Nguyễn Đông A: Sài Gòn – Chợ Lớn (Tùy Bút 1) – CHỢ LỚN – NƠI KẺ LƯU VONG DỰNG LÊN PHỒN HOA

The Best Cholon (Tranh: nguồn www.getyourguide.com)

PHƯỜNG MỚI MANG HỒN CŨ

Một người bạn thân gợi ý tôi viết về Sài Gòn. Thật ra, trong tay tôi đã có không ít bài viết về vùng đất này, nhưng chưa bao giờ nghĩ sẽ gom chúng lại thành một cuốn sách. Một phần vì Sài Gòn đã quá nhiều người viết, viết rất hay, đến mức tôi cứ ngại mình sẽ bước tiếp trên những dấu chân đã quá quen thuộc. Vậy mà sau gợi ý ấy, trong lòng tôi bỗng nảy lên một sự thôi thúc. Tôi thấy mình cũng có một góc nhìn riêng, một cách cảm riêng về thành phố này, và nếu không viết ra thì có lẽ sẽ tiếc. Thế là tôi bắt đầu từ Chợ Lớn, nơi lưu giữ nhiều kỷ niệm củamình, rồi từ đó mới bước dần vào những quận trung tâm.

Từ năm 2025, Chợ Lớn chính thức trở lại trên bản đồ hành chính thành phố với tư cách là một phường mang tên “Chợ Lớn”, được hình thành từ việc hợp nhất bốn phường cũ của Quận 5 gồm phường 11, 12, 13 và 14. Trên diện tích gần 1,6 km² với gần 85.000 cư dân, phường mới trải dài qua những con đường đã quá quen thuộc như Hồng Bàng, Trần Hưng Đạo, Hải Thượng Lãn Ông. Một số người xem đây không chỉ là một cuộc sắp xếp đơn vị hành chính, mà còn là sự trở về của một cái tên đã sống rất lâu trong ký ức của thành phố.

Tôi không dám khẳng định cách nhìn ấy đúng đến đâu. Chỉ biết rằng, mỗi lần nghe hai tiếng Chợ Lớn, trong lòng tôi vẫn dâng lên một cảm giác rất khó diễn tả. Điều làm tôi nhớ không phải chỉ là một cái tên, mà là lớp trầm tích văn hóa, lịch sử cùng biết bao số phận đã lặng lẽ bồi đắp nên vùng đất này suốt bao đời.

Dẫu cách gọi có đổi thay qua từng giai đoạn, Chợ Lớn vẫn mãi là Chợ Lớn trong ký ức của những người từng sinh sống, từng mưu sinh và từng dành tình cảm cho nơi này. Tôi vẫn nhớ lời một tiểu thương đã gắn bó cả đời với khu chợ: “Với chúng tôi, Chợ Lớn là nhà. Dù tên gọi thế nào, tinh thần và nét riêng của nó vẫn mãi như vậy.”Nghe xong câu nói ấy, tôi chợt hiểu rằng có những địa danh sống rất lâu trong lòng người. Chúng không tồn tại nhờ một tấm biển tên hay một quyết định hành chính, mà được gìn giữ bằng ký ức, bằng tình cảm và bằng cái hồn của biết bao thế hệ đã đi qua. Điều bền vững nhất của một vùng đất chưa bao giờ là tên gọi, mà là khi mỗi lần nhắc đến nó, lòng người vẫn còn thấy mình thuộc về nơi ấy.

ĐÔ THỊ KHÔNG AI VẼ RA TRƯỚC

Câu chuyện của Chợ Lớn bắt đầu từ những chuyến đi. Cuối thế kỷ 17, những đoàn thuyền chở người Hoa rời quê hương, xuôi về phương Nam. Họ mang theo không chỉ hành lý, mà còn cả tập quán, tín ngưỡng, nghề nghiệp và khát vọng lập nghiệp nơi đất lạ. Ban đầu họ dừng chân ở Cù Lao Phố, nhưng biến động lịch sử đẩy họ tiếp tục di chuyển, tìm đến vùng đất ven kênh Bến Nghé – Tàu Hủ, nơi dòng nước hiền hòa và tuyến giao thương thủy bộ thuận lợi.

