Hội Ngộ – Tranh: THANH CHÂU
Như có cơ duyên, không dám gánh bùn sang ao với duyên và nghiệp của nhà Phật, mà ngẫu nhiên chỉ là có thằng bạn cũ đến nhà chơi, sau đó lại có chuyện phải đi xa mấy ngày, để rồi thấy bức tranh trắng đen ở nhà thằng em và về nhà dở lại chồng sách cũ…Vô hình chung, không hẹn mà gặp, tất cả như những cái móc xích để có những cái gạch nối với chuyện này chuyện kia.
Tình cờ gặp và ngắm bức tranh thì lại là chuyện khác, mặc dù cái nợ áo cơm có dây mơ rễ má với vẽ vời, nhưng tầm thưởng ngọan tranh của tôi thật èo uột và tệ hại đến mức thê thảm…Vậy mà cũng có mấy tên bạn nghiệp dư với mầu mè, cọ cùn cùng chổi rách, nhưng cũng nổi đình nổi đám như ai…Như trên đã nói, cách đây mấy tuần, có tên bạn từ Việt Nam qua đây để triển lãm tranh, nghe đâu ở Sài Gòn, nó vật vã cũng có tí ti danh còm. Qua một tuần trà, tôi hỏi nó về những họa sĩ một thời, tranh đang có giá, cả chục nghìn một bức như tranh phố Phái, những bức tranh phố cổ lãng đãng nâu xám một mầu, trầm tư nét u buồn, sầu nhớ, xao xuyến và phẳng lặng.
Và nó say mê kể lể với tôi về tranh Bùi Xuân Phái, như đắm chìm trong con phố vĩnh hằng và yên ắng, cửa đóng im ỉm, đường không có người, cây không có lá. Dĩ vãng cùng những ngày tháng như ẩn kín bên trong con phố, sâu lắng và bất biến. Nhưng cuồn cuộn lộng gió, gió phía trước, dồn phía sau, làm nghiêng mái phố, lệch mái đền.
Cũng qua nó, tôi mới biết Vũ Đình Liên thêm một lần bày mực tầu giấy đỏ, bên phố đông người qua, để có bài thơ thứ hai, cũng có tên “Ông đồ”. Cảm hòai qua bức tranh “Ngắm tranh ông đồ” của Bùi Xuân Phái:
Hỡi người nghiên bút ngàn năm ấy
Khối hận bây giờ đã nhẹ chưa
Những người xưa năm cũ như Bùi Xuân Phái, mực đọng trong nghiên sầu với Vũ Đình Liên, hồn ở đâu bây giờ…
***
Gần đây, tôi chỉ thực sự mầy mò chút nào về tranh khi đọc một bài báo nào đó, về những bức tranh dân gian cùng mầu sắc chân quê. Mầu vàng rộm lên như cánh đồng lúa chín, mầu xanh ẩn sau lũy tre làng, mầu đỏ gấc như yếm thắm của chiếc áo tứ thân, mầu xám nhiễu như chiếc áo lam giang, trong lót nền hồ thủy, mầu đen như váy lĩnh giữa mùa quan họ. Cùng nét tranh khắc sâu, nét in phẳng lặng, lúc hớn hở như chú bé ôm con vịt phú qúy, hay bế gà vinh hoa. Khi thanh thản như cậu bé vắt vẻo ngồi trên lưng trâu thổi sáo. Có lúc nghờ nghệch với con lợn ỷ, mặt chành bành to bè. Bình dị và chân chất thì có thầy đồ cóc, chuột vinh quy, như sự nối tiếp âm thầm của một nền khoa cử, của một thời xa xưa.
Nhưng cũng không thể thiếu những cái hóm hỉnh, thâm trầm của các cụ ta, như bức hái dừa: Chàng trai đóng khố lửng lơ, chót vót trên ngọn cây, dưới là cô gái quê mặc yếm, vén váy hứng dừa. Và bức tranh đơn sơ không phải chỉ có vậy, trái dừa rơi tùm xuống váy thì…nhiêu khê không phải là ít. Chưa hết, đến bức đánh ghen, hai bà cầm kéo sởn tóc một cô, dí dỏm một nỗi, trong đó có một bà đánh hôi. Chuyện đất lề quê thói cùng các cụ, tiếng nói sâu kín của bản năng, ăn sâu vào tâm thức, bao giờ cũng thâm trầm và bàng bạc. Như tiếng sáo diều, câu ca dao cổ, con quay con vụ như trộn lẫn vào tôi, đất khách quê người cùng cái tuổi bóng ngả đường chiều.
Cứ như thế, tôi bị cuốn hút trong những bức tranh dân dã và sau đó là bổ nhào bổ nháo đi “ăn tranh”, cũng phải mất hai, ba nơi mới có được dăm bức. Sau đó lại láo nháo đi “đổ tranh”, phải là khung tre, đốt vàng, đốt xanh. Khó khăn hơn nữa, viền giấy phải nổi lên khỏi mặt nền, để người thưởng ngọan nhìn thấy cái đẹp của giấy vùng Bưởi vang bóng một thời, mịt mù khói tỏa ngàn sương, nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.
Để rồi tôi lại lãng đãng thả hồn về năm nào, như mới đâu đây, lang thang ở con đê Cổ Ngư. Qua một dải đất hẹp, nằm ép giữa một bên là cửa Bắc với những rặng xoan tây, mùa hạ đầy hoa đỏ và ve sầu râm rả, cả một rặng cây nghiêng mình soi nước cùng cá béo sen thơm, rồi lạc về vùng Bưởi lúc nào không hay. Lững thững trên con đường lát gạch vồ, ngắm nét hoa văn trên cổng làng, nghỉ chân dưới bóng cây đa già, đằng sau là căn nhà cổ xưa u tịch còn sót lại, như vấn vương u hòai. Ngay lúc ấy, tôi như nghe vang vọng của nhịp chày Yên Thái, cùng tiếng chuông u tịch của đền Đồng Cổ, lẫn trong hươg trời sắc nước của Tây Hồ. Cùng những nỗi niềm tiếc nhớ về một làng nghề giấy đang đang chìm dần vào dĩ vãng, gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương. Đó chính là làng Yên Thái, một thời làm giấy sắc vua, kinh kệ, giấy lụa để in tranh.
