Bay Of Love – Tranh: Bernard Simunovic (Nguồn: www.1stdibs.com)
MỘT
Tôi đã là NÀNG THƠ của ông Sương Biên Thùy
TRẦN THỊ KIM HẠNH
1 – Tôi là nguồn cảm hứng cho ông Sương Biên Thùy viết bài tùy bút, “những điều nói với Kim Hạnh” đăng trên tuần báo Nghệ Thuật của nhà văn Mai Thảo, năm 1965.
Sau khi có được chỗ ngồi trên chiếu văn chương của nhà văn Mai Thảo, cùng với đôi mắt tôi, nụ cười tôi, và sự ấm áp nơi kín đáo tôi, ông Sương bốc tối đa, có mặt hầu như các tạp chí bấy giờ.
Tôi cũng là nguồn cảm hứng cho ông Sương Biên Thùy làm các bài thơ /Trên Đồi Trà Thử Thả Hồn Chút Chơi/ Bên Nay Bên Kia Núi Chứa Chan/ Thơ Tình Mùa Hạ/ Trong Tù Sờ Râu và nhiều bài thơ, tùy bút khác.
Vậy trong gia tài văn chương của ông Sương Biên Thùy, cũng có sự góp sức của cô sinh viên văn khoa, là tôi, Trần Thị Kim Hạnh, chứ bộ.
2 – Mùa hè năm 1965, khi tôi thấy gã tại trại hè “công trường thanh niên tự do,” tại Gò Vấp, là tôi biết gã không thoát khỏi được tay tôi.
Khi tôi gọi điện mời gã xem phim “YÊU LÀ KHỔ,” gã vui vẻ, ngoan ngoãn nhận lời.
Vậy là tôi biết, tôi là ai.
Cũng như tôi biết, gã đang say tình như con nhạn là đà, mà tôi là hướng gã chúi mũi, đâm đầu vào.
Ngồi trong rạp, gã bóc kẹo cho tôi ăn và đưa kẹo cho tôi bằng hai ngón tay, ngón trỏ và ngón giữa, của bàn tay phải.
Tôi ngồi bên trái.
Tôi ngồi bên trái, là tạo chiến trường cho gã dễ dàng mở cuộc đao binh.
Nhưng là một cậu học trò tỉnh lẻ, nên ông Sương đại cù lần.
Sau này tôi hỏi gã, tại sao vậy?
Gã nói đưa nguyên bàn tay, sợ vụng về, lỡ chạm vào “vùng cấm địa” của tôi.
Đúng là cù lần.
Gã không nhìn lên màn hình mà gã luôn nhìn vào tôi.
Tôi hỏi gã sao vậy?
Gã nói, gã nhớ một đoạn văn trong truyện ngắn LÊN MỘT CHIẾC CẦU, QUA MỘT CÁI DỐC của nhà văn THAO TRƯỜNG, cũng có một tình huống như thế.
Và người con trai trả lời: “Anh không thích cuộc đời trên đó. Anh thích cuộc đời dưới này. Trong đôi mắt em có anh.”
Đó là mùa hè năm 1965.
3 – Sau buổi xem phim đó, gã về Nha Trang. Tôi lại Saigon, lòng nhớ gã quay quắt.
Trong lá thư đầu tiên cho gã, tôi nhớ là mình đã viết:
“Đôi mắt người đàn ông sao mà đẹp thế. Đôi mắt nhìn làm chết lòng người ta.
Bây giờ sóng biển Nha Trang vỗ về và những tà áo trắng, chắc CHÍNH đã quên HẠNH ở Sài Gòn.”
4 – Năm 1967, chúng tôi về chung một nhà, nói như ngôn ngữ bây giờ.
Và cuộc sống gia đình, đã không như mơ.
Sau 30/4/1985, cả hai đi cải tạo.
Năm 1988, chúng tôi chia tay, đồng thuận chia tay CHIẾN LƯỢC, để tôi đưa các con sang Mỹ trước.
Nhưng rồi, ông ở lại, ông “cuỗm” một cô gái Huế.
Cuộc chia tay từ CHIẾN LƯỢC biến thành chia tay CHIẾN THUẬT.
May quá, nhờ vậy tôi thoát ông.
5- Hôm gặp nhau lần đầu tiên trên đất Mỹ, hai chị em chúng tôi ôm nhau, trước sự ngỡ ngàng của các con, các cháu và cả ông nữa.
Lỡ dại, dan díu với các ông làm thơ, đành chấp nhận thôi.
Kiếp sau, nếu có kiếp sau, tôi cũng sẽ ngã vào vòng tay của ngài thi sỡi, tự khùng.
TTKH.
HAI.
Ba mươi năm qua, tôi sống như trong mơ.
BÙI PHƯƠNG ĐÔNG
Huế, những năm đầu thập niên 1980, là Huế te tua.
Chính vì sự te tua ấy của Huế, mà nhiều người bỏ Huế ra đi, mà tôi là một.
Nhưng có lẽ, trường hợp tôi, là định mệnh, nếu như có thật một định mệnh cho một kiếp người, hay là ân sủng từ Thượng Đế, mà tôi được ngài trao ban.
Bỏ te tua Huế vào Sài Gòn là bước thứ nhất.
Rồi chỉ một nốt nhạc theo sau, bước thứ hai, tôi bỏ Việt Nam bay qua Mỹ, tới nay, vừa chẵn 30 năm.
Mấy năm nay, tôi nghỉ hưu.
Tôi có nhà, có xe, có hai cô con gái đã xong đại học, cháu lớn là pharmacist, đang làm quản lý cho nhà thuốc CVS bên Austin, Texas.
