tôi từng thấy không có mặt.

Người đầu tiên là ông tôi đã qua đời.

Khi ấy khói chưa quá dày, ngày nào tôi cũng có thể nhìn thấy cái đầu không mặt của ông trên cổ. Tôi đã nhiều lần nghĩ rằng có lẽ những đường nét trên khuôn mặt ông bị giấu phía sau mảng thịt phẳng ấy.

Ông không nói chuyện, nhưng vẻ uy nghiêm lặng lẽ của ông được mọi người trong gia đình hiểu.

Khi ông nằm trong quan tài, mặt ông được phủ một tấm vải lanh trắng. Lúc ấy tôi thấy thương ông, bởi khuôn mặt không đường nét của ông rất đẹp và khơi gợi trí tưởng tượng của người ta (ít nhất là trí tưởng tượng của tôi).

Vậy người đàn ông bị con tinh tinh cắn cũng thuộc cùng một giống với ông tôi sao?

Cổ anh ta đẹp quá, còn đẹp hơn cổ ông.

Tôi không ngờ anh ta sẽ trả lời, nhưng vẫn hỏi:

“Thưa ông, ông họ Vương phải không?”

Cổ anh ta giật nhẹ như cổ một con chim.

Tôi không biết điều đó có nghĩa gì, nhưng tôi bị cuốn hút: thật duyên dáng!

Anh ta bỏ tôi, đi về phía cửa sổ. Anh ta nhìn dòng sông.

“Anh ta là gián điệp, một tên gián điệp lớn,” có người trong đám đông nói.

Tôi nghĩ người ấy nói cũng có lý. Người này nhất định là một gián điệp hoạt động bí mật cho tổ tiên. Tôi không dám đến gần anh ta nữa, sợ cản trở công việc của anh ta.

Còn con tinh tinh thì sao?

Nó đã không còn ở chỗ ngồi, mà đi đến phía sau người đàn ông, làm mặt xấu trêu tôi và hành khách. Nhưng hành khách không nhìn thấy nó; chỉ mình tôi nhìn thấy.

Nghĩ về những chuyện xa xưa ấy, tôi nhìn thấy một mô hình ba chiều. Đó là quỹ tích lịch sử của Thành phố Khói Mù. Một số phần hơi lộn xộn, nhưng đường nét thì rõ ràng.

Đã đến giờ tan ca.

Tôi thu dọn đồ đạc rồi về ký túc xá. Tôi là một phụ nữ độc thân không con. Thành phố Khói Mù chính là gia đình tôi.

Tôi yêu thành phố không bao giờ nhìn thấy mặt trời này.

Mọi thứ đều chìm trong bóng tối.

Vào những đêm xuân ẩm ướt, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng núi hát lúc nửa đêm. Âm thanh mơ hồ của những bài hát nhắc chúng tôi rằng thành phố được bao quanh bởi núi.

Tại sao chúng tôi lại quên mất điều ấy?

Có lẽ nhiều thứ đã biến mất khỏi ký ức vì những năm dài khói mù.

Chúng tôi có thể cảm nhận hơi nóng của những bài hát.

Có phải hơi nóng ấy được truyền từ mặt trời tới những ngọn núi?

Khi núi hát xong, chúng tôi chìm vào giấc ngủ, và khi thức dậy vào buổi sáng, chúng tôi đã quên mất chuyện ấy.

“Dì Vương, dì đã bao giờ thấy cá trắm cỏ không có mang chưa?”

Đứa trẻ của mặt trời hét với tôi ngoài hành lang ký túc xá.

“Có chứ, con yêu, dì đã thấy chúng trong hồ nhân tạo!”

Tôi trở mình trên giường, hét về phía cửa.

NGƯỜI LÀM VƯỜN Ở THÀNH PHỐ KHÓI MÙ

Tôi là Goodman, người làm vườn ở Thành phố Khói Mù, phụ trách khu vườn lớn này.

Tôi đã trải qua những biến chuyển của Thành phố Khói Mù: từ không có khói mù đến có khói mù, rồi cuối cùng bị khói mù nuốt chửng hoàn toàn.