Trước đó, chính ở nơi này, người Hoa đã lập nên một thị trấn vào năm 1778, nằm từ đường Tản Đà tới Kim Biên và từ Nguyễn Trãi xuống kênh Tàu Hủ. Năm 1782, khu vực ấy bị tàn phá nặng nề trong binh lửa. Rồi chính những người Hoa chạy nạn từ Cù Lao Phố xuôi về đây đã cùng nhau xây dựng lại, từ đống tro tàn dựng lên một nơi sinh sống sung túc và nhộn nhịp hơn xưa.

Chợ Lớn lớn dần theo từng chuyến ghe, từng mùa nước nổi. Thuyền từ miền Tây chở lúa gạo, trái cây, hàng hóa cập bến nối nhau. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng mặc cả, tiếng chèo khua nước, chúng hoà vào nhau thành một nhịp điệu không lẫn vào đâu được. Tên “Chợ Lớn” bắt nguồn từ chỗ so với chợ Tân Kiểng của người Việt, chợ của người Hoa lớn hơn nên dân gian quen miệng gọi vậy, rồi tên chợ thành tên đất, lưu lại đến tận hôm nay.

Điều đặc biệt là Chợ Lớn chưa bao giờ được “vẽ” ra trên giấy trước khi tồn tại. Nó không được quy hoạch thành đô thị từ đầu, mà lớn lên từ đời sống.Phố này bán vải, phố kia bán thuốc, phố nọ làm lồng đèn. Từng con đường, từng khu phố đều mang dấu ấn từ nhu cầu, không phải của bản vẽ. Chính vì thế, nó mang một sức sống tự nhiên mà ở những khu đô thị quy hoạch sẵn hiếm khi có được.

NGƯỜI CHẠY TRỐN DỰNG NÊN PHỒN HOA

Tôi từng viết về Cù Lao Phố trong cuốn sách “Hồn phách núi sông”, viết về một thương cảng phồn vinh như mạch máu căng tràn giữa vùng sông nước Biên Hòa. Nhưng Cù Lao Phố không phải nơi yên bình vĩnh cửu. Định mệnh đẩy những con người đến đó, rồi cũng chính định mệnh quét họ đi. Và từ đống tro tàn của nó, Chợ Lớn sinh ra.

Lật lại trang sử, năm 1679, hai viên tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên không cam chịu thần phục Triều Thanh, dẫn ba ngàn quân vượt biển tìm đất dung thân. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần với con mắt nhìn xa, gật đầu cho định cư. Thế là những chiến thuyền trườn theo dòng nước tiến sâu vào phương Nam. Một nhánh tấp vào Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên cùng tùy tùng neo lại Biên Hòa, lập nên Cù Lao Phố, thương cảng đầu tiên của người Hoa trên đất Việt. Những năm đầu, nơi ấy rực rỡ như hòn ngọc giữa vùng nước đục.Thương nhân khắp nơi kéo đến, đêm đêm tiếng chén khua vang từ các tửu lầu, người người cười nói bằng đủ thứ tiếng, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Nam Kỳ.

Nhưng vinh quang nào rồi cũng có ngày tàn. Năm 1776, quân Tây Sơn đánh Gia Định, Cù Lao Phố bị thiêu rụi. Người Hoa sống sót tháo chạy, xuôi về Đề Ngạn, tức Chợ Lớn ngày nay. Khi dòng người tị nạn ấy đổ về, vùng Đề Ngạn chỉ là một vạt đất thấp ven kênh Tàu Hủ. Nhưng những kẻ tay trắng này mang theo thứ mà vùng đất cần nhất. Ý chí và kinh nghiệm buôn bán. Họ mở lại những cửa hàng nhỏ, hồi phục dần mạng lưới thương mại. Chợ Lớn hình thành, thừa hưởng sức sống đã mất của Cù Lao Phố, rồi lớn hơn, bền hơn, sâu rễ hơn.