Cháu hai, cô giáo high school.
Còn chú Chính, ông chủ quán BÊN ĐƯỜNG ngày xưa của tôi, cô gái Huế, giờ chỉ còn hai việc để làm ở tuổi 82, là rửa chén bát và viết văn, làm thơ.
Trở lại chuyện đời tôi.
Vào Sài Gòn, tôi làm thợ may cho một công ty gần quán chú.
Mỗi lần đạp xe ngang qua, nhìn chú, là tôi đã thấy chú ngộ ngộ.
Chú có vẻ đẹp đàn ông, lãng tử, nghệ sĩ, với mái tóc phiêu bồng.
Nhân dịp công ty hết hợp đồng, công nhân thất nghiệp.
Tôi quyết định hiện ngang, hùng dũng, can đảm, đến gặp chú xin việc làm.
Chú nhìn tôi, trên xuống, dưới lên, trái phải, rồi nói OK.
Tôi như người trúng số độc đắc Ái Tình, khi nghe chú phán OK.
Vì trước nay, tôi mê vẺ đẹp nghệ sĩ của chú.
Chú tưởng người Huế, ai cũng biết nấu bún bò Huế, khi chú hỏi tôi biết nấu bún bò Huế không.
Hẳn nhiên tôi ừ đại, mặc dù tôi có biết cái chi mô nà.
Chú đưa tôi 40,000, để mua soong và giò heo và bún, gia vị,
Cho kịp ngày mai, tốt ngày khai trương món bún bò HUẾ, RẤT HUẾ, mà chú đã viết lên tấm bảng đen treo trước quán.
Buổi chiều, tôi vệ sinh, luộc giò heo chuẩn bị cho sáng hôm sau.
Tôi để giò heo lên chiếc bàn thấp cạnh bếp, lấy vật dụng đậy kín và vài thanh củi dằn lên trên, nghĩ như thế là yên tâm.
Nào ngờ sáng hôm sau ra quán, trông như một buổi chợ chiều chưa dọn dẹp.
Bàn theo đằng bàn, củi theo đằng củi, giò heo nằm vương vãi giữa đất chỉ còn xương và da.
Thấy tôi gom những cục xương còn lại, chú bảo vất đi, rồi đưa tiền mua số giò heo khác.
Lần đó, tôi nghĩ mình sẽ bị mất việc. Nhưng không, vì chú có trái tim bồ tát.
Hôm đó, cũng kịp khai trương món bún bò HUẾ RẤT HUẾ.
Nhưng rồi ngày đó cũng như những ngày sau, thực khách chỉ có chú, hai đứa con của chú, tôi và một ông hàng xóm, chẳng biết đến để ăn bún bò hay để dê cô bán bún bò.
Tuổi thọ của món bún bò, rất Huế, chưa tới 30 ngày.
Lúc này, vợ con chú đã sang Mỹ, nên tôi tự cho mình là nữ Tướng .
Trước ngày chú đưa tôi đi làm hôn thú, tôi thấy có nhiều bà đến đến chở chú đi chơi.
Xe Honda, trước giỏ, bánh mì, vịt quay.
Bà nào cũng xinh đẹp, giàu có, tôi sống trong thấp thỏm, âu lo.
Theo chú và tôi tin, có bà gạ giá 10, 20 lượng vàng, nhưng chú vẫn chọn tôi.
Âu là tôi có số hưởng.
BĐP.
BA.
Tôi tự hào về bố tôi.
Lê thanh Phong,
Ông là nhà thơ Sương biên Thùy,
khi mới quen mẹ tôi, theo mẹ tôi nói, ông đẹp trai, lãng tử với mái tóc phiêu bồng.
Cũng theo mẹ tôi, khi nhìn thấy ông lần đầu, mẹ tôi đã chao đảo vì nhan sắc ông, nhan sắc của một thi sĩ.
Cũng theo mẹ tôi, ông yêu mẹ tôi lắm.
Bằng chứng cho điều này, là mẹ tôi, là nguồn cảm hứng cho ông làm thơ, viết văn.
Sau ngày có mẹ tôi bên đời, ông sáng tác rất hung.
Văn, thơ ông xuất hiện trên nhiều tạp chí trước năm 1975.
Nghĩ rằng, theo cổ nhân, “hổ phụ sinh hổ tử”, nên đôi lần tôi cũng tạp tễnh làm thơ như ông.
Thấy ông làm thơ như nói chuyện, nói chuyện như làm thơ, nên tôi cũng làm theo.
Tôi nói chuyện, không thành thơ và làm thơ, cũng không thành thơ.
Nhiều lần, sau khi làm xong, đọc lại, tôi thấy vô duyên, chẳng có chút nào, cảm xúc.
Tôi đành bỏ tham vọng làm thi sĩ như ông, đi làm chủ tiệm nail.
Tôi một tiệm, em tôi một tiệm.
Và, nhờ làm chủ nail, tôi và em tôi, mới có tiền cho ông in sách, tặng bạn bè, vì đó là thú vui của ông.
Nghĩ rằng, cha mình không sống bao lâu nữa, theo luật trời, nên ông muốn chi, anh em tôi đều chiều.
Thơ ông hay, thì bạn bè, đồng nghiệp ông đã xác nhận, tôi không nói thêm.
Thấy ông được nhiều người trong văn giới ngợi khen, tôi cũng thấy tự hào, hãnh diện vô cùng.
“Một thi sĩ tài hoa, đặc dị, hiếm có.”
( thi sĩ Nguyễn Hàn Chung)
Bố ơi, gắng chơi tới 100 niên, nghe Bố.
LTP.