Nhìn lại, mọi chuyện đều diễn ra có trật tự, cho nên tôi không làm ầm lên về chuyện ấy.

Ngày nay, cây cối trong khu vườn này và tôi không còn nhìn thấy ánh nắng thật nữa, ngày và đêm cũng không còn phân biệt. Cục Cảnh quan đã trang bị cho công viên mấy ngọn đèn pha cực mạnh, nhưng những ngọn đèn lớn ấy mờ nhạt chẳng khác gì mặt trăng trong một đêm nhiều mây.

Cây cối và tôi cảm thấy nếu không có đèn pha hay đèn đường thì có lẽ còn tốt hơn.

Thật không sao hiểu nổi tại sao Cục lại phải làm thế. Đừng tưởng hoa cỏ cây cối không có mắt; thị lực của chúng thậm chí còn sắc bén hơn con người. Thực ra, tôi quan sát thấy việc thiếu ánh nắng và khói mù gia tăng không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của chúng, thậm chí chúng còn có vẻ thích thú với môi trường hiện tại.

Là một người làm vườn già đã phục vụ ba mươi năm, tôi hiểu tập tính của những loài cây này.

Chúng giống như con cái tôi.

Để tôi kể một chuyện: có sáu ngọn đèn pha được đặt trên quảng trường nhỏ trồng hoa mộc. Hôm nọ, tôi nhận thấy một cây mộc có dấu hiệu héo. Tôi lập tức nghĩ rằng nguyên nhân là ngọn đèn pha bên cạnh nó.

Tôi phải làm gì?

Tôi không thể di chuyển ngọn đèn, cũng không thể di chuyển cái cây khốn khổ ấy.

Sau hai đêm mất ngủ, tôi nảy ra một ý. Trong khu phố tôi có một cậu bé nghịch ngợm rất giỏi bắn ná. Tôi dẫn nó đến quảng trường nhỏ, hứa mua cho nó một chiếc ná hạng nhất nếu nó bắn tắt ngọn đèn giúp tôi.

Nó thành công ngay lập tức.

Nhờ vậy cây mộc của tôi được cứu. Một tuần sau, cành lá của nó lại phát triển mạnh mẽ.

Tôi thích những bông hoa thì thầm.

Tôi không hiểu ngôn ngữ của chúng, nhưng chỉ cần liếc qua là tôi biết chúng có đang nói chuyện hay không.

Tôi trồng rất nhiều hoa cúc vì chúng nói chuyện quá nhiều. Cây nào cũng đẹp.

Tôi nhận thấy khi khói mù che khuất mặt trời, những cây cúc trở nên năng động hơn, những chiếc râu rung rung và lá cây khe khẽ xào xạc.

Tôi tình cờ phát hiện bí mật này khi chiếu đèn pin vào chúng, đồng thời cũng biết rằng khói mù càng dày thì hoa cúc càng hoạt bát!

Những cây bách tháp cao lớn, dịu dàng nói một thứ ngôn ngữ khác, cành cây vo ve trong gió. Chúng vui nhất khi trời có gió. Những lúc ấy, chỉ cần tôi chạm nhẹ vào một cây, chúng sẽ ngân nga không ngừng, như thể tôi đã truyền cảm hứng cho chúng.

Tôi nghĩ những cây bách tháp chào đón khói mù đến đây.

Nhìn xem, chúng đã lớn khỏe đến mức nào qua bao năm tháng.

Thuở đầu, khi mặt trời còn chiếu sáng, chúng dường như héo rũ dưới ánh nắng giữa trưa.

“Ông Goodman, mẹ bảo cháu đến học cách trồng hoa với ông!” cậu bé nói.

“Cháu là con nhà ai? Để ông sờ đầu cháu nào.” Tôi nói, chìa tay ra.

Tôi chạm thấy một cái đầu nhỏ tròn với mái tóc ngắn cứng tua tủa.