Cái tên Đề Ngạn (堤岸) của Chợ Lớn cũng gây ra nhiều tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu nói nó có nghĩa là “bờ đê”, nhưng học giả An Chi bác bỏ, ông lập luận rằng Sài Gòn không hề có đê, và chữ Đề Ngạn ban đầu người Hoa viết là “提岸” với bộ “thủ”, về sau mới đổi thành “堤岸” với bộ “thổ” vì muốn giải thích theo nghĩa bờ đê. Cả hai cách viết đều đọc là “Thầy Ngòn” trong tiếng Quảng Đông và đó chính là cách người Hoa phiên âm địa danh “Sài Gòn”. Một chi tiết nhỏ, nhưng gợi lên cả một lớp trầm tích ngôn ngữ và văn hóa mà ít ai để ý đủ sâu.

NHỮNG ĐẠI BANG CỦA KẺ XA XỨ

Năm 1841, người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức thành một “đại bang” gồm bảy bang hội theo quê quán: Quảng Châu, Phúc Châu, Phúc Kiến, Triều Châu, Quế Châu, Lôi Châu và Hải Nam. Mỗi bang lo cho dân của mình. Họ dựng hội quán, chùa chiền, trường học, lập thương hội. Đây là những “ngân hàng ngầm” của người Hoa, là nơi xoay tiền, góp vốn, tạo thế lực. Chính những bang hội này đã giúp Chợ Lớn bứt lên thành trung tâm thương mại lớn nhất Nam Kỳ.

Dưới thời Pháp, người Hoa được hưởng những đặc quyền kinh tế nhất định, từ đó dựng lên những thương điếm lớn như xưởng xay lúa, tiệm vàng, tiệm thuốc Bắc, xưởng rượu, dần dần kiểm soát một phần đáng kể nền kinh tế Nam Kỳ. Từ cuối thế kỷ 19, Chợ Lớn giao thương trực tiếp với Singapore, Mã Lai, Indonesia, tạo thành mạng lưới thương mại xuyên Đông Nam Á. Người Hoa kiểm soát ngành xay lúa, xuất khẩu gạo, thầu địa ốc, sản xuất nhiều mặt hàng thiết yếu. Những cỗ máy xay lúa nhập từ Anh, những nhà máy tân tiến, những chuyến tàu viễn dương, tất cả chúng đều in dấu tay một cộng đồng hùng mạnh đang ở giai đoạn sung sức nhất.

Ngay từ thời các chúa Nguyễn, người Hoa được chia thành hai nhóm. Minh Hương gồm những người trung thành với nhà Minh, định cư lâu dài, hòa nhập với người Việt.Và Hoa Kiều, những người nhập cư vẫn giữ quốc tịch Trung Hoa. Đến thời Pháp thuộc, vấn đề quốc tịch trở nên rối rắm. Luật 1933 định nghĩa Minh Hương là dân được bảo hộ, còn Hoa Kiều là người ngoại quốc. Đến năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 10, quy định tất cả người Hoa sinh tại miền Nam phải nhập quốc tịch Việt Nam, vấp phải phản ứng dữ dội từ giới tài phiệt người Hoa. Dù pháp luật có thay đổi ra sao, người Hoa vẫn trụ lại. Họ đã từng mất Cù Lao Phố, nhưng Chợ Lớn thì không.Bởi lần này họ đã bám rễ đủ sâu để không cơn bão nào bứng nổi.