Có những buổi chiều cuối tuần, nhất là những ngày mưa gió sập sùi, lẩn thẩn loanh quanh trong nhà. Tôi tẩn mẩn ngắm những bức tranh xưa, viền giấy vàng nghệ nổi bật trên nền xanh, như đưa tôi về những bức tranh Tết gà lợn năm nào. Đì đẹt ngòai sân tràng pháo chuột, om sòm trên vách bức tranh gà. Với tôi, ở cái tuổi này, không phải làm dáng với dăm món đồ cổ mốc meo, cùng vài bức tranh ẩn khuất…Ai mắng tôi chịu, tất cả chỉ bấy nhiêu, những bước chân di như bám chặt vào đất đai làng mạc. Mang hồn quê vào những bức tranh nhỏ bằng quyển vở học trò, dung dị và một mạc và một chút nào mang hơi hướng tình tự dân tộc. Và một lần nữa, với tôi, cũng chỉ bấy nhiêu….
Không như thằng bạn họa sĩ bạn tôi, không có giá gỗ, nó bò ra vẽ như mấy thầy đồ nho, vừa quét mầu ngang dọc nó vừa ủ ê, thơ là tư duy, tranh là trừu tượng, như hai đường song song, nếu có gặp nhau thì cũng không ngòai những “ấn tượng” tối tăm. Mặt mày nhăn nhó, nó dùng dao, vật vã kéo từng nét, trát từng khối bột mầu, như bị nhiễm với mầu sắc. Góc cạnh ẩn hiện, chìm sâu như một mảnh điêu khắc mỏng, nhưng dầy đặc với những mảng chấm phá. Để tôi loay hoay, bối rối cùng “trừu tượng” với “ấn tượng”, và nhức đầu chóng mặt không phải là ít.
x x x
Đột nhiên có chuyện gia đình, tôi mò qua miền đất ấm tình nồng. Để thằng họa sĩ ở lại thành phố tôi với những cơn bão biển bất chợt, sập sùi với gió và mưa.
Nói phải tội, lòng vòng thì tôi đi chôn người chết, thăm người sống và thằng người sống không ai ngòai thằng em rể lâu đời của tôi, như một món đồ cổ. Ảnh hưởng cấp kỳ của nền Tây học hôm nay, nó kín đáo, nói xa chẳng bằng nói gần là muốn lên nó, phải báo trước …một tháng. Tôi nghe muốn hỗng cẳng, mắt trơ thổ địa. Vì vậy cũng nên có đôi hàng về thằng này: Trong những người di tản buồn, cái thằng lù đù vác lu mà chạy, chạy rất thong dong và nhàn nhã như đi chợ, cũng không quên vác theo hai cái cung nô bộc và cung thân cư thê. Ngược dòng lịch sử, ngày 30 tháng Tư, nó một mình láo ngáo ra bến Bạch Đằng, đang nhìn trời nhìn nước. Bỗng bắt gặp thằng bạn đứng trên boong tầu, đang vẫy vẫy kêu nó như gọi đò sang sông. Nhưng nó tiếc cái xe Suzuki, nên dùng dằng ngần ngừ nửa ở nửa đi. Chần chừ cho lắm rồi nó cũng lóp ngóp bò lên cầu thang, để như định mệnh đã an bài, hồn ai nấy giữ, mặc cho nước chẩy mây trôi.
Tới trại tị nạn đâu đó được dăm ngày là nó tức tốc được bốc ra khỏi trại. Và cũng ngay tức thì, có nhà để ở, có xe để đi và…có vợ để lấy. Nên nó chỉ chỉ một mối lo duy nhất là ngày mai, không có gì để mà…lo. Và cuộc đời nó từ nay đến mai hậu chỉ có vậy, lặng lờ cùng bèo dạt nổi trôi về một bến mơ.
Nhưng có điều đáng nói là, chuyến qua thăm vợ chồng nó kỳ này. Nó níu kéo chuyện làng nước với tôi nhiều hơn, hình như có một chút nào hòai cổ. Hóa ra, nó vừa về thăm quê cha đất tổ, đó là làng Thổ Khối, ngay sát làng tranh Đông Hồ. Ngay lúc ấy, tôi nghĩ nó cũng như tôi, có một chút tuổi thì hay bám víu vào một cái gì đó. Qua rêu phong ẩm mốc của miếu đình cùng cây đa bến cũ. Sau đó nó sâm soi khoe tôi mấy tấm hình và chỉ vào ông từ giữ đền cùng giòng họ với nó, với chi này tông kia. Cho đến lúc này, tôi mới biết nó là anh em chú bác với Nguyễn Đăng Thục, với Mai Thảo Nguyễn Đăng Qúy.
Qua mấy tấm hình, tôi chỉ thấy cái hoang vắng, trầm uất của mái cong âm dương, bức tường loang lổ, cạnh là rặng chuối già trong những ngày nhạt nắng.
Trong một thóang mây bay, tôi thấy ông từ giữ đền già nua, như cái gạch nối giữa làng mạc và gia tộc, như người về tự trăm năm.
Rồi nó vồn vã chỉ tôi xem bức tranh treo bên hành lang và kể lể, mấy năm trước thằng bạn Mỹ bắt gặp ngòai chợ trời. Thấy có chữ Tầu và dấu triện đỏ, bèn mua và cho nó. Đi qua đi lại chỗ này một, hai lần, nay tôi mới thấy. Giữa bức tường và cái khung, giữa cũ và mới. Đập vào mắt tôi là con ruồi con đang vướng mắc, đong đưa trong cái màng nhện mỏng. Nó vừa định dơ tay “một vũng tang thương nước lộn trời”, thì tôi giữ ngay lại. Vì cả bức tranh sống động và có thần ở cái “buồn trông con nhện dăng tơ” này.