Nó là con của gia đình ở cổng công viên. Bố nó qua đời một ngày trước khi khói mù dày đặc kéo đến. Ông ấy là một người sùng bái mặt trời và chết vì sợ hãi.

“Ông Goodman, cháu tên Butterfly.”

À, một cái tên cầu kỳ.

“Butterfly, đây là hoa lan hồ điệp. Cháu có thể sờ nó, nhẹ thôi.”

Butterfly là một đứa trẻ ngoan ngoãn. Nó nhẹ nhàng chạm vào bông hoa, rồi lập tức rụt tay lại.

“Ông Goodman, hoa màu trắng phải không?”

“Chúng màu hồng đào. Cháu thích không?”

“Cháu thích lắm. Cháu có thể tưới chúng không?”

“Bây giờ chúng không cần nước. Cháu có thể thì thầm với chúng, chúng sẽ trả lời.”

Butterfly ngồi xổm xuống đất, lặng lẽ nói chuyện với từng cây lan hồ điệp. Nó phấn khích đến mức làm việc ấy rất lâu. Mãi đến khi nói chuyện với từng cây lan hồ điệp xong, nó mới đứng dậy.

“Ông Goodman, bây giờ cháu phải về nhà nói với mẹ rằng cháu đã nói chuyện với các anh của cháu.”

Nghe tiếng bước chân vui vẻ của nó xa dần, tôi nghĩ thầm rằng nỗi sợ của bố nó là không có căn cứ.

Thế giới không suy tàn vì sự thay đổi ấy; ngược lại, nó đã khơi dậy sự tò mò của thế hệ mới.

Năm ấy, dưới gốc cây bách này, bố của Butterfly từng nói với tôi bằng giọng trầm:

“Bóng tối sắp lấy mất trái tim tôi…”

Sự thật là Butterfly đã kiên cường sống sót trong bóng tối. Nó đã cùng chúng tôi trải qua những thăng trầm của cuộc đời ở Thành phố Khói Mù, và trẻ con Thành phố Khói Mù đã phát triển được rất nhiều khả năng thích nghi.

Nếu bố nó còn sống, liệu ông ấy có thay đổi suy nghĩ không?

Tôi ngồi dưới gốc cây bách. Hình như nó nghe được suy nghĩ của tôi, vỏ cây phát ra một âm thanh khe khẽ.

Tôi ngẩng mặt lên trời, lập tức cảm nhận được vị trí của mặt trời.

Trong lòng, tôi nói với bố của Butterfly:

“Đây không phải bóng tối. Đây là một sự hòa nhập lớn.”

Gió đi xuyên qua những thân cây, lá và hoa đáp lại lời tôi.

Dĩ nhiên cây bách cũng cảm nhận được mặt trời—từng khoảnh khắc.

Khi mặt trời lặn về phía tây, cuối cùng tôi cũng làm xong việc và về nhà.

“Chào ngày mới,” tôi nói về phía tây với mặt trời lặn mà tôi không thể nhìn thấy, “con trai của người ngưỡng mộ ngài đã đến đây, và cậu ấy rất hài lòng với sự sắp đặt của ngài.”

Mặt trời lặn hôm nay mạnh đến mức đáng lẽ đã nhuộm đỏ một khoảng mây rộng lớn.

Nhìn kìa, hàng cây gụ đang chăm chú lắng nghe tiếng bước chân của mặt trời lặn.

“Chào ông Goodman!”

Những bóng dáng của một nhóm học sinh tiểu học nhảy nhót chào tôi.

“Chào các cháu!”

Tôi lớn tiếng đáp.

Tôi về nhà.

Căn lều nhỏ của tôi nằm ở rìa công viên. Mái rơm của nó trông như những cây nấm, hòa hợp với làn khói mù xám xịt.

Tôi tự thiết kế và dựng nó.

Những năm tháng đã chứng minh rằng thiết kế ấy rất phù hợp với thời đại.

Mái rơm hút sương và khói mù, cũng hút hơi thở của cây cối và con người. Tôi ngủ dưới mái nhà này, cảm thấy thân thể mình được dệt cùng mái nhà thành một tấm lưới của thành phố, một thành phố được khói mù kết nối.