TỨ ĐẠI PHÚ HÀO VÀ NHỮNG HUYỀN THOẠI CÒN KỂ MÃI

Giới tài phiệt miền Nam xưa có câu truyền tụng: “Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”. Tức Huyện Sĩ Lê Phát Đạt, Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, Bá hộ Xường và Hứa Bổn Hòa. Nhưng một cách xếp hạng khác lại đẩy Hứa Bổn Hòa lên vị trí đầu, kế đó là Quách Đàm, Bá hộ Xường và Lý Tường Ích. Điểm chung của họ là xuất thân tay trắng, rồi nhờ buôn bán, cầm đồ và đầu tư địa ốc mà vươn lên thành những đại phú gia nắm giữ mạch máu kinh tế miền Nam.

Tôi nhớ lần đầu đi ngang tòa nhà cổ kính của Bảo tàng Mỹ thuật Sài Gòn trên đường Lý Thái Tổ, người ta hay bảo đó là “nhà Chú Hỏa”. Giai thoại về Hứa Bổn Hòa, ông trùm bất động sản từng sở hữu hàng vạn căn nhà ở Sài Gòn, chưa bao giờ thôi ám ảnh người đời. Nhưng giữa những truyền kỳ về tài sản khổng lồ, thứ khiến người ta nhớ mãi lại là một câu chuyện khác.

Những năm 1970, màn ảnh miền Nam rộ lên bộ phim kinh dị “Con ma nhà họ Hứa” của đạo diễn Lê Hoàng Hoa, dựa trên giai thoại đẫm màu liêu trai về Hứa Tiểu Lan.Người con gái bỗng dưng biến mất khỏi tầm mắt mọi người. Rồi những đêm thanh vắng, từ trong dinh thự vẳng ra tiếng khóc ai oán. Người nói cô chết vì bệnh phong, kẻ bảo cô bị nhốt kín trong buồng tối, gia nhân mang cơm qua khe cửa hẹp. Lại có kẻ kể ngày giỗ đầu, đĩa cơm gà dọn sẵn sáng ra đã vơi một nửa, con búp bê đứng sững chớp mắt lia lịa. Hư thực thế nào, không ai dám khẳng định. Gia phả nhà họ Hứa ghi rõ ông có đến 11 người con gái và 4 con trai.Câu chuyện về Hứa Tiểu Lan nhiều phần là sản phẩm của trí tưởng tượng dân gian. Nhưng chính nó đã khiến người đời nhắc mãi cái tên Hứa Bổn Hòa. Đó là nghịch lý thú vị nhất của lịch sử.Đôi khi một ông trùm được nhớ không phải vì đế chế ông xây nên, mà vì câu chuyện ma quái người ta kể về nhà ông.

TỪ VE CHAI ĐẾN ĐẾ VƯƠNG CHỢ BÚA

Nhưng nếu Hứa Bổn Hòa là huyền thoại của địa ốc, thì Quách Đàm là huyền thoại của thương trường.Ông đi lên từ một điểm xuất phátkhiêm tốn hơn bất kỳ ai.

Tôi hình dung một buổi chiều cuối thế kỷ 19, một cậu bé Hoa kiều mới 14 tuổi, thân gầy áo xộc xệch, bước xuống bến cảng Sài Gòn với hai thúng ve chai, lông vịt, phế liệu trên vai. Quách Đàm lê bước qua những con hẻm ngoằn ngoèo của Chợ Lớn, đôi chân bấm xuống đất, mắt dõi theo từng miếng đồng vụn, từng mẩu da trâu bỏ đi mà người khác chẳng buồn nhặt. Anh đi sớm về trễ, mua rẻ bán lời, dành dụm từng xu lẻ. Người ta thấy anh ngủ vạ vật dưới mái hiên chợ, ăn uống kham khổ đến mức da bọc xương, nhưng ánh mắt thì luôn sáng quắc như loài diều hâu.

