Ngộ Không: Chữ nghĩa làng văn (Kỳ 215)

clip_image002

 

Hát chèo (1)

Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) là đất tổ của sân khấu chèo, người sáng lập là bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh vào thế kỷ 10, sau phát triển rộng ra đồng bằng Bắc Bộ. Địa bàn phố biến từ Nghệ – Tĩnh trở ra. Chèo bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ 10. Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn của chèo dựa trên các trò nhại này thành các vở diễn trọn vẹn dài hơn. Sự phát triển của chèo có một mốc quan trọng là thời điểm một binh sỹ quân đội Mông Cổ đã bị bắt ở Việt nam vào thế kỷ 14. Binh sỹ này vốn là một diễn viên nên đã đưa nghệ thuật Kinh kịch của Trung Quốc vào Việt Nam. Trước kia chèo chỉ có phần nói và ngâm các bài dân ca, nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật do người lính bị bắt mang tới, chèo có thêm phần hát. Vào thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đã không cho phép biểu diễn chèo trong cung đình, do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng. Chèo trở về với nông dân, kịch bản lấy từ truyện viết bằng chữ Nôm. Tới thế kỷ 18, hình thức chèo đã được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19. Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này.

(nguồn: ttvhq5.com.vn)

Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu?

Hỏi: Kính chào toàn thể quý cao thủ tiền bói nhà nho,
Mình đã nghe, nhiều và rất nhiều chử “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu” mà chẳng hiểu câu thứ nhì nghĩa gì hết, xin thoại dáo các tiền bói, mình biết mình viết say chính tả nhiều lắm xin các tiền bói bỏ qua cho…Cám ơn nhều thiệt nhều nha(sic).

Đáp: Uống rượu (nhậu) mà gặp tri kỷ (bạn đời, bạn tâm đầu ý hợp, bạn tâm giao), thì ngàn chung vẫn còn thấy ít đấy ông bạn à. Cái này là cách nói cường điệu hoá của người xưa chứ mặc dù là cái chung tuy nhỏ nhưng thực tế ít người uống được ngàn chung.

Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu
Mạc ngộ tri âm bán cú đa

Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến khứ nhân hồi

Những cái cũ & xưa nhất của Saigon

Ngôi đình cổ nhất

Một trong những ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và xưa nhất Nam Bộ là đình Thông Tây Hội, xây dựng vào khoảng năm 1679, là chứng tích còn nguyên vẹn nhất của thời kỳ dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều cây Vắp (từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp). Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông–thôn khởi nguyên của Gò Vấp–sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội).

Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương. Ngôi đình còn giữ được khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu, với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ. Đình Thông Tây Hội thuộc P.11, Gò Vấp.

Ba ông đầu rau

Ba ông đầu rau gồm có:

Thần đất

Thần bếp

Thần chợ

(Trần Ngọc Thêm – Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam)

Địa danh miền Nam (2)

Ở thế đất cao có loài chim muông trú ngụ như con công gọi là Gò Công, Gò Sơn Qui (Rùa). Ở cánh đồng có nhiều con nai đang ăn cỏ gọi là Đồng Nai. Hình tượng núi giống con voi, con sam biển, gọi là Núi Voi, Núi Sam.

Gặp những chướng ngại vật như mây mọc chằng chịt, đặt tên là Rạch Mây, Đường Mây, Xẻo Mây, Chắc Cà Đao (tiếng Miên cũng là rừng mây), và những nơi có nhiều tre, trúc đặt tên là Bến Tre, Xẻo Tre, Vịnh Tre.

Vùng có cây giá nhiều, cây này giống cây mãng cầu có mủ màu trắng, gọi là Rạch Giá. Những gò, giồng cao, dài thì có tên Giồng Trôm (cũng do nơi này có nhiều cây trôm), Giồng Cai Yến (cánh én), Ba Giồng. Và các gò có Gò Bần, Gò Xoài, Gò Tre, Gò Tượng (là chỗ voi tắm và uống nước).