Cũng vừa lúc tôi bắt gặp một nhánh mai ẩn hiện sau nền tranh. Tôi biết tấm tranh ấy, do một họa sĩ ẩn danh ở hóc hẻm thành phố nào đó. Bức tranh vẽ thầy đồ cóc đang dậy học, đơn sơ bằng mực tầu trên giấy trắng. Nhưng thể hiện một phần nào biểu tượng quen thuộc của tranh Đông Hồ, một thời nổi tiếng của dòng tranh dân gian đất Bắc.
Được dịp múa may, tôi thao thao bất tuyệt với vốn liếng thu nhặt qua sách vở. Ngay cả thơ Hòang Cầm tôi cũng chẳng ngại ngùng gì để khuân vác vào đây:
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
“Giấy điệp dùng in tranh là lọai giấy dó mịn, làm bằng vỏ cây dó. Giấy được phết nhựa thông, bồi bột điệp óng ánh nghiền từ vỏ hến, vỏ sò để làm nền. Mầu trung thực lấy từ cây vườn, nội cỏ, mầu đen chế từ than lá tre khô, mầu xanh lam chiết từ lá chàm, mầu vàng từ hoa hòe hay quả dành dành, mầu đỏ từ thân cây vang, mầu nâu từ qủa bứa”.
Rồi tôi miên man về một cõi xa vắng nào đó như có thật, như ẩn hiện trước mắt:
“Không khí sầm uất vào cữ tháng Chạp, các thuyền xứ Đông, xứ Đòai ghé bến mua tranh. Thôi thì tất bật sớm khuya, chỗ này rậm rịch giã điệp, chỗ nọ dở ván in tranh, cọ rửa lau chùi, khói đốt than ẩn hiện là đà trên ngọn cây. Trong ngôi nhà vách nứa tường tre, các cụ nghiện trà đặc, thuốc lào Tiên Lãng, và trà móc câu Thái Nguyên, thì không thể vắng bóng trong các đêm làm tranh, tiếng thuốc lào sòng sọc nghe đến vui tai. Nước trà đặc sánh, làm cho đầu óc minh mẫn, tỉnh táo, khiến cho nét vẽ thêm sống động, nhuần nhuyễn, có hồn có vía”.
Chỉ bức tranh “Thầy đồ cóc” của nó, tôi vẽ vời qua bức “Đô vật” đang có ở nhà. Tôi huyền hoặc từng đường nét, từng góc cạnh của bức tranh, cùng những ước lệ của bố cục, sáng tạo theo trực giác, cảm tính này nọ. Qua bức “Gà ăn lá dáy”, tôi múa môi khua mép miêu tả từng mảng mầu sắc. Mảng này phủ lên mảng kia với sắc độ tự nhiên, tươi rói trên nền hồ điệp, trong veo trắng óng, với nước đen mềm mại, chắc khỏe của than lá bồi hồi.
Để rồi tôi mê mẩn, chìm đắm:
“Khắc ván tranh từ gỗ thị, gỗ mít mang về từ núi Thiên Thai, cả trăm năm không mọt, cùng những mẫu tranh in ván, tranh khắc, khuôn trổ lá…v..v…Mầu sắc dân dã từ lá tre, rỉ đồng, hoa hòe… Rồi xeo giấy, quậy hồ đặc quá thì vênh như bánh đa quá lửa. Xong đến in tranh, phơi tranh, gặp trời nắng ẩm, phải gia giảm mầu cho phù hợp với độ sốp của giấy. Tranh mới dập, gặp tiết hanh nồm, bị chua, bị vó”.
Hú vía, may mà nó không vặn vẹo bị “chua” với bị “vó” là gì? Chợt nhớ, có đồ gốm Bát Tràng thì không thể bỏ lại đằng sau đồ gốm Chu Đậu, nên tôi cũng không quên tiếp tục nhồi nhét nó:
“Lại còn tranh Hàng Trống nữa, kết hợp đường nét từ bản khắc gỗ, in trên giấy bản và dùng bút lông để vờn tranh, làm nhòe bớt nét gọi là căn. Chấm chỗ này, điểm chỗ kia, khiến tòan bức tranh đậm nhạt như tranh thủy mạc. Khác với tranh Đông Hồ khổ nhỏ, tranh Hàng Trống khổ lớn cho đền, chùa như những bức Đức Thánh Trần, Bà Chúa Liễu. Và không thiếu những bức tranh dân gian như tranh rồng rắn, bịt mắt bắt dê hay kéo co. Trước kia, từ dân cư địa bản lâu đời thuộc thôn Tự Tháp, sầm uất quanh năm. Nay lan ra phố Hàng Trống, rồi đến phố Hàng Nón, Hàng Quạt và ngay cả…Hàng Hòm. Nhờ trống tế trống hội, cờ phưỡn võng lọng, quần áo chầu của ông đồng bà chúa, ủng với hia…”.
Ra cái điều trên thông thiên văn, dưới thuộc lòng địa lý, tôi dẫn dắt nó về làng tranh Đông Hồ. Qua cầu Chương Dương trên sông Hồng, đừng quẹo mặt là làng Bát Tràng. Cứ dọc theo quốc lộ 1 lên Bắc Ninh, khỏang mấy cây số là gặp ngã ba. Men theo sông Đuống, nhìn qua con đê sẽ thấy chùa Đình Bảng, qua chùa Bút Tháp là tới.
Không sợ nó bị lạc. Được trớn, tôi kể lể mới năm nào tôi ghé đây, trong một ngày heo may chớm lạnh. Mặt trời đã lên nửa con sào mà khói sương còn vẩn vơ trên mái rạ, ngọn cỏ, đất bãi. Dòng sông Đuống cứ lặng lẽ nổi trôi, chẩy mãi và nhìn qua con đê là chùa Phật Tích, đền Gióng. Bỗng dưng tôi như cảm nhận được cái hồn của trời đất và tôi hòai vọng, một ngày nào đó không xa. Tôi sẽ trở về cái làng tranh đã đậm nét trong tôi, của cái tuổi ấu thời trong những ngày Tết. Và ngay lúc này, trong tôi như bừng dậy cái âm vọng rậm rịch, rộn rã của một ngày xeo giấy, khắc ván, in tranh, phơi tranh.