Mái nhà và những bức tường đất có mùi thực sự của Thành phố Khói Mù, và đó là điều tôi tự hào nhất.

Khi ngủ, tôi thường nghe thấy một giọng nói gọi mình từ xa:

“Goodman—Goodman…”

Đó là bà nội già của tôi.

Bà đã qua đời nhiều năm.

Tôi nhớ trước khi bà mất, thành phố vẫn chưa có khói mù; khi ấy mọi thứ đều có hình dáng sắc nét và màu sắc tươi mới đến thế.

Ôi, cuộc sống ngày trước hẳn khó khăn biết bao!

Bây giờ bà tôi được chôn trong nghĩa trang ngoại ô, nhưng bà luôn trở về thăm thành phố. Mỗi lần đến, bà gọi tôi bằng một giọng đầy thương nhớ.

Tôi biết bà yêu Thành phố Khói Mù, và bà muốn chia sẻ niềm vui của mình với tôi.

CÔ GÁI SẼ NGỦ Ở MỘT GA XE LỬA NHỎ

Có hai ga xe lửa ở Thành phố Khói Mù.

Một là ga Thành phố Khói Mù, một tòa nhà nguy nga.

Ga kia nằm ở vùng ngoại ô, cạnh nghĩa trang. Nó có cái tên hoa mỹ là “Ga Ốc Sên”.

Chỉ có tàu địa phương dừng ở Ga Ốc Sên, nhưng những chuyến tàu địa phương ngày càng ít dừng lại. Thông thường mỗi ngày nhiều nhất chỉ có một chuyến tàu địa phương, đôi khi chẳng có chuyến nào.

Vì thế Ga Ốc Sên đã trở thành một nhà ga nhỏ cô độc.

Phòng chờ chỉ có hai dãy ghế băng cũ kỹ. Mỗi ngày nhiều nhất chỉ có ba, bốn người đến đây đón tàu địa phương, và tất cả đều là người nghèo.

Cô gái tự đặt tên mình là Myrtle vì cô nghĩ mình giống một cây sim dại mọc trên sườn dốc. Cô tình cờ bắt gặp Ga Ốc Sên ở vùng ngoại ô này và lập tức yêu thích nó.

Myrtle làm việc tại kho lương thực địa phương. Công việc của cô rất nhẹ nhàng, sau giờ làm chẳng có gì nhiều để làm.

Một ngày nghỉ, không có việc gì tốt hơn để làm, Myrtle đi đến nghĩa trang ngoại ô. Nhờ ánh đèn pin, cô lần mò qua những ngôi mộ và ngạc nhiên thấy hoa sim dại màu trắng và hồng mọc khắp nơi.

Phát hiện ấy khiến cô phấn khích, cảm giác như mình đột nhiên trở thành nữ hoàng của vương quốc Sim.

Cô chạy xuyên qua nghĩa trang, đèn pin chớp chớp, miệng hét những câu chẳng đâu vào đâu như “Đừng bao giờ nói chết”, “con đường quanh co dẫn đến nơi tĩnh mịch”, “núi phía tây đỏ rực lúc hoàng hôn”, blah blah.

Rồi chẳng hiểu thế nào, không nhận ra mình đã rời nghĩa trang từ lúc nào, cô đột nhiên thấy mình ở bên ngoài.

Phía ngoài nghĩa trang không còn cây sim dại nào, nhưng có một nhà ga xe lửa rất nhỏ.

Khi bước vào phòng chờ, cô thấy hai dãy ghế băng ngắn. Dưới ánh đèn pin, cô nhìn thấy một bảng đen nhỏ trên tường, trên đó viết bằng phấn số hiệu những chuyến tàu trong ngày.

Chuyến tàu hôm ấy sẽ đến ga sau khoảng một giờ, và Myrtle quyết định chờ.

Cô mơ hồ linh cảm rằng một chuyện gì đó sắp xảy ra trong đời mình.

Đó sẽ là chuyện gì?