Từ ve chai, anh chuyển sang mua da trâu, rồi lập xưởng thuộc da, mở công ty Thông Hiệp chuyên xuất nhập khẩu. Những nhà máy xay lúa Di Xương, Thông Mậu, Thông Thạnh mọc lên, mỗi ngày xay hàng ngàn tấn gạo. Rồi anh lấn sang mía đường Tây Ninh, bông vải Cao Miên, lập hãng tàu Nguyên Lợi nối Sài Gòn với Singapore, Hồng Kông, Quảng Châu. Đế chế của ông trải dài từ ruộng đồng miền Tây đến những bến tàu viễn dương.Người ta gọi ông là “Vua Lúa Gạo”, và cái biệt hiệu ấy không phải lời nịnh hót mà là sự thừa nhận thực lực.

Giai thoại kể rằng khi lập tiệm buôn đầu tiên, Quách Đàm nhờ thầy phong thủy xin chữ hiệu. Ông thầy viết đôi câu đối: “Thông thương sơn hải / Hiệp quán càn khôn.” Ông lấy hai chữ đầu “Thông Hiệp” đặt tên và từ đó thiên hạ gọi hắn là ông Thông Hiệp. Trụ sở đặt tại Quai de Gaudot, tức đường Hải Thượng Lãn Ông ngày nay, khi ấy vẫn còn là con kinh chằng chịt thuyền ghe.

Năm 1928, Quách Đàm xuất tiền xây chợ Bình Tây, còn gọi là Chợ Lớn Mới. Tòa tháp trung tâm vươn cao với bốn mặt đồng hồ, trên nóc “lưỡng long chầu châu”, bốn góc chợ có chòi nhỏ mái ngói âm dương uốn lượn như những ngôi chùa cổ. Giữa sân chợ, ông cho đặt tượng đồng của chính mình, mặc triều phục Mãn Thanh, tay cầm bản đồ, dưới bệ giao long phun nước. Buổi đầu, thương nhân vẫn thích buôn bán ở chợ cũ, chẳng ai chịu dời sang. Mãi về sau, khi chợ cũ xuống cấp, chợ Bình Tây mới thật sự sầm uất. Nay trở thành trung tâm bán sỉ lớn nhất Sài Gòn, hàng hóa tỏa khắp Đông Nam Á.

Năm 1927, Quách Đàm mất. Đám tang ông lớn chưa từng có, người đưa tiễn nối nhau dài như con rồng uốn lượn qua phố thị. Một tục lệ lạ, khách tiễn đi theo vài bước sẽ được dâng tận tay ly nước dừa hay la-ve, ai kiên nhẫn đi xa thêm sẽ được tặng quạt giấy và 5 đồng bạc. Bức tượng đồng của ông về sau bị di dời về Bảo tàng Mỹ thuật, cái bệ đá trống hoác còn lại giữa chợ như một lời nhắc nhở lặng lẽ về những biến thiên của cuộc đời.

NƠI THỜI GIAN VẪN CÒN CƯ NGỤ

Từ những tiệm buôn nhỏ ven đường đến những đế chế thương mại lừng danh, từ những bang hội lặng lẽ thuở ban đầu đến những công trình kiến trúc bền bỉ đứng cùng năm tháng, người Hoa ở Chợ Lớn không chỉ nổi tiếng bởi tài kinh doanh mà còn để lại cho vùng đất này cả một không gian văn hóa hiếm nơi nào có được. Mỗi lớp người đi qua đều góp một viên gạch, một mái ngói, một nếp nghĩ, để rồi Chợ Lớn dần trở thành một phần không thể tách rời của Sài Gòn. Tôi vẫn nghĩ, kiếm tiền là tài năng, nhưng biến nơi mình sống thành một di sản để đời sau còn muốn gìn giữ, mới thật sự là bản lĩnh.