Đường mưa ướt đất, lại thêm một lần nữa, tôi dắt díu nó về nghìn năm mây bay, với Lý, Trần, Lê, Nguyễn: Những bản in tranh Đông Hồ ngày nay, cho ta hình dung đến công việc in sách cách đây 9 thế kỷ vào đời Lý. Khởi đầu từ các sứ thần sang Trung Hoa xin kinh và cho người học nghề khắc bản gỗ. Năm 1018, vua Lý Thái Tổ sai hai quan là Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạc, sang nhà Tống để thỉnh kinh Tam Tạng và thiền sư Tín Học cho khởi công khắc bản gỗ để in. Sau đó là đến kinh Kim Cương, Pháp Hoa, Dược Sư, Viên Giác. Theo sách Thiền Uyển tập, tổ phụ của nghề in mộc bản nước ta là Lương Nhữ Hộc, trú quán ở Liễu Chàng, huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương. Đồng thời, Sử Biên Niên ghi: Thế kỷ thư III, làng Yên Hòa có một thứ giấy gọi là “Mật hương chỉ”.
Đến năm 1295, vua Trần Anh Tông lại sai Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo sang nhà Nguyên xin kinh Đại Tạng. Thiền sư Pháp Loa, trụ trì chùa Qùynh Lâm đã bắt tay ngay vào việc khắc bản in. Mỗi trang sách là một bản gỗ, phải khắc lên chữ trái để khi in ra giấy bản là chữ phải. Vì có những bộ kinh lớn, bản gỗ lên tới 600.000 tấm, thời gian hòan tất trên 20 năm. Với hàng trăm người khắc và hàng trăm người in, cho vào khỏang 1.400 chùa chiền ở thôn xóm, đại tự, quốc tự, đó là chưa kể hai, ba năm đi lấy kinh về.
Mặt nó cứ nghệt ra, cứ như từ cái thời xuống tầu há mồm vào Nam, như chưa bao giờ mến mộ thằng anh vợ quá thể đến như vậy. Được thể, tôi múa gậy vườn hoang:
Nghề in mộc bản của nước Đại Việt ta cũng có những nét thăng trầm nổi trôi: Triều đại Lý-Trần sùng đạo Phật giáo, trong khi triều đại Lê-Nguyễn với độc tôn Nho giáo. Vua Lê Thánh Tông ra chiếu chỉ cấm xây chùa mới thì tiếp đến, vua Minh Mạng hạ lệnh thu hoặc đốt hết sách vở, kinh kệ của Đại Việt, nhất là chữ Nôm.
Vì vậy có thể nói, tranh khắc gỗ dân gian đã có mặt vào thời nhà Mạc và nhà Lê, qua nền đất cũ bên ven sông Đuống, nay còn vài tấm bia đá trên nền chùa cổ. Trên tấm bia “Đô Hồ Tự Bi”, khắc thời nhà Mạc (1527-1592), có trạm một đôi chuột đang giã gạo và có ghi tên làng là Đông Mái, thuộc tổng Hồ, trấn Kinh Bắc. Vua Lê Trung Hưng (1533-1789) vì thiếu tiền, ra lệ đóng ba quan tiền Minh Kinh để nộp quyển đi thi, nên có nạn quan trường thông đồng mua bán. Vì vậy mới có bức tranh dân gian “Chuột vinh quy”, chú chuột khệnh khạng đấm mõm ông mèo với cá và tôm. Thời cực thịnh vào thế kỷ 17 và 18, tranh Đông Hồ với Bát Tiên, Tố Nữ, tranh Hàng Trống với Đồng Tử-Tiên Dung và Ngũ Hổ. Tất cả những bản khắc gỗ cổ này, nay đã thất truyền.
Không phải thích nghịch ngợm với chữ nghĩa mà vốn dĩ, lề mề dông dài là cái tật. Nhưng bỏ thì thương vương thì tội, cũng chỉ múa may dăm ba hàng thôi: Kinh đô Thăng Long, đất nghìn năm văn vật phát triển theo từng thời đại để có cung điện, lâu đài cùng phốc xá và chợ búa để có cái tên chung là Kẻ Chợ.
Giữa phố và chợ được gọi là phường hay làng nghề. Như phường Yên Thái làm giấy, phường Nghĩa Đô với dệt lĩnh và phường Thụy Khê cất rượu. Cả ba phường đó người dân Thăng Long Kẻ Chợ, gọi gồm là Kẻ Bưởi. Đơn thuần chỉ là một địa danh, nhưng nó có gốc gác của riêng nó, cùng một dòng lịch sử kéo dài cả mấy trăm năm.
Thực tình đứng nói chuyện với nó, luẩn quẩn trong đầu tôi là hình ảnh ông từ giữ đền. Trong một ngày tàn nắng quái chiều hôm, rặng chuối già héo hon, tàn tạ bám vào mảnh đất cằn cỗi lâu đời…Để rồi, mỗi mảnh đất hình như đều số dòng sinh mệnh riêng của nó. Như làng Yên Thái bây giờ, giấy bồi, giấy bản, giấy hội đang đi vào buổi hòang hôn. Để chuyển qua làm nồi, làm đồng, vì vậy gần đây có câu lệnh cồng chiêng Bưởi. Làng Đông Hồ cũng vậy, từ tranh dân gian sang hàng mã, phẩm mầu giấy nhuộm, với những ông tiến sĩ giấy xanh xanh đỏ đỏ. Nghĩ lại cái buổi hòang kim Đại Việt của Lý-Trần thuở xưa với cả trăm nghệ nhân. Đến năm 1930 mới đây, rơi rớt còn là cụ Nguyễn Đăng Khiêm và ông cháu cùng vật đổi sao rời của làng tranh Bắc Ninh.