Ở vùng đất thấp thì có vũng, lung, láng, bào: Vũng Gù, Giếng Tượng, Lung Tượng, Bào Sen…

Ở bến có nhiều cây lức mọc gọi là Bến Lức. Chỗ cho ngựa tắm gọi là Bến Tắm Ngựa.

(Một thoáng về địa danh đất Việt – Trần Khánh)

Văn học cổ (4)

Về chuyện “vay mượn”, mới đây có người cho biết bài thơ “Đánh cờ tướng” rất nổi tiếng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng mượn ý bài dân ca vùng Tô Châu bên Tàu. Chúng tôi xin chép lại nguyên văn để chúng ta cùng biết và nghiên cứu thêm:
“Cờ tướng tương truyền do Chu Vũ Vương phát minh lúc đánh vua Trụ, loại cờ tướng này mô phỏng việc đánh nhau trên chiến trường, cũng là loại cờ mà phụ nữ thời cổ lúc nhàn rỗi rất thích chơi. Phùng Mộng Long cuối thời Minh có chép lại một bài dân ca Tô Châu nói về việc trai gái chơi cờ tướng như sau: Thu liễu vi kỳ trước tượng kỳ. Thạch pháo đương đầu tu phòng lưỡng hiệp xa, Ngã chỉ đạo nhĩ song mã ẩm tuyển xoa khởi liễu cá dương giác sĩ, Dạng đạo nhĩ nhất tốt chiếm tâm giáo ngã nan động di” (Xếp bàn cờ vây bày bàn cờ tướng, Thấy pháo đầu phải đề phòng xe thọc hai bên, Em chỉ nghĩ anh cho hai ngựa uống nước nên cho sĩ vểnh sừng dê, Ngờ đâu một con tốt của anh vào cung khiến em không động đậy gì được), câu nào cũng một lời hai ý.”

***

Sau đây là một đoạn trong bài “Đánh Cờ” của Hồ Xuân Hương :
Thoạt mới vào, chàng liền nhẩy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp sợ bí, thiếp liền ghểnh sĩ.
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Đem tốt đầu dú dí vô cung.
Thiếp đang mắc nước xe lồng,
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu…

Chúng ta đều biết Hồ Xuân Hương sống vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 mà triều nhà Minh bên Tàu chấm dứt vào cuối thế kỷ 16. Thực ra, đã từ lâu cũng đã có người nghi ngờ bài “Đánh Cờ” không chắc có phải do nữ sĩ sáng tác. Đây là một nghi vấn trong văn học Việt Nam cần được các bậc thức giả trong cũng như ngoài nước nghiên cứu thêm.

(Văn học cổ VN – Tạ Quang Khôi)

Ghép chữ Nôm (4)

Lại cũng với chữ ”ăn” mà đem ghép làm bốn chữ thành rất nhiều thành-ngữ để mô- tả mọi hoàn-cảnh sinh-hoạt rất phong-phú như: ăn cám trả vàng, ăn cháo đá bát, ăn chay nằm mộng, ăn chực nằm chờ, ăn dơ ở dáy, ăn dưng ngồi rồi, ăn đấu trả bồ, ăn đói mặc rách, ăn gian nói dối, ăn gởi nằm nhờ, ăn kiêng nằm cữ, ăn miếng trả miếng, ăn ngay nói thẳng, ăn nhờ ở đậu, ăn sung mặc sướng, ăn tục nói phét, ăn thiệt làm dối, ăn trên ngồi trước, ăn trắng mặc trơn, ăn trước trả sau, ăn vóc học quen…

(Tiếng Việt hồn Việt – Lê Thương)

Nhân Văn – Giai Phẩm (4)

Tình hình ở Bắc Việt năm 1956

Nếu mang so sánh thì có thể nhận thấy các lãnh tụ ở Bắc Việt trong năm 1956 quả đã vất vả hơn các vị đàn anh của họ ở Trung Quốc. Lý do là vì Trung cộng đã hoàn thành chiến dịch Cải cách ruộng đất từ mấy năm trước khi Đệ tam Quốc tế ban hành đường lối mới nên tình hình chính trị tương đối đã được ổn định. Hơn nữa Trung cộng đã thanh trừng hết mọi phần tử trí thức đối lập trong vụ án Hồ Phong nên nắm vững được tình hình nội bộ để đối phó với làn sóng cách mạng từ Đông Âu tràn sang.