Những hội quán như Ôn Lăng, Hà Chương, Phúc Kiến, Quảng Triệu hay Tuệ Thành không chỉ là nơi thờ tự, mà còn là điểm tựa tinh thần của cộng đồng người Hoa suốt nhiều thế hệ. Đó là nơi đồng hương gặp nhau giữa xứ lạ, nơi những tranh chấp trong việc làm ăn được hóa giải, nơi phong tục, tín ngưỡng và ký ức quê nhà được gìn giữ bằng một sự bền bỉ rất đáng nể. Chùa Bà Thiên Hậu vẫn lặng lẽ đứng đó, như một chứng nhân của bao cuộc đổi thay, để khói nhang mỗi ngày vẫn nối quá khứ với hiện tại bằng một sợi dây vô hình mà bền chặt. Mỗi lần bước vào những không gian ấy, tôi luôn có cảm giác mình đang đi chậm lại giữa dòng thời gian. Bởi có những giá trị càng cũ càng sáng, càng lặng lẽ càng khiến người ta kính trọng.

Dọc theo những con đường Hàm Tử, Hải Thượng Lãn Ông, Triệu Quang Phục hay Châu Văn Liêm, những mái ngói ống phủ màu thời gian vẫn âm thầm kể chuyện. Lớp bụi nâu xám trên từng bức tường không làm phố cũ đi, mà trái lại khiến nơi này có một vẻ đẹp vừa trầm mặc vừa gần gũi, một nét riêng mà tôi nghĩ khó nơi nào khác ở Sài Gòn còn giữ được nguyên vẹn. Khi người Pháp đặt nền móng cho một Sài Gòn mang dáng dấp đô thị phương Tây với những đại lộ rộng và thẳng, thì Chợ Lớn vẫn giữ nhịp sống phương Đông, đông đúc, chật hẹp nhưng luôn rộn ràng sức sống. Một bên là trung tâm hành chính, một bên là trung tâm thương mại.Hai không gian tưởng như khác biệt ấy lại song hành, nâng đỡ nhau để rồi theo năm tháng dần hòa làm một.

Lịch sử cũng ghi lại hành trình ấy bằng nhiều dấu mốc đáng nhớ. Năm 1865, tên gọi Chợ Lớn lần đầu tiên được dùng để đặt cho một thành phố. Đến năm 1882, tuyến xe điện đầu tiên của Việt Nam dài khoảng 5 km nối Sài Gòn với Chợ Lớn chính thức vận hành, mở ra sự kết nối ngày càng chặt chẽ giữa hai đô thị. Năm 1931, chính quyền Pháp hợp nhất Sài Gòn và Chợ Lớn thành Khu Sài Gòn – Chợ Lớn, năm 1951 đổi thành Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn, rồi đến năm 1956 rút gọn thành Đô thành Sài Gòn. Từ đó, cái tên Chợ Lớn không còn là tên một đơn vị hành chính độc lập, mà trở thành cách gọi thân thuộc dành cho khu vực quận 5, quận 6 và một phần quận 11. Cái tên mất đi trên giấy tờ nhưng nó chưa bao giờ biến mất trong ký ức.

Đến hôm nay, Chợ Lớn vẫn giữ vai trò là đầu mối lưu chuyển hàng hóa của cả nước. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng nếu biết gìn giữ và khai thác đúng cách, di sản Chợ Lớn hoàn toàn có thể trở thành một trung tâm du lịch văn hóa đặc sắc, giống như những Chinatown nổi tiếng ở Thái Lan, Malaysia hay Singapore. Tôi rất tâm đắc với một câu nói giản dị: “Vàng để trong quặng thì vẫn có giá, nhưng khi chế tác thành trang sức, giá trị của nó sẽ tăng lên gấp nhiều lần.” Di sản cũng vậy. Nó không chỉ đáng quý vì tuổi đời, mà còn vì cách con người hôm nay biết nâng niu, kể lại và trao truyền cho mai sau. Đến lúc ấy, Chợ Lớn sẽ không chỉ là một phần ký ức của Sài Gòn, mà sẽ trở thành nơi để mỗi người tìm thấy chính mình trong dòng chảy không bao giờ đứt của thời gian.

Nguyễn Đông A

(Kỳ tới: Tùy Bút 2 – CHỢ LỚN – NƠI DÒNG CHẢY KHÔNG BAO GIỜ CẠN)

Bài Mới Nhất
Search