x x x
Trở về nhà, thằng bạn họa sĩ vẫn còn đang vật lộn với mấy bức tranh đằng cuối phố. Tôi vẩn vơ loanh quanh trong nhà, mò mẫm, lau chùi mấy ông thiền sư đang đóng bụi. Và chợt hình dung đến mớ đồ cổ ở nhà thằng em rể, những vật vô tri vô giác nằm lăn lóc dưới gầm tủ, lẩn khuất đằng góc nhà, vất vưởng như những cái bình vôi. Mặc dù là chỉ là tĩnh vật thô kệch, nhưng nó là cái gạch nối giữa quá khứ và hiện tại. Như một dấu ấn nghìn năm giữa người và vật. Và cuối tuần lại lục lọi mấy quyển sách ra đọc, đi tìm những địa danh đang đi vào quên lãng, như những chiếc ấm đất của vang bóng một thời. Để rồi có những ngẫu nhiên, như những móc xích hoen rỉ lạc lõng, thấy tập tài liệu “Tranh Đông Hồ” của những nhà biên khảo trong nước, của Mỹ, của Nhật, mà thằng bạn miền Bắc gửi cho ngày nào. Thấy có một đọan viết:
– “Làng tranh Đông Hồ có từ trên dưới năm trăm năm nay. Khởi nguồn từ dòng họ
Nguyễn Đăng, cha truyền con nối đến nay đã hơn hai mươi đời…”
Tập tài liệu còn cho biết thêm:
– “Một trong mười bẩy chi hay tông, mới từ Thanh Hóa theo Quang Trung Nguyễn
Huệ ra Bắc Hà lần thứ nhất và lập nghiệp ở vùng này, nhưng không nói rõ ở đâu”.
Từ một cái tên qua một dòng họ, bỗng dưng được moi móc tự đâu đâu. Quá mù sa mưa, tôi như bị vướng mắc trong cái màng nhện của gia phả, gia tộc. Thấp thóang lũy tre xanh, đình chùa, miếu đường, mồ mả gia tiên, căn nhà từ đường, họ hàng làng nước, bờ mương ao cá.
Để rồi lẩn thẩn liên tưởng đến “ngồi buồn con nhện dăng tơ”, cùng con ruồi đang vướng mắc giữa cũ và mới. Đến bức tranh “Thầy đồ cóc” treo bên hành lang: Như những cái gạch nối….
Thêm một lần níu kéo, ai chẳng một lần lọm khọm với dĩ vãng. Để thả hồn về quá khứ, trở về với gốc gác, cội nguồn của một dòng sông. Và một ngày nào đó, cũng chỉ vô tình thôi, tần ngần qua tấm mộ bia bên thửa ruộng hoang, qua đôi câu đối trước ngôi đền cổ, để lãng đãng về một dòng họ như: Phạm, Hòang, Cung, Vũ…
Ai ra bến nước trông về Bắc
Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
Phụ Chú: Thêm phần bài viết
“Tranh Hàng Trống”
ở phía dưới.
Tranh Hàng Trống
Có ba dòng tranh dân gian tiêu biểu trên đất Bắc, như tranh giấy điệp
Đông Hồ, Bắc Ninh, tranh giấy dó Hàng Trống, Hà Nội và tranh giấy
đỏ Kim Hòang, Sơn Tây. Tranh Hàng Trống cùng thời với tranh Đông
Hồ, có khỏang 500 năm nay, từ thời nhà Mạc. Khởi thủy từ dân làng Tự
Tháp, tổng Tây Túc, huyện Thọ Xương ven Hồ Tây. Sau về phố Hàng
Trống, với dòng tranh dân gian như tranh Rồng rắn, Gà đàn, Bịt mắt bắt
dê, Kéo co. Rồi lan qua phố Hàng Nón, hàng Quạt và Hàng Hòm với
ngành thủ công nghệ trống tế trống hội, hòm tráp sơn ta, quạt nón, cờ
phướng, võng lọng.
Giữa tranh Hàng Trống và tranh Đông Hồ có nhiều khác biệt như:
tranh Đông Hồ nghiêng về dân gian với khổ tranh nhỏ. Trong khi
tranh Hàng Trống khổ to và nặng về đền chùa như tranh Bà Chúa Mẫu,
Đức Thánh Trần, Trấn Vũ Môn, Bạch Hổ, Hắc Hổ và đặc thù nhất là bức
Ngũ Hổ, hiện còn ở chùa làng Kim Liên. Bức cổ nhất còn giữ được là
tranh Phật, hiện nằm trong viện bảo tàng, có đề ngày tháng “Quý Mùi lục
nguyệt khởi Minh Mạng tứ niên”, tức năm 1823.
Cả hai làng tranh Đông Hồ và Tự Tháp đều dùng những bản khắc gỗ
bằng gỗ thị, gỗ mỡ hay gỗ mực vì mềm và dẻo, nhưng rắn và mảnh để
không bị mẻ. Chỉ còn lại vài bản khắc cổ xưa, những bản khắc mới theo
tranh cũ, hoặc mượn bản khắc ở viện bảo tàng bên Nhật, bên Pháp. Được
nhóm thợ cha truyền con nối ở Phú Thọ và Sơn Tây thực hiện, một phần
vì ở đây, có cả rừng gỗ thị, gỗ mỡ thích hợp với những bản khắc gỗ như
đã đề cập đến ở trên .
Về cách in tranh thì tranh Đông Hồ dùng nhiều mầu, mỗi mầu là một bản
khắc khác nhau, tranh Hàng Trống ít mầu hơn với duy nhất một bản gỗ
thoa phẩm mầu đen, đặt giấy dó lên ván và xoa. Bóc tờ giấy ra, mảng
mầu đen là nền của bức tranh, mảng mầu trắng.còn lại được tô phẩm mầu
bằng bút lông. Người, cảnh, mây, nước với mầu nặng hay nhẹ, sáng hay
tối cũng còn tùy theo tay nghề. Giai đọan kế tiếp, tùy theo tranh, được
“vờn” thêm một lớp nước nhạt để làm nhòe nét vẽ in, gọi là “cản”, tương
tự như tranh thủy mạc. Xong bồi trên giấy dầy, hai đầu có lồng xuốt trúc
để treo.