Trái lại, khi Mikoyan, sứ giả của điện Kremlin sang Hà Nội để giải thích về “tân chính sách” thì cuộc cách mạng ruộng đất ở miền Bắc còn đang dở dang, và đang ở giai đoạn chót và mạnh nhất. Đứng trước tình thế đó ông Hồ Chí Minh đành trì hoãn việc ban bố chính sách mới và cứ để yên cho cuộc đấu tố tiếp diễn, vì không có lý gì (theo lời ông Hồ) lại “dội một gáo nước lạnh vào đầu cán bộ”.

Do đó mãi đến tháng tám năm 1956 Việt cộng mới phổ biến quyết định quan trọng của Hội nghị lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Sô, đồng thời tuyên bố “Sửa sai”, vì mãi đến cuối tháng bảy mới hoàn thành đợt chót của chiến dịch Cải cách ruộng đất, gọi là đợt Điện Biên Phủ. Vì để quá lâu mới mở “súp páp” nên khi mở thì hơi xì phải mạnh hơn. Chiến dịch này bắt đầu bằng việc giải thích bằng báo chí và bằng “học tập” về quyết nghị của Hội nghị lần thứ 20, trong đó có nói đến “bệnh tôn sùng cá nhân” và “chính sách tập thể”. Việc thứ hai là “hạ bệ” ông Trường Chinh và ông Hồ Viết Thắng, và thả ra 12 ngàn đảng viên bị cầm tù vì bị quy lầm là địa chủ, trong số đó có nhiều người đã bị lên án tử hình.

(Trăm hoa đua nở trên đất Bắc – Mạc Đình giới thiệu)

Chưa…hỏi đã…ngã

Viết cho đúng dấu hỏi (?) ngã (~) không đơn giản, làm nhức đầu một số người Nam, đồng thời lại quá dễ dàng đối với người Bắc. Người Nam không biết tại sao chỉ có hai dấu mà mình không làm sao nhớ được, người Bắc lại không thể tưởng tượng được lại có loại người không nhớ nổi hai dấu này.

Vấn đề: Không thể nhớ được hỏi ngã.

Vì không nhớ hỏi ngã nên có người cho mình có trí nhớ kém; có người cho là bộ nhớ (memory) của mình bị trục trặc, không chịu lưu giữ dữ kiện; có người cho là tại già trở nên lù khù.

Giải thích: Không nhớ không phải tại mình già, mà tại vì hỏi ngã quá phức tạp không nhớ hết được. Nhớ được tới đâu hay tới đó, nhưng đừng cố gắng thái quá có cơ vào nhà thương Chợ Quán.

Vấn đề: Sách chỉ dẫn hỏi ngã có giúp ích nhiều không?
Giải thích: Để viết đúng các từ láy được một nhà thơ tóm tắt bằng hai câu thơ sau đây:
Chị huyền vác nặng ngã đau
Anh sắc không hỏi một câu được là.

Chỉ có 4 từ mà phải đặt thơ kiểu Lục Vân Tiên? Có tác giả viết nguyên cả một cuốn sách để chỉ dẫn hỏi ngã cho thiên hạ thì còn gì là mẹo, sách nghiên cứu thì có. Người viết sách qui tắc hỏi ngã không am tường phát âm miền khác, nên nêu ra hằng lô qui tắc, hỏi ngã phải học thuộc lòng, để ai cũng…nhớ được.

Không ai có thể nhớ được nhiều như thế. Cứ cho là nhớ được đi, nhưng nhớ được bao lâu, vài ngày hay vài tuần?

(Đoàn Văn Phi Long – Hỏi ngã)

Tiếng Việt trên net

thui = thôi
trơi= chơi, ví dụ: “đi trơi”

Ngộ  Không

(Sưu Tập)

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2021

 

Bài Mới Nhất
Search