Đó là một nhà ga nhỏ kỳ lạ.

Myrtle đã lang thang khắp Thành phố Khói Mù và vùng ngoại ô vào những ngày nghỉ, nhưng chưa bao giờ để ý đến nhà ga bên cạnh nghĩa trang này.

Đường ray trước nhà ga cũng kỳ lạ: chỉ có một đường ray chạy về phía tây nam. Rõ ràng nó không nối với ga Thành phố Khói Mù.

Sau khi đi vòng quanh nhà ga nhỏ, Myrtle bắt đầu nảy ra những ý nghĩ kỳ quặc.

Cô sinh ra và lớn lên ở Thành phố Khói Mù. Mặc dù không nghèo, cô chắc chắn không đủ khả năng đi du lịch. Ngoài lần hồi nhỏ đi thăm quê phía bắc của bà ngoại cùng bà, cô chưa bao giờ rời khỏi Thành phố Khói Mù.

Đôi khi cô đến ga Thành phố Khói Mù đông đúc, cố tưởng tượng hành khách trên tàu đang cảm thấy thế nào.

Bây giờ nhà ga nhỏ này khơi dậy sự tò mò của cô.

Nó giống như một thứ đột nhiên mọc ra từ khói mù, hoặc một công trình chỉ dành riêng cho cô, bất ngờ xuất hiện bên rìa nghĩa trang.

Myrtle thích nghĩ như vậy.

Hai bên đường ray đơn không có tòa nhà hay công viên, phía trước trống trải và hoang vắng.

Cô đi dọc đường ray một lúc rồi quay lại nhà ga nhỏ.

Khi Myrtle trở về, cảnh tượng bên trong đã hoàn toàn thay đổi.

Trên ghế có ba chàng trai trẻ ngồi. Cô không nhìn thấy mặt họ, nhưng biết họ là người địa phương. Họ nói nhỏ, dường như đang bàn chuyện đi về phía bắc làm thuê.

Họ nói rất nghiêm túc về một số vấn đề cấp bách đến mức không nhận ra cô đến.

Myrtle lặng lẽ ngồi xuống phía sau họ.

Cô không nghe được họ nói gì, nhưng cảm nhận được sự kìm nén và mãnh liệt trong lời nói. Trong đó còn có một âm điệu chia tay rõ rệt.

Liệu họ có bao giờ trở lại?

Giọng họ lúc cao lúc thấp, tâm trạng Myrtle cũng lên xuống theo, khi thì hồi hộp, khi thì vô cớ buồn bã.

Sau đó cô cảm thấy đường ray rung lên, tiếp theo là tiếng ù ù chậm chạp.

“Cuối cùng cũng đến rồi!” một người trong số họ lớn tiếng nói.

Đeo túi sau lưng, ba người đi ra ngoài, để lại trong không khí mùi của những chàng trai trẻ.

Myrtle ngồi im, sợ họ nhận ra mình.

Sau khi họ đi, cô đến cửa sổ nhìn theo.

Mặc dù ánh đèn sáng trong toa, Myrtle chỉ nhìn thấy một dải dài mờ nhạt, chẳng ấm áp cũng chẳng quen thuộc, mà giống một thứ xa lạ.

Cô hơi thất vọng.

Cô đoán sẽ không có hành khách nào xuống tàu. Ba người kia chắc đã ngồi vào toa.

Vì một lý do nào đó, Myrtle không lập tức về nhà. Thay vào đó, cô trở lại ghế băng, lặng lẽ ngồi xuống.

Bây giờ trời đã tối, nhưng cô vẫn không đói.

Cô quá phấn khích.

Cô sẽ ngồi đây và suy nghĩ về những chuyện xảy ra hôm nay.

Con tàu đã đi đến một nơi cô không biết, và cô cảm thấy nó đã mang đi một thứ gì đó khỏi trái tim mình.

Có lẽ lần đầu tiên trong đời, cô nhận ra rằng mình cũng có cơ hội đi đến “nơi tĩnh mịch”, như cô đã gọi nó trong nghĩa trang chiều nay.