Tranh Tết
Viên quan hai Léc rất điển giai, vẫn được bạn bè gọi là con gà sống tốt mã của cánh đồng nho Léc nói sõi tiếng Việt, giỏi mỹ thuật, và rất chú trọng tìm hiểu phong tục Giao Chỉ. Được về làm sếp bốt Ngã Tư Hồ, hôm trước, hôm sau Léc đã tha thẩn dẫn bọn lính vào làng. Hắn được biết ở đây người ta làm nghề vẽ tranh tết, và lúc này đang là mùa in tranh. Khi đi trên bờ sông Đuống, Léc để ý có những chiếc thuyền dọc đỗ nép vào bờ đun nấu khói nghi ngút. Một tên lính cho Léc biết đó là thuyền ở xa đến chờ mua tranh tết. Hắn cau trán hầm hừ cái gì không rõ trong cổ họng. Léc đến đầu làng, cảm thấy mùa xuân xứ này đang đến, mưa chăng như mạng nhện; và khóm lá giong – thứ lá dân bản xứ gói bánh chưng tết – thì xanh rờn, run rẩy trong gió rét. Để tỏ thái độ thiện cảm, Léc cố giữ bộ mặt vui vẻ thậm chí còn gật đầu chào những người qua lại, mặc dầu họ có một ánh mắt mầu đen phương Đông đáng sợ, đang nhìn hắn như nhìn quân ôn dịch. Qua chiếc cổng làng có dòng chữ Trung Hoa, Léc bước thanh thản trên con đường gạch.
Con trai lão quận trưởng đi bên Léc, tên thông ngôn này rất được Léc yêu, vì hắn vẫn là cố vấn về các vấn đề phong tục và địa phương cho Léc, giải thích:
– Thưa ngài, con đường chúng ta đang đi, có lịch sử kỳ thú của nó. Tôi muốn nói là những viên gạch này mang nhiều ý nghĩa. ở vùng đây mỗi cô gái đi lấy chồng, theo tục lệ, phải lát cho làng một đoạn đường gạch. Kết quả là những lớp gạch cũ, mới cứ nối nhau chạy dưới rặng tre xanh thế này…
Léc cười thích thú, hắn gượng nhẹ gót giày uốn éo nhún nhẩy. Những cô gái mắt xếch của phương Đông ơi (thực ra không có ai mắt xếch) – hắn nói – tôi đang đi trên những kỷ niệm của các cô:
Tên thông ngôn đưa Léc ngoặt vào chiếc cổng tre:
– Đây là nhà một lão khắc tranh giỏi nhất làng – hắn nhấn mạnh – Ngài sẽ được xem họ làm việc như thế nào.
Léc nhìn thấy một ông già râu tóc trắng xóa, vận áo cúc vải, đang ngồi chăm chú ngoại hiên với bộ dao khắc và tấm gỗ vàng hươm.
– Chào ông già, quan đến xem làm tranh, có thế thôi, ông cứ làm việc bình thường – tên thông ngôn nói.
Ông cụ dừng tay, gương mặt đỏ hồng thoáng tái một chút rồi cúi xuống. Đôi tay với những ngón xương xẩu lại cử động một cách tinh tế, sử dụng bộ “ve” khắc thuộc lòng trên mặt gỗ. Léc chăm chú ngắm, chụp ảnh, tỏ ra là người có văn hóa. Bọn lính đi theo rất chán ngán, chúng ngáp, rậm rịch bước quanh sân, mắt lơ láo ngó chuồng gà. Léc nhìn vào trong nhà thấy một bà cụ già, mấy đứa trẻ con, và những người khác đang bỏ việc, đưa mắt cho nhau nghi ngại.
– Các người cứ làm việc bình thường, bà lão kia nghe rõ chửa, quan đến xem, không bắt bớ gì – tên thông ngôn nhắc lại.
Mấy người cúi xuống, bà lão lại đều đều chấm chổi lông vào chậu điệp phết lên từng tờ giấy dó và vứt la liệt sau lưng. Mầu điệp trong trắng vàng vàng như sắc ngà voi, óng ánh chiều sâu làm Léc hết sức ngạc nhiên.
– Thưa ngài, đó là một thứ vỏ sò mục nát – tên thông ngôn giải thích – người ta nghiền ra hòa với một chất keo gì đó.
– Một thứ vỏ sò, tôi hiểu – Léc gật đầu.
Ở góc nhà bên kia là hai đứa trẻ thò lò mũi, một đứa quệt mầu lên khuôn gỗ; một đứa đặt giấy, Léc thấy như là chúng đang chơi trò của trẻ con thì đúng hơn là in tranh. Những người bên cạnh chấm bút vào các chậu mầu và tô lên rất nhanh. Chỉ một loáng tranh đã hoàn thành và được đem ra sân phơi. Léc đưa một bức lên ngắm nghía. Hắn thấy một cây dừa châu á, một người đàn ông hóm hỉnh, mặt mũi tràn trề hạnh phúc, đóng khố, mình trần, vú nổi to như lực sĩ ném đĩa Hy Lạp đang trẩy quả vứt xuống. Dưới gốc dừa, một người đàn bà hai tay trần kéo váy lên hứng. Người đàn bà rất đẹp… Léc kinh ngạc nhìn ông già râu trắng ngoài cửa, nhìn những đứa trẻ con và sau rốt, hắn khuấy ngón tay vào chậu mầu; hắn không thấy những mầu này có trên các bức danh họa phương Tây.
– Thưa ngài, những chất liệu này lấy trong cây cỏ tự nhiên – tên thông ngôn tỏ ra am hiểu – chẳng hạn mầu xanh này lấy ở một thứ lá rừng. Và thứ lá kia lại có một mầu hồng kín đáo đến nỗi các cô gái có thể nhuộm móng tay. Mầu đen này là lá tre đốt đi ủ nước. Còn mầu vàng có thể từ hoa hòe, loại hoa để uống nước có tên khoa học là Sophora giapônica, hoặc một thứ cây thuộc họ cà-phê gọi là giành giành theo tên địa phương. Còn như mầu trắng lấm chấm tựa những vì sao kia là vỏ trứng giã nhỏ trộn với chất dính.
– Nhưng còn cái này – Léc băn khoăn – tôi chưa hiểu, cái mầu xanh lam sâu đậm và óng ánh đến là lạ.
– Hình như đó là một thứ gỉ đồng, ngài có trông thấy gầm giường kia có những chiếc mâm đồng, dưới tác dụng của a-xít trong quả gì đó, lên gỉ. Người ta trộn nó với nhựa thông, phết lên tranh rồi mài cho nhẵn và trong.
