
Các Tượng Gỗ của Tô Bích Hải (Nguồn: dantri.com.vn)
Dẫn: Nhà thơ Nguyễn Duy vừa có bài văn tế 10 loại nhà phê bình văn học. Đọc cười ngất ngư. Khen Nguyễn Duy có mà khen cả đời!
Và học mót Cụ Duy làm bài này.
Ai óc não tinh tế thì bỏ qua
—-
Ngày khai trường trùng tiết tháng Bảy,
Khắp ba miền biết mấy hân hoan.
Sắn đây ta lập đàn tràng,
Tế văn một khúc “giải oan” mười loài.
Mười ngọn nến ngời ngời cháy sáng,
Mười nén nhang bảng lảng khói bay.
Tế văn xin được tỏ bày,
Tâm tư muôn nỗi của thầy của cô.
1.
Có loại thầy mười bồ bụng chữ,
Nhưng u mê lẫn lú…bậc thầy.
Y như là cái cối xay,
Một đời múa lưỡi vần xoay kiếm tiền.
2.
Có loại thầy mắt la mày lém,
Cả một đời liên liến ba hoa.
Suốt ngày hóng hớt gần xa,
Tìm nơi xu nịnh tặng quà cầu thân.
3.
Kìa những thầy xa gần đều thấy
Đủ trò mèo che đậy lòng tham.
Chắp tay khi thấy cấp trên,
Còn như cấp dưới chẳng thèm bận tâm.
4.
Có loại thầy máu dâm Bùi Kiệm,
Lợi dụng nghề để kiếm…tỉnh tinh.
Không cần giỏi chỉ cần xinh,
Học hành thì ít yến anh thì nhiều.
5.
Có loại thầy điêu điêu trá trá
Bất ngờ chưa học giả lẫy lừng.
Nhưng là thánh tổ đạo văn,
Than ôi! Trước tác đẳng thân còn gì?
6.
Kìa có thầy học thuê viết mướn,
Nào ai cần luận án luận văn.
Ô kê! Luôn rất sẵn sàng,
Chỗ thầy có đủ loại hàng! Ô kê!
7.
Có loại thầy chuyên nghề…chỉ điểm
Nơi nào đông là kiếm chỗ ngồi.
Dỏng tai “phát hiện” tăm hơi,
Và đem tâu bẩm với người…cấp trên.
8.
Kìa có thầy ma men – đệ tử
Kìa dáng hình lử khử như ma.
Rượu vào ắt lời phải ra,
Huyên thuyên bài giảng la đà huyên thuyên.
9.
Lại có thầy hốt nhiên ngộ đạo,
Kể từ ngày có áo nhà chùa.
Thế là bao lớp học trò,
Nghe thầy “buông bỏ” mộng mơ Nát Bàn.
10.
Kìa có thầy gàn gàn hâm hấp,
Luôn thấy mình là nhất thế gian.
Mơ màng tiếp nối mơ màng,
Nhung nhăng thơ phú làng nhàng chuyên môn.
Ồ tiếng trống khai trường đã gọi
Điểm nghẽn còn bao nỗi chua cay.
Tế văn điểm mặt mười thầy,
Hương đăng quả thực xin bày một mâm.
Nào tống tiễn! Lâm râm cầu Phật,
Nào đào sâu chôn chặt cả mười.
A tỳ ngục tối muôn đời,
Nhốt vào nơi ấy các người sướng chưa?
Mùa tựu trường không mưa sùi sụt,
Thế mà sao lạnh buốt tâm can!
Này đây đàn tế sẵn sàng,
Thập loại nhà giáo tìm đường cút đi!
Nào đồng lòng cứu nguy phò khốn,
Nổi trống lên gió cuốn mây bay.
Tế văn hay thật là hay,
Đọc xong mà thấy đắng cay thế nào…
THẬP LOẠI THI NHÂN TẾ VĂN
Tiết tháng Bảy năm nay quái lạ
Khắp ba miền xối xả…mưa tuôn.
Nước dâng ngập phố ngập phường,
Nhìn thôi mà thấy thê lương não lòng.
Đêm tịch mịch mơ mòng thức tỉnh,
Nghe Vua Hùng điềm tĩnh phán rằng.
Hỏi nhà ngươi có biết chăng,
Thì nghe ta! Chớ hung hăng cối chày.