Nếu nó không dẫn đến một nơi tĩnh mịch mà dẫn đến một ngõ cụt, thì đó cũng sẽ là một chuyến đi mới lạ.

Cô lại rọi đèn pin vào bảng đen trên tường, và nhận thấy điểm đến của chuyến tàu không được viết trên đó.

Thật kỳ lạ!

Nét chữ phấn sạch sẽ, mạnh mẽ, vậy thì điểm đến của chuyến tàu hẳn đã bị cố ý bỏ trống.

“Đúng là một nơi rất thích hợp để suy ngẫm.”

Một giọng nói vang lên phía sau.

Cô quay lại, thấy một bóng người đen.

Người đàn ông đi đến ghế băng, ngồi cách cô một khoảng.

“Tôi vừa xuống tàu, sau đó đi dạo quanh nghĩa trang. Nơi này đẹp hơn tôi tưởng.”

“Trước khi xuống tàu, ông nghĩ nơi này sẽ như thế nào?” Myrtle háo hức hỏi.

“Khi còn ở trên tàu, tôi chẳng nghĩ gì cả,” ông ta nói.

“À…” cô kéo dài giọng. “Thưa ông, ông có thường xuyên đi du lịch không?”

“Không, tôi rất ít đi. Chuyến đi này hoàn toàn ngoài ý muốn.”

“Ngoài ý muốn? Ôi trời!”

Cô thở dài, như thể tràn đầy tiếc nuối.

Người Thành phố Khói Mù có thính giác rất nhạy. Cô nhận ra người này là một người đàn ông trung niên có tính tình thoải mái.

“Vậy là ông cũng rời đi ngoài ý muốn?” cô hỏi giễu.

“Đúng.”

Ông ta suy nghĩ một giây rồi đột nhiên đề nghị:

“Chúng ta vào thành phố ăn tối đi.”

Myrtle vui vẻ đồng ý, vì cô nóng lòng muốn nghe thêm về chuyến tàu từ ông.

Cô cảm thấy chuyến tàu thật thần bí.

Một điều cô không hiểu là người đàn ông trung niên này dường như chỉ là một cái bóng. Cô không cảm nhận được gì có tính vật chất ở ông.

Đêm ở Thành phố Khói Mù rất tối, ngay cả nơi có đèn đường cũng vậy.

Myrtle bối rối chìa tay ra, định chạm vào người đàn ông đang bình thản đi bên cạnh, nhưng tay cô chỉ chạm vào khoảng không.

“Ông có thể cho tôi biết tên mình không?” cô hỏi.

“Tên tôi à? Cô muốn gọi thế nào cũng được. Tôi đến từ phía tây, nên cô có thể gọi tôi là Người Phía Tây,” ông ta thân thiện nói.

“Tôi gọi ông là Tây nhé? Tôi tên Myrtle.”

“À, cô là nữ hoàng của các loài hoa. Tối nay được ăn tối cùng nữ hoàng hoa, tôi may mắn quá.”

Họ lên xe buýt, mỗi người ngồi một ghế.

Người Tây hẳn là có thể nhìn thấy đối với người bán vé, vì ông đã mua vé từ anh ta.

Myrtle không hiểu.

Khi xuống xe, Myrtle đề nghị một nhà hàng mà cô rất quen.

“Tôi có một yêu cầu, West—để tôi mời. Được không? Vì đây là quê hương tôi. Tôi là người bản địa Thành phố Khói Mù.”

“Tuyệt!” Ông vỗ tay. “Cô gái hào phóng quá!”

Họ ngồi một bàn cạnh cửa sổ.

Myrtle gọi món vì West nói ông không biết gọi.

Chẳng bao lâu, năm món ăn và một món canh được dọn lên.

Món canh ở nhà hàng này rất đặc biệt. Nó được nấu bằng một loại rau núi thơm—một loại dây leo mềm với những chiếc lá nhỏ hình ngôi sao.

Tiếc là vị khách không thể nhìn thấy nó đẹp đến thế nào, Myrtle nghĩ.