Léc gật đầu khâm phục. Hắn nhìn hết lượt các bức tranh thấy những con gà, con lợn, cóc, chuột… dường như đang cử động. Những người trong tranh đang cưỡi ngựa, cưỡi voi, cầm đao giương cung rất hào hùng. Léc thấy sợ sợ cái gì, có lẽ là sự lầm lì của ông già râu trắng, những người đàn bà hai đứa trẻ kia…
Khi viên quan hai Léc trở ra, hắn cầm bản khắc của ông già lên xem. Hắn thấy một con gà trống lạ lùng, tấm thân đường bệ kiêu hãnh, cái mào và đôi chân hiên ngang; con gà như sắp gáy lên. Chao ôi, con gà dân gian Giao chỉ!… Léc máy mắt, hắn không dám nhìn lâu, tưởng cái mỏ kia có thể mổ vào mắt hắn.
– Ông già! Nếu ông bằng lòng bán cho ta bản khắc này, ta sẽ trả ông số tiền mà ông muốn.
Ông già lắc đầu.
Léc gặng:
– Năm mươi đồng?… Một trăm đồng, chắc ông ưng?
Ông già vẫn lắc đầu, trán nổi gân. Léc thấy thất vọng; nhìn gương mặt ấy, hắn biết khó lòng mà toại nguyện trừ giả giở trò cướp bóc.
– Ông lão này lạ thật – tên con lão quận trưởng xẵng giọng – Ông lấy bao nhiêu tiền thì nói lên.
Ông già đứng dậy giành lấy bản khắc trong tay tên sếp bốt, điềm tĩnh:
– Thưa quan đồn, cái này không có giá.
Thấy cuộc mua bán lôi thôi, những tên lính trố mắt ngạc nhiên. Quan hai mua làm gì? Giá tiền cao thế sao lão già không bán?
Ông già đưa “ve” sửa vài nét ở cựa gà, không nói năng gì. Léc gật đầu, gương mặt hằn lên những đường gân xanh nanh ác, nhưng môi lại nở nụ cười:
– Thôi đừng ép ông già. Đó là tác phẩm của ông, là tâm hồn của ông.
Hắn quay ra và nụ cười tắt ngay, chỉ còn luồng mắt xanh lè như mắt ma đưa loang loáng. Bất chợ Léc đứng sững lại, nhìn thấy một bản khắc cũ bỏ đi, được dùng vào việc đậy cửa chuồng gà. Léc đưa mắt cho tên thông ngôn. Tên này khá thông minh, hiểu ngay, nhanh nhẹn tiến đến nhặt lấy và đi thẳng ra cổng.
***
Gió tháng chạp lùa qua trấn song sắt nhà giam giá buốt. Tiếng ồn ào của những người đi chở ngoài đường vọng vào càng làm ông lão buồn rầu. Chúng nó bắt giam ông đã một tuần nay, hằng ngày cho ăn cơm thịt bò, nhưng lại để mặc ông với bức tường – mà không hỏi han gì . Về đêm, ông lão không sao ngủ được, đôi tay buồn bực chỉ biết vuốt râu. Mùi gỗ thị, và mùi giấy mới hồ thơm thơm, chao ôi, sao mà ông nhớ nó thế. Nhiều lúc ông mệt thiếp đi nhưng lại sực tỉnh ngay. Những hình vẽ trong tranh cứ chập chờn trước mặt. Làm sao mà ông không nhớ cho được khi cả đời ông gắn bó với nó. Kỷ niệm hồi nhỏ của ông là những lần bị bố đánh sưng tay vì vô ý chệch một đường “ve”. Nhưng chính từ hồi ấy ông khắc đã được nhiều người khen. Theo các cụ dạy, trước khi bắt tay vào tranh, bao giờ ông cũng mặc áo dài, sửa lễ cầu ông tổ nghề tranh run rủi cho khí thiêng nhập vào người. Có thế khắc mới đẹp. Khi cầm đến “ve” đến gỗ, cứ mê đi mà làm. Ông nhớ hồi trẻ khi nhắc lại bộ Tố nữ, ông đã mải miết đến ba tháng trời. Suốt ngày ông nằm bò ra sửa từng ly từng tý đường nét trên cái cổ “kiêu” ba ngấn, đuôi gà tóc, đuôi mắt có tua… Vợ ông đã điên tiết lên, nghi ông điểm bùa vào tranh; in được tờ nào, bà lấy kim biêm mắt hết lượt rồi mới bán. Ông lão nhớ những đôi mắt một mí hiền lành của chú bé tay ôm con vịt trong tranh “Vinh hoa” , nhớ cái khoáy âm dương trên lưng con lợn ăn cây dáy… Rồi chính ông cũng bật cười nghĩ đến vẻ vênh váo của chú Trạng Chuột trong đám rước dâu; vẻ cong cớn của chị vợ tay cầm kéo, búi tóc ngược, đánh ghen; dáng lụ khụ của thầy đồ Cóc giữa đám môn sinh… Ông thuộc lòng từng khuôn mặt người trong tranh như khuôn mặt láng giềng đến nỗi nhắm mắt có thể đưa “ve” lên gỗ được. Những người trong tranh rồi đến cả con gà con lợn ở đấy cũng thành bè bạn của ông rồi!… ấy thế mà bây giờ chúng bắt ông phải xa tất cả vô cớ giam ông vào đây.
Vào một ngày cuối tháng, tên sếp bốt cho gọi ông lão lên nhà. Hắn mời một cốc rượu vang đỏ rồi nhún vai:
– Thật đáng tiếc, trong những ngày ta đi vắng, người ta đã bắt giam nhà họa sĩ dân gian này. Nhân tiện đây ta ngỏ lời muốn ông thoả mãn những yêu cầu thẩm mỹ của ta – điều ta đã nói với ông lần trước, ông bán cho ta, tất cả số bản mà ông đã khắc từ xưa đến nay.
– Thưa quan đồn, tôi không có – ông già nói; một lát giọng dịu hơn – tôi chỉ có vài bản để in, bán đi lấy gì sinh sống.
– Ta sẽ trả tiền ông, rất nhiều, đừng lo.