Đặng Tiến tôi chắp tay cúi mặt,
Lời Vua Hùng dìu dặt ôn tồn.
Trời làm xối xả mưa tuôn,
Là do Thi Quốc à uôm thôi mà.
Cả thế giới người ta…công nghệ,
Riêng nước mình xập xệ, nhũn nhèo.
Nhìn kìa thi cuốc liêu xiêu,
Buồn tênh như cảnh chợ chiều! Buồn tênh.
Lời Vua phán! Thất kinh! Tỉnh giấc,
Lập đàn tràng gấp gấp sắp bày.
Hương đăng quả thực đủ đầy,
Soạn bài văn tế đọc ngay tức thì.
Nam mô Đức Phật từ bi,
Lòng thành, con muốn tiễn đi mười loài.
Lượng hải hà như trời như bể,
Con giải trình cụ thể ! Phật nghe.
Dông dài góp nhặt lời quê,
Rập đầu nguyện Phật không chê là xằng.
Trước Phật đài nhung nhăng con tấu,
Nhà thơ nhiều như trấu! Như rơm…
Tài hèn con cũng xin gom,
Thành ra mười loại! Đóng hòm gửi theo
1.
Kìa có loại như mèo bắt chuột,
Rất hung hăng móng vuốt kiểu mèo.
Thơ ca ăn xó mó niêu,
Ngôn từ tủn mủn mĩ miều rỗng không.
2.
Kìa là loại khật khùng ngô ngọng
Thơ loang choang như giọng thằng say.
Giả khờ giả dại giả ngây,
Ai chê! Chửi lại! Nắm tay! Méo mồm…
3.
Kìa là kẻ muốn ôm…đại sự
Viết trường ca bất cứ lúc nào.
Ca công, tụng đức. Giọng cao,
Trường ca cúng cụ! Ai nào đọc đâu.
4.
Kìa là kẻ vò đầu bứt tóc,
Viết thơ mà khóc nhọc như cầy.
Vặn vẹo chữ nghĩa! Thật gay,
Chẻnh chao, ma mị, liêu trai…hết hồn.
5.
Lại có kẻ luôn mồm đổi mới
Thơ đọc lên thối thối khai khai.
Toàn là những chuyện bài nhài,
Mới y như cũ chẳng sai chút nào.
6.
Kìa là nàng xôn xao ong bướm
Thơ ái tình! Thật gớm thật ghê.
Ái tình? Là ái tình gì,
Chuyện chăn gối, chuyện phòng the…Ngoại tình.
7.
Lại có kẻ rình rình rập rập,
Bắt làm quen khắp mặt báo đài.
Viết thơ báo tết thật vui!
Thơ xi rô! Rất đậm mùi xi rô.
8.
Rất là đông bọn thơ các cụ,
Ngẩn ngơ già vui thú làm thơ.
Nghêu ngao kèn – trống – đèn – cờ
Học đòi Đường luật vật vờ ca dao.
9.
Kìa những kẻ quyền cao chức trọng,
Tiền quá nhiều võng lọng đủ đầy.
Bị chê trọc phú! Căm thay,
Học làm sang! Quyết phen này làm thơ!
10.
Loại thứ mười mặt trơ trán bóng
Thơ cúng phây…để hóng lai ke!
Thơ chôm thơ chỉa thường khi,
Bốn chấm không (4.0) thơ cọp py hơi nhiều.
Lạy Chư Phật! Một điều con ước,
Ban phép màu thi cuốc tiêu tan.
Mười loài con kính con dâng,
Cao đăng Phật quốc Tây Phương gọi về.
Nơi thi cuốc bờ mê bến lú,
Mười loại này cư trú đã lâu.
Nhân dân nắng giãi mưa dầu,
Danh xưng thi cuốc ra màu trêu ngươi.
Lời khấn nguyện một hơi vừa dứt,
Bốn phương trời rực rực bão giông.
Gió mưa sấm sét đùng đùng,
Thi nhân mười loại cùng chung một thuyền.
Nhằm thẳng hướng Tây phương cực lạc,
Cõi Nát Bàn múa hát miên man.
Thơ thì mặc sức mà làm,
Chênh chao, ma mị, càm ràm…Tùy duyên.
Nam mô Phật!
Nam mô Pháp!
Nam mô Tăng!
Đường xa!
Bát Nhã!
Con rằng
Nam mô!
Đặng Tiến (Thái Nguyên)