Cô ngượng ngùng, không dám rọi đèn pin vào từng món ăn.

Vừa ăn, West vừa khen từng món:

“Ngon quá, ngon quá… Đây là loại rau dại gì vậy? Tuyệt vời! Ăn được thức ăn tuyệt diệu thế này thật là có phúc. Tôi cảm thấy mình rơi từ trên tàu xuống một miền ấm áp. Bao nhiêu cây sim, rồi lại gặp nữ hoàng hoa… Tôi sẽ thực hiện kiểu hành trình này hết lần này đến lần khác. Một khi cuộc phiêu lưu đã bắt đầu thì sẽ không thể dừng lại…

“Để tôi xem nào. Tôi lên tàu bằng cách nào nhỉ? Đúng rồi—đó là một chuyến tàu khách tạm thời! Điểm đến không rõ… Tôi lên tàu theo một phút bốc đồng. Cô xem, ngoài chiếc túi xách này ra, tôi chẳng có hành lý dự phòng gì. Chẳng phải điều đó đã nói lên tất cả sao?”

Myrtle mỉm cười tán thưởng người bạn mới quen.

Cô cảm thấy những suy nghĩ của chính mình dường như đã lập tức đuổi kịp ông.

Đó có phải dấu hiệu của một cuộc phiêu lưu không?

Cô không nói gì, chỉ trả lời ông trong tâm trí.

Một cái bóng đang tiến về phía họ.

Đó là chủ nhà hàng.

“Các vị khách, tôi có một món quà tặng hai vị—sim ngoại ô chính hiệu của Thành phố Khói Mù.”

Ông đặt một chiếc thùng giấy lên bàn.

West lập tức đứng dậy, cúi người thật sâu trước ông chủ.

Sau khi ăn xong, hai người bước ra đường giữa Thành phố Khói Mù mờ sương.

“West, đến lúc chia tay rồi. Chúng ta bắt tay nhé,” Myrtle nói.

Ông chìa tay ra, cô cố nắm lấy, nhưng thứ cô chạm vào chỉ là không khí.

“West, rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra vậy?” cô kinh hãi hỏi.

“Đó là bí mật. Hãy giữ nó trong lòng.”

Ông phấn khích nói:

“Tôi vừa quyết định lấy chuyến tàu ấy làm nhà. Điều đó có nghĩa là cứ vài ngày tôi sẽ trở lại Thành phố Khói Mù.”

“Tuyệt quá, West!”

Khi Myrtle trở về căn hộ, đèn đường đột nhiên tắt, mọi thứ chìm vào bóng tối.

May mà cô đã quen đi bộ ban đêm.

Bóng tối khiến suy nghĩ của cô trở nên sắc bén hơn.

Cô quyết định từ ngày mai sẽ lấy Ga Ốc Sên làm nhà.

Tại sao không?

Sau giờ làm, cô có thể đến nhà ga mỗi ngày. Chỉ cần mang chăn đệm đến đó. Chắc sẽ dễ thôi.

Ban đầu, hành khách và nhân viên nhà ga có thể chưa quen, nhưng cô có thể giải thích cho họ, và lời giải thích của cô sẽ rất thuyết phục.

Là con gái của Thành phố Khói Mù, ít nhất chuyện này cô hoàn toàn chắc chắn.

Sau khi nghe ba câu chuyện này, bạn có cảm nhận được sức quyến rũ đặc biệt của Thành phố Khói Mù không?

Tôi sáu mươi tám tuổi.

Tôi không thích hoài niệm.

Tôi luôn nhìn về phía trước với một niềm mong đợi trong lòng.

Đó cũng là tính cách của cư dân Thành phố Khói Mù.

___________________

[Trích dịch từ tập truyện ngắn MOTHER RIVER – Bản Anh ngữ của Karen Gernant & Chen Zeping do NXB OPEN LETTER ấn hành năm 2025]

[ChatGPT chuyển ngữ; T.Vấn biên tập & hiệu đính]

Bài Mới Nhất
Search