Ông lão xòe bàn tay, vẻ thành thực:
– Quả tình tôi không có: Tôi già rồi, khắc chậm chạp, được bản nào là bán cho bà con cả.
– Ta không biết, lão làm thế nào có cho ta thì làm. Chẳng hạn như từ giờ trở đi, lão sẽ bắt tay vào khắc lại tất cả, và dạy ta cách khắc của lão.
– Thưa quan đồn, tôi không làm được việc ấy.
– ông không tốt với ta – viên quan hai nhún vai, bỏ vào nhà trong.
Tên lính vừa đẩy ông lão xuống nhà giam vừa càu nhàu:
– Sao thằng già ngu thế? Lão bán cho mọi người được thì bán cho quan Tây cũng được chứ sao? Ông ấy mà nổi cáu thì lão mất đầu.
***
Ngày hôm sau vào phiên chợ Chằm, những người đi bán tranh tết bị lính cướp giật từng bó. Họ hốt hoảng, tắt đồng vào chợ. Chợ vỡ mấy lần vì người ta co kéo giành lại tranh bị cướp. Dân các tổng mua tranh vội vã giấu xuống dưới thúng hàng. Tin dữ về “vận hạn” tranh tết năm nay làm xôn xao. Ban ngày thoáng thấy bóng thằng lính nào lảng vảng về làng, người ta báo nhau cất giấu hết. Bọn lính nhiều lần sục vào cướp giật bản khắc đều không được. Dân làng chửi rủa chúng và đôi khi lo lắng, nhưng tranh in ra vẫn cứ nhiều như mọi năm. Người ta có đủ cách giấu giếm, chuyển đi các nơi. Chuyện ấy đến tai tên quận trưởng. Vì tò mò, hắn thân hành sang hỏi Léc. Viên sếp bốt mỉm cười:
– Chẳng có liên quan đến ông đâu. Nhưng nói chung những bức tranh này không có lợi cho chúng tôi. Nó kích động lòng kiêu hãnh của dân bản xứ về quê hương đất nước của họ. Càng ngày số tranh bán ra càng nhiều quá đáng, tôi muốn hạn chế đi. Đấy là chưa kể những tranh gây tác hại trực tiếp, ông xem đây – Léc đẩy ra một bức tranh trong đó có con mèo già mắt xanh lè độc ác – Có phải đây là sự ngụ ý sâu xa nào chăng? Tôi lại còn nghe ở làng này, người ta in cả truyền đơn và cờ Cộng sản. Thật tai hại, ngài quận trưởng ạ – Léc ngừng một lát rồi tiếp – ông có thể mua cho dân chúng “nghiện” tranh của xứ này những bức vẽ hình đàn bà váy ngắn, từ bên Pháp bán sang rất nhiều mà ông đã thấy…
Tên quận trưởng về rồi, Léc lại gọi ông già râu trắng lên:
– Ông đã đủ thời gian suy nghĩ chưa? Vì lý do gì ông không thể giúp ta điều ấy?
Ông già ngồi trầm ngâm, đôi má hóp lại. Ông không thể làm xấu cái nghề của tổ tông. Ông nhớ lại chuyện cụ tổ mấy đời làng này từng bị giặc Minh bắt đi khắc tranh cho chúng; cụ cắn lưỡi tự tử chết chứ không chịu. Bây giờ đến lượt ông đây, ông không thể làm thẹn mặt tổ tiên. Nhìn đôi mắt ông già, Léc lại thấy thất vọng, hắn bực bội giậm chân trở vào. Ông già nhìn thấy một thằng Tây say đi ra. Hắn đập vỡ cổ chai rượu vang nốc ừng ực:
– Lão… già… chết!…
Những sợi râu trắng trên ngực ông già run run. “Khắc tranh cho giặc là bán nghề cho giặc, làm tuyệt đường sinh sống của con cháu! Dòng dõi ông sẽ bị dân làng nguyền rủa mà lụn bại! Ông sẽ phải chịu tội với ông tổ nghề tranh!…”.
Mặt ông đỏ bừng lên, vầng trán hằn giận dữ đến nỗi thằng Tây say loạng choạng phải chăm chú:
– Khà! Tao sẽ chặt cái ngón tay khéo léo của thằng già nếu thằng già không nghe lời ông Léc.
Ông lão rùng mình. Chòm râu dựng nhô ra. Giấu hai tay sau lưng, ông lùi lại sát tường lấy thế đứng tấn như lên đài vật.
– Thằng già nghe rõ chưa?
Nghe câu hỏi, mặt ông lão lại cháy bừng, cái búi tó củ hành xổ tung. Ông nhìn ra cửa, không thấy một khe hở nào. Mắt ông đảo vào chiếc bàn vuông. Nếu chúng động đến, ông sẽ nâng cái bàn này quật vào mặt chúng rồi cắn lưỡi tự tử.
Thằng Tây say đập nốt cái vỏ chai còn lại, ngồi xuống ghế im như chết, thậm chí có một lúc hắn nhắm nghiền mắt lại. Ông lão nhìn ngón tay mình hốt hoảng, bất thình lình, thằng Tây vùng dậy, ném con dao sáng loáng lên bàn và vồ lấy ông như con mèo đói. Ông lão vùng vẫy kịch liệt. Mấy thằng lính khác vào giúp sức, chúng ôm chặt lấy ông đặt lên ghế. Vừa cười sằng sặc, thằng Tây say vừa kéo tay ông già lên bàn. Hắn dứ dứ con dao, dằn giọng:
– Thằng già có khắc tranh cho quan đồn không?
Năm ngón tay gầy khô xòe rộng trên bàn. Trong khi ấy ở phòng bên, viên quan hai Léc nghe thấy tiếng dao chặt cộc cộc hai nhát rất mạnh. Hắn nhún vai bóc lá thư của một người bạn họa sĩ từ Pháp mới gửi sang:
“Léc. Chúng mình đã nhận được bản khắc tranh con gà mà Léc sưu tầm được ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Chắc Léc không tưởng tượng được niềm vui của chúng mình. Thật là một tác phẩm vô giá”.
Đông Hồ 12